[{"data":1,"prerenderedAt":28},["ShallowReactive",2],{"metaeast_zhouyigaodaoyd_vn-gaodaoyiduan-48":3},{"slug":4,"archived":5,"date_created":6,"date_updated":7,"title":8,"seotitle":9,"seodescription":10,"htmlcode":11,"number":12,"content":13,"title1":14,"content1":15,"title2":16,"content2":17,"title3":18,"content3":19,"title4":20,"content4":21,"title5":22,"content5":23,"title6":24,"content6":25,"title7":26,"content7":26,"seo_keywords":27,"og_title":8,"og_description":10},"gaodaoyiduan-48",false,"2026-08-11T01:18:27.615Z","2026-07-04T14:35:16.000Z","Thủy Phong Tỉnh: Tỉnh: Đổi ấp nhưng không đổi giếng, không mất không được, người đi kẻ lại đều dùng giếng. Gần đến nơi mà vẫn chưa thả dây xuống giếng. Làm vỡ bình thì xấu.","Takashima Ekidan, quẻ thứ 48: Thủy Phong Tỉnh — nguyên văn quái từ, giải quẻ và đoán quẻ | Thư viện Huyền học phương Đông","Giải quẻ Thủy Phong Tỉnh, quẻ thứ 48, trong Takashima Ekidan: Quái từ nói: “Tỉnh: đổi ấp, không đổi giếng; không mất không được, người qua kẻ lại ở giếng. Gần đến giếng mà vẫn chưa thả dây xuống giếng; làm vỡ gàu, hung”, kèm phần giải thích chi tiết lời đoán và các trường hợp thực chiêm.","&#19951;",48,"Tỉnh: Đổi ấp nhưng không đổi giếng, không mất không được, người đi kẻ lại đều dùng giếng. Gần đến nơi mà vẫn chưa thả dây xuống giếng. Làm vỡ bình thì xấu. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 48　Thủy Phong Tỉnh \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Thể quẻ là Khảm trên, Tốn dưới. Tốn tượng gió, cũng tượng gỗ; gió giỏi luồn vào, gỗ giỏi đưa ra. Tốn ở dưới Khảm, vừa đi vào nước vừa có thể đưa nước ra, nên có tượng giàn kéo nước. Khảm tượng nước, cũng tượng hang hốc; nước từ hốc đất chảy ra chính là giếng. Quẻ này do Khốn biến đến; Khốn thì đầm cạn, nên “không có nước”, ngược lại thì có nước. Khảm còn tượng sự bằng phẳng; không gì bằng phẳng hơn mặt nước trong giếng. Vì vậy quẻ này được gọi là Tỉnh. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tỉnh: Đổi ấp nhưng không đổi giếng, không mất không được, người đi kẻ lại đều dùng giếng. Gần đến nơi mà vẫn chưa thả dây xuống giếng; làm hỏng bình thì xấu. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ▲ Kim văn: Tỉnh \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Tỉnh” nghĩa là thông suốt, là thứ được muôn vật cùng dùng. Thời xưa, hễ xây dựng đô ấp thì nhất định phải đào giếng để nuôi dân; dù đô ấp có dời đổi, chế độ của giếng vẫn không đổi. Người ta nhờ giếng mà được nuôi dưỡng, nhưng giếng không vì thế mà hao tổn, nên nói “không mất”. Giếng nuôi người nhưng không vì thế mà nhận công, nên nói “không được”. Chỉ thấy người đi cứ đi, người đến cứ đến; người được nuôi từ giếng cũng chưa từng quy công cho giếng. Dây dùng để kéo vật xuống, bình dùng để chứa rồi đưa vật lên. Nếu dây chưa hạ mà bình đã hỏng, giếng trở thành vật dựng lên vô ích, dây cũng chỉ treo lơ lửng vô ích. Vì vậy nói “xấu”. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Thoán truyện nói: Tốn đi vào nước rồi đưa nước lên; giếng nuôi dưỡng mà không cùng tận. Đổi ấp nhưng không đổi giếng là vì có tính cứng ở trung tâm. Gần đến nơi mà vẫn chưa thả dây xuống giếng là chưa lập được công. Làm vỡ bình, vì vậy xấu. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Gỗ của Tốn đi vào nước, nên lấy tượng giàn kéo nước. Theo Trang Tử, đẽo gỗ làm máy, phía sau nặng phía trước nhẹ, nâng nước lên như kéo nước ra; gọi là cao. Đó là guồng hoặc ròng rọc kéo nước trên giếng, vì vậy nói “Tốn vào nước mà đưa nước lên”. Tốn tượng dây nên có tượng dây kéo; Khảm tượng rỗng nên có tượng bình. Dùng dây buộc bình để kéo nước lên. Giếng có nước, lấy mãi không cạn, nên nói “giếng nuôi dưỡng mà không cùng”. Thể quẻ gồm ba Âm ba Dương vốn từ Càn Khôn mà ra. Khôn tượng ấp; Ngũ của Khôn biến thành Khảm thì thành giếng. Giếng thành, ấp của Khôn thay đổi nhưng giếng của Khảm không đổi, nên nói “đổi ấp nhưng không đổi giếng”. Truyện nói “cứng ở giữa”, tức theo Thoán truyện của Khảm; cứng ở giữa chỉ hào Ngũ của Khảm, “không đầy, chỉ bằng”. Đó là căn cứ khiến giếng là giếng. Nhưng giếng không thể tự mình nuôi dưỡng; phải có người múc thì công năng nuôi dưỡng mới hiển lộ. Dây kéo nước xuống, bình chứa nước rồi đưa lên; dây và bình là dụng cụ chủ yếu để múc nước. Đến giếng mà chưa hạ dây thì giếng thành vật bày ra vô ích, có công gì đâu? Nếu bình lại hỏng thì dây cũng vô dụng, điềm xấu đã rõ. “Ngật” nghĩa là gần, “duật” nghĩa là dây, “luy” nghĩa là bình có móc. Hệ Từ truyện nói “giếng là đất của đức”, lấy sự nuôi dưỡng làm ý. Sự nuôi dưỡng không cùng tận của giếng ví với việc chính của bậc vương giả là nuôi dân. Múc giếng cốt để được nước, trị nước cốt để được lòng dân; không thể giữa đường đột ngột dừng lại, bỏ phí toàn bộ công lao. Mạnh Tử nói đào giếng mà chưa đến mạch nước vẫn là bỏ giếng, cũng chính là ý này. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lấy quẻ này để xét việc người, “Giếng” là tiết chế. Giếng tiết chế nước để dự phòng việc nuôi dưỡng, cũng như con người tiết chế tiền của để dành dùng khi cần. Đất nước có lúc trị, lúc loạn; thành ấp cũng theo đó mà thay đổi, còn giếng thì vẫn ở nguyên chỗ cũ. Người ta đến múc nước mà không được gì, không múc cũng chẳng mất gì; đối với “Giếng”, vốn không liên quan đến được mất. Việc con người xử lý tiền của cũng vậy. Tôi từng nghe chuyện có người vì người mà bỏ của, chứ chưa từng nghe có người vì của mà bỏ người. Kẻ vơ vét rồi đi là đi vì tiền của, người vui vẻ tìm đến cũng là đến vì tiền của. Tiền của ở trong đất, mặc cho người ta lấy mà không cạn, cũng như nước ở trong giếng, mặc cho người ta múc mà không hết. Nhưng múc nước không thể chỉ đi bằng tay không. Thể quẻ có nước Khảm ở dưới và cây Tốn ở trên; nước Khảm là giếng, cây Tốn là đòn gầu, Tốn cũng là dây thừng. Quẻ hỗ Ly là cái bình, Đoài là miệng bình, tức miệng giếng. Nghĩa là dùng đòn gầu kéo bình bằng dây, hạ xuống miệng giếng, múc nước rồi đưa lên. Câu trong Thoán truyện “vào trong nước mà đưa nước lên” chính là tượng của quẻ Giếng; ở đâu cũng không thay đổi là đức của giếng. Nếu dây giếng chưa được thả xuống thì không thể đưa nước lên, giếng không làm nên công dụng; nếu bình đã yếu nát, thế sắp rơi xuống giếng, người múc nước sẽ gặp hung. Thoán truyện nói về quẻ Giếng, nhưng không chỉ nói riêng về cái giếng. Phàm mọi việc trong thiên hạ biết tiết chế nguồn và khai thông dòng chảy đều có thể nhìn theo ý nghĩa của quẻ Giếng. Trong quẻ, hào năm của Khôn biến thành Khảm, hào đầu của Càn biến thành Tốn. Càn là công dụng; cái được dùng có lợi là tiền của, cái làm dày thêm đời sống là sự nuôi dưỡng, tất cả đều là điều thiết yếu trong việc người. Có sự nuôi dưỡng mà không biết nuôi dưỡng cái gì thì giếng gần như thành vật rỗng; có tiền của mà không biết dùng thì cuối cùng tiền của cũng hóa thành tiêu phí vô ích. Đó không phải lỗi của tiền của, mà là do con người không biết lấy dùng cho đúng. Vì vậy người quân tử “làm cho dân lao động, khuyên họ tương trợ”, nhằm khai thông nguồn và dòng cho thiên hạ. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lấy quẻ này để xét quốc gia, chữ “Giếng” có nghĩa là nuôi dưỡng. Căn cứ vào điều dân cần để nuôi sống mình mà nuôi dưỡng họ, nhưng giếng không tự biết mình đang nuôi dưỡng. Bậc vương giả dùng đức để nuôi dân, căn cứ vào điều dân được lợi mà làm lợi cho dân, nhưng vương giả chưa từng nói đến lợi. Tốn là vào, Khảm là tín, Giếng là tĩnh. Vì vào nên thông, nguồn cung không cạn; vì tín nên sâu, đổi thay mà không dời; vì tĩnh nên yên, ứng đáp mà không nhọc. Đó là đức của sự cứng mạnh ở trung vị. Người quân tử noi theo đức của giếng: lấy cái sâu như vực thẳm để tu dưỡng bản thân, lấy khả năng múc nuôi để ban ơn cho dân. Đẩy từ mình đến dân, lợi ích ắt lan khắp. Tuy nhiên, người quân tử có đủ đức ấy nhưng gặp thời hay không gặp thời thì phải để trời quyết định. Giếng có thể nuôi người, nhưng có ai múc hay không lại tùy ở người. Trong đó có được có mất, có cát có hung; con người tự chuốc lấy. Đức của người quân tử chắc chắn không vì vậy mà thay đổi. Dụng cụ múc nước gồm dây và bình: dây đi xuống, bình đi lên, cơ chế rất nhanh nhạy. Nếu bỏ đi không dùng thì dụng cụ hư hỏng, giếng cũng bị bỏ phế. Công cụ trị nước nằm ở đức và lễ: dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để chỉnh tề, sự giáo hóa rất thần diệu. Nhưng nếu buông lỏng, không duy trì, công cụ hỏng thì chính sự cũng hỏng theo. Vì vậy người làm ra Kinh Dịch răn bằng việc không thành công, cảnh báo bằng điều có hung; đồng thời cũng hết sức tiếc cho những người để công nghiệp hoang phế khi chỉ còn cách thành công một bước. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Xét toàn thể quẻ này, “Giếng” đối lập với “Khốn”. Tự quái truyện nói: “Kẻ bị khốn ở trên ắt phải trở về dưới, nên tiếp theo là Giếng.” Tạp quái truyện nói: “Giếng thông, còn Khốn gặp nhau.” Đổi vị trí thì thành “Hoán”; truyện của Hoán nói “cưỡi trên gỗ thì có công”. Giếng lấy đòn bẩy múc nước mà không lấy thuyền, bởi công dụng của cả hai đều dùng tượng Tốn Mộc. Bàng thông là “Phệ Hạp”; Phệ Hạp nghĩa là nuôi dưỡng, có ý giếng nuôi dưỡng. Hạ quái là “Cách”, Cách nghĩa là thay đổi, có tượng “thành ấp thay đổi nhưng giếng không thay đổi”. Tóm lại, “Giếng” là giếng, múc mãi mà không cạn. Công dụng của nó ở sự nuôi dưỡng; được đất mà không đổi. Đức của nó ở chỗ cứng mạnh mà ở trung vị; có múc hay không múc thì giếng vốn không được không mất. Bên này múc, bên kia cũng múc, tất cả tùy người qua lại. Nếu bỏ dây, làm hỏng bình rồi cho rằng giếng không thể dùng để ăn uống, thì chính mình đã tự bỏ giếng. Giếng không có lỗi, nhưng người múc gặp hung. Toàn tượng của quẻ lấy Khảm Thủy làm chủ, tượng cho bên trong giếng; chỗ trống của Âm tượng cửa múc nước. Hào Âm đầu ở dưới nên là “bùn trong giếng”; hào hai nâng đỡ hào Dương nhưng không có tượng Khảm nên là “giếng hỏng rò rỉ”; hào ba đắc vị, ứng với hào trên nên là “nhận phúc”; hào bốn tu đức, sửa lỗi nên là “xây thành giếng”; hào năm cứng mạnh, Dương, ở giữa và chính đáng nên là suối nước tốt đẹp; hào trên hoàn tất công nuôi dưỡng nên là “giếng được múc”. Xét theo thời tiết, đầu Tốn vào lúc giao mùa xuân hạ, nước lũ đục nên giếng có bùn; hào hai vào mùa hạ của Ly, nước có nhiều cá. Hào ba và bốn thuộc mùa thu, nước thu trong. Hào ba là Khôn nên suối rò ra trên mặt đất; hào bốn là Đoài nên có tượng hư hỏng, gãy đổ. Hào năm và hào trên thuộc mùa đông nên giếng lạnh và trong vắt; hào trên kết thúc Khảm, là sự hoàn tất công dụng nuôi dưỡng của nước. Nói chung, Khảm Thủy ở hạ quái chảy về đông nam, trái thời và không gặp thời cơ nên không cát; nước ở thượng quái trở về tây bắc, được phương vị nên phần nhiều là cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Nước ở trên cây là Giếng. Người quân tử noi theo đó mà làm cho dân lao động và khuyên họ tương trợ lẫn nhau.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Khảm là nước ở trên, Tốn là cây ở dưới, tượng là “cây ở trên có nước”, tức tượng mà Thoán truyện gọi là “vào trong nước mà đưa nước lên”. Người quân tử xem xét tượng ấy, tu dưỡng đức của mình, nhờ đó “làm cho dân lao động và khuyên họ tương trợ”. “Lao” là dùng sức dân; “khuyến” là khuyên bảo, dẫn dắt; “tương” là giúp đỡ lẫn nhau. Khảm là quẻ của lao động; quẻ hỗ Đoài là vui, nên dùng niềm vui để khiến dân lao động. Đoài cũng là miệng, Tốn là đồng lòng và giao kết, có tượng cùng tâm giúp đỡ nhau, nên nói “tương”. Dân trong thiên hạ vô cùng, sức một người khó thể nuôi dưỡng chu toàn. Vì vậy người quân tử làm cho họ cùng lao động, khuyên họ tương trợ, khiến các xóm giềng và thân tộc gần gũi, người nghèo cùng người gặp hoạn nạn cứu giúp nhau. Ông chỉ dẫn, khuyến dụ và nâng đỡ họ, để hoàn thành đạo cùng sinh tồn và nuôi dưỡng lẫn nhau. Như vậy, việc nuôi dân được chu toàn và đầy đủ, không một ai bị bỏ sót khỏi sự nuôi dưỡng. Đó chính là ý “Giếng nuôi dưỡng mà không cạn”. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi vận thời: Hiện nay đang vào vận Mộc Thủy tương sinh, rất thích hợp để cùng giúp đỡ nhau mà thành việc. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi chiến tranh: Có tượng nước dập tắt cây, thủy quân gặp nguy. Nên dốc sức tương trợ, có thể thoát hiểm. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi công danh: “Nước ở trên cây” có tượng được mưa xuân làm phát triển, công danh có thể mong đợi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi kinh doanh: Có tượng lợi nhuận vượt quá vốn, cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi nhà cửa: Xà cột nhà này e có mối lo ẩm ướt mục nát, nên gấp rút sửa chữa. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi hôn nhân: Khảm là nam, Tốn là nữ; nam ở trên nữ, là chính đạo của âm dương, cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi bệnh: Thận thủy bỗng tràn, nên gấp rút điều trị điều hòa. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.","Sơ lục: Bùn giếng không thể dùng; giếng cũ không có chim.","Sơ lục: Bùn giếng không thể dùng; giếng cũ không có chim. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Bùn giếng không thể dùng” là vì ở phía dưới. “Giếng cũ không có chim” là vì bị thời thế bỏ rơi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Giếng cũ” là giếng đã hư hỏng và không được sửa chữa. “Cầm” chỉ trục của guồng kéo, dùng để vận chuyển dây; vì trên trục khắc hình chim nên gọi là “chim”. Có người cho rằng âm thanh của trục quay giống tiếng chim kêu. Hào đầu ở vị trí thấp nhất, tượng đáy giếng; nước đã cạn, bùn nhơ, nên nói “bùn giếng không thể dùng”, trở thành giếng bỏ phế. Giếng bỏ lâu ngày sinh độc nên người ta không uống. Giếng đã phế thì trục guồng hình chim cũng mục nát rồi mất đi, nên nói “giếng cũ không có chim”. Tượng truyện dùng chữ “ở dưới” để giải thích “bùn giếng”, nghĩa là bùn ở đáy nên không thể dùng; dùng chữ “bị thời bỏ” để giải thích “giếng cũ”, nghĩa là giếng đã cũ hỏng nên bị thời thế bỏ rơi. Theo Lỗ ngữ, câu “lấy cá có tên, lên đến loài chim sông”, Vi Chiêu chú rằng chim sông là loại ngao, sấn. Dịch lâm, quẻ Độn biến thành quẻ Giếng, nói: “Sông già trống rỗng, giếng cũ không có cá.” Vì vậy, giải thích “không có chim” là các loài sấn, hàu, cá, ếch cũng có căn cứ văn bản. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi vận thời: Thời đã qua, vận suy, không được đời dùng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi chiến tranh: Có mối lo binh khí mục cũ, không thể chế thắng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi kinh doanh: Hàng hóa cũ hỏng, không thể buôn bán. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi công danh: Tuổi đã cao, không được dùng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi bệnh: Đây là bệnh cũ, không trị được. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi hôn nhân: Nhân phẩm thấp kém, dù là thân thích cũ cũng không thành. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi kiện tụng: Ắt không được lẽ phải. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi lục giáp: Sinh con trai, đề phòng khó nuôi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Một người bạn đến xin bói khí vận, được quẻ Giếng biến thành quẻ Nhu. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Đoán rằng: Giếng đã cũ, có bùn mà không có chim, là giếng bỏ phế. Đối với con người, đó là vận lui, thời suy, tất sẽ bị bỏ rơi và không được dùng. Người xem được quẻ này. Biết rằng phẩm hạnh thấp kém, bị người đời ruồng bỏ, khó mong có ngày tiến thân và được trọng dụng. Hào đầu ứng với hào bốn; giếng cũ của hào đầu nếu được hào bốn sửa sang thì có thể không lỗi. Nay ngài vẫn như giếng cũ, cam chịu nhục nhã trong bùn, không tự hối cải đổi thay, nên cuối cùng sẽ bị thế gian bỏ rơi, không thể được dùng lại.","Cửu nhị: Ở hang giếng bắn cá nhỏ; vò đã hỏng và rò rỉ.","Cửu nhị: Ở hang giếng bắn cá nhỏ; vò đã hỏng và rò rỉ. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Ở hang giếng bắn cá nhỏ” là vì không có ai cùng hợp tác. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Hang giếng” là huyệt suối. Hán thư, Câu dặc chí nói: “Dưới giếng thông với nhau, dẫn nước đi, gọi là tỉnh cừ”; như vậy giếng vốn có những lỗ hang thông ngang. Hào hai động, thể biến thành Cấn; Cấn là hang. “Phủ” là loại cá nhỏ; Tử Hạ truyện cho là con ếch. Giếng là quẻ tháng năm nên có ếch. Nhĩ Nhã dực nói: “Phủ là tức”, nay viết là cá diếc. Thể hào hai là Tốn, Tốn là gió, gió chủ về côn trùng; ếch và cá đều không lìa loại côn trùng có vảy hoặc mai. “Bắn cá nhỏ” là nói việc xưa bắn cá. Hoài Nam Tử, Thời tắc huấn nói: “Tháng cuối mùa đông, lệnh cho quan ngư bắt đầu đánh cá, thiên tử đích thân đi bắn cá.” Sử ký nói: “Tần Thủy Hoàng đến Chi Phù bắn cá, bắt được cá lớn.” Trong hang giếng không có cá lớn, thứ bị bắn chỉ là cá nhỏ. “Vò” là đồ đựng nước, tương tự cái bình. Từ hào hai đến hào bốn, quẻ hỗ là Đoài, tượng miệng mở; Tốn ở dưới tượng đáy bị thủng, nên nói “vò hỏng rò rỉ”, tức điều Thoán truyện gọi là “làm yếu cái bình”. Nước của Giếng phải được múc lên mới có công dụng; nếu chảy xuống như chiếc vò vỡ mất đáy thì còn liên quan gì đến công nuôi dưỡng của Giếng? Chỉ lấy việc bắn cá nhỏ làm tài năng, đó là điều người quân tử không coi trọng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi vận thời: Điều đạt được thì nhỏ, điều mất đi thì lớn. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi chiến tranh: Lầm mắc kế địch, quân vào hang sâu, vỡ nồi thiếu lương, không thể thoát ra. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi công danh: Có thể vớt được hư danh, nhưng làm sao lâu bền? \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi kinh doanh: Vì tham món lợi ngoài ý muốn mà để mất lợi nhuận chính đáng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi hôn nhân: Môn đệ thấp hèn, thanh danh tàn tạ, không tốt. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi nhà cửa: Nhà này có giếng bỏ phế, miệng giếng hư hỏng, nước không thể uống. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi bệnh: Là chứng hạ lậu, chữa trị thì có thể khỏi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi đồ thất lạc: Vật đã hư nát, có tìm được cũng vô dụng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi lục giáp: Sinh con trai, đề phòng đứa trẻ có khuyết tật. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Một người bạn đến xin bói khí vận, được quẻ Giếng biến thành quẻ Kiển. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Đoán rằng: Giếng gọi là “nuôi dưỡng”, nhưng giếng không thể tự nuôi mình; chính con người lấy nước từ đó để làm sự nuôi dưỡng. Nay không lấy nước mà lại lấy cá nhỏ, lấy thứ không nên lấy, tức đã đánh mất ý nghĩa của quẻ Giếng. Ngài xem khí vận được hào hai quẻ Giếng. Biết rằng xưa nay ngài vốn ham học, cũng như giếng có nguồn. Căn bệnh nằm ở chỗ chỉ chuyên chuộng đường bàng môn, không lo học chính đạo; giống như nước khe chảy vào hang bên của giếng, bắn cá nhỏ không phải thứ đáng lấy từ giếng, rốt cuộc liên quan gì đến nghĩa nuôi dưỡng của Giếng? “Vò hỏng rò rỉ” nói nước giếng chảy xuống dưới, như phẩm vị và địa vị của con người mỗi ngày một sa sút. Tượng hào quả thực là lời cảnh tỉnh dành cho ngài. Ngài nên cầu hiểu rõ tình thế thế gian, tự mình thực hành, chớ chỉ trộm lấy hư danh. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ 30, bói khí vận của Bộ Tư pháp, được quẻ Giếng biến thành quẻ Kiển. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Đoán rằng: Trong quẻ này, ba hào dưới là nước trong giếng, ba hào trên là việc múc nước để cung cấp cho sử dụng; vì vậy ba hào dưới không cát, còn cả ba hào trên đều cát. Gần đây nước ta cho phép người nước ngoài cư trú xen kẽ, phỏng theo quy tắc các nước Âu Mỹ mà đặt ra pháp luật. Người nước ta cư trú ở các nước Âu Mỹ cũng được họ bảo hộ, nên nước ta cũng bảo hộ lữ khách các nước ấy; hai bên hoàn toàn cùng một khuôn mẫu. Nay được hào hai. Việc lập pháp e rằng chỉ tham lợi nhỏ, ngược lại làm mất đại thể; đó là ý “ở hang giếng bắn cá nhỏ, vò hỏng rò rỉ”. Người phụ trách ngoại vụ nên lưu tâm.","Cửu tam: Giếng đã được nạo vét mà không ai dùng, lòng ta đau xót. Có thể múc dùng. Vua sáng suốt thì cùng nhận phúc.","Cửu tam: Giếng đã được nạo vét mà không ai dùng, lòng ta đau xót. Có thể múc dùng. Vua sáng suốt thì cùng nhận phúc. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Giếng đã được nạo vét mà không ai dùng” là người ra đi đau xót. “Cầu vua sáng suốt” là được nhận phúc. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Tiết” là sửa trị, tức nạo vét giếng và loại bỏ ô uế. Hào đầu là bùn, hào hai là rò rỉ; hào ba ở cuối Tốn, mà Tốn có nghĩa làm sạch và chỉnh tề, nên gọi là “giếng được nạo vét”. Nạo vét rồi thì bùn được bỏ, chỗ rò được bịt, nước trở nên trong sạch và có thể uống. Nếu không ai dùng thì không phải lỗi của giếng; cũng như người tắm thân, tu đức, ân huệ đủ sức nuôi người, nhưng người cầm quyền không biết đến, chỉ người đứng ngoài mới biết. “Ta” là người đứng ngoài tự xưng. Thấy dòng suối trong như vậy mà cuối cùng bị bỏ như đồ phế bỏ, lòng ta đau xót. Giếng đã được vét sửa thì không có giếng nào thích hợp để múc dùng hơn nó. Vậy mà không dùng thì thật quá tối tăm. Sao có thể không xuất hiện một vị vua sáng suốt để dùng người ấy? Đây là lời cầu mong của mọi người, mong người ấy được trọng dụng. “Vua” chỉ hào năm. Từ hào ba đến hào năm, quẻ hỗ là Ly, nên là vua sáng. Dương tượng cho phúc; vua dùng người hiền tài thì đức và ân trạch lan tỏa xa gần, mọi người đều hưởng phúc. Phúc của người hiền cũng là phúc của minh quân, lại là phúc của thiên hạ. “Cùng nhận phúc ấy” nghĩa là lợi ích của một cái giếng lan đến muôn nhà. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n (Lời phụ) “Giếng” là quẻ thế hệ thứ năm của cung Chấn. Phàm hỏi về bệnh tật, tai ách mà được hạ quái thì phần nhiều không chữa được. Hạ quái biến thì thân bình vỡ, không thể múc nước, đúng với lời Thoán “làm yếu cái bình, hung”. Sửa chỗ vỡ cũng như người bệnh gặp thầy thuốc mà chữa trị; tuy hung vẫn còn có thể cứu. Tượng ấy là như vậy. Suốt hai mươi năm qua, tôi đã nhiều lần gieo quẻ, lần nào cũng nghiệm đúng, chưa một lần sai. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi vận thời: Có tài mà không được dùng, ấy là do mệnh vận. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về chiến tranh: Binh khí đã được sửa sang, binh sĩ có thể sử dụng được, nhưng tiếc rằng không có chủ tướng, khiến sĩ khí sa sút; thật đáng tiếc. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về kinh doanh: Rõ ràng hàng hóa đang tập trung từ mọi hướng, có thể thu lợi; nhưng nếu không có người vận chuyển buôn bán thì cũng chỉ để đó vô ích mà thôi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về công danh: Có tài nhưng không gặp thời, bị thế gian bỏ rơi. Hai năm sau, đến hào Năm, có thể hy vọng được trọng dụng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về hôn nhân: Trước mắt chưa thành, đến hào Năm ắt sẽ thành tựu, nhưng phải đợi hai năm nữa. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về gia trạch: Nhà này ắt có một giếng cũ đã bị lấp nghẽn từ lâu, nên vét và sửa sang. Nếu lấy nước giếng ấy dùng, cả nhà sẽ được hưởng phúc; nếu không vét, không dùng thì thật đáng tiếc. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng bệnh do tâm thần bất an. Nên uống nước suối được chỉ ra thì có thể khỏi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Tháng Một năm Minh Trị thứ 26, nhân dịp chúc mừng năm mới, tôi tình cờ đến thăm một vị quý hiển. Vị ấy nhìn tôi và nói: “Gần đây có quẻ Dịch nào kỳ diệu không?” Tôi đáp: “Tượng của Kinh Dịch tinh vi sâu sắc; nếu lòng thành cảm ứng được thì không gì là không kỳ diệu. Tháng Mười năm ngoái, tôi cùng ông Sugiura Jugo và vài vị khác gặp nhau tại trà quán Hoshigaoka, để đoán kết cục nghị sự của Hạ nghị viện, được quẻ Tỉnh, hào Ba. Khi ấy chính phủ và Hạ nghị viện bất đồng ý kiến, tình thế rạn nứt dữ dội. Sau đó phải cầu xin thượng quyền phán quyết, rồi mới đạt được sự giải quyết công bằng. Đó chính là ý ‘qua lại quanh giếng, giếng vẫn có trật tự’.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lời đoán nói: “Giếng” chỉ có một, nhưng người nhờ đó mà ăn uống, sinh sống thì rất đông. Đó là ý của câu “qua lại ở giếng ngay ngắn, trật tự”, biểu thị hình tượng đám đông. Hãy xét việc lúc mới đào giếng, phải nhờ sức của nhiều người mới hoàn thành; đến khi giếng đã đào xong, mọi người đều có thể lấy nước từ giếng để nuôi sống mình. Điều này ví với việc xây dựng một nghị đề: phải nhờ nhiều người đề xướng, đến khi nghị đề đã được quyết định thì mọi người đều dựa theo đó mà thi hành. Vì vậy, tại Hạ nghị viện, chủ trương rằng đời sống nhân dân vẫn còn nhiều thiếu thốn, cần tiết kiệm chi phí công quyền, chỉnh đốn tài chính, nhằm mở ra nguồn giàu mạnh cho quốc gia. Về phía chính phủ, điều đó có nghĩa là các nghị viên không am hiểu thể chế chính trị, không thông suốt thời sự, khiến ý kiến của hai bên không hòa hợp. Chẳng khác nào người múc nước đến bên giếng, lại cùng nhau tranh luận nước giếng trong hay đục, khiến cả hai bên đều ngừng múc; rốt cuộc chẳng làm nên việc gì. Như vậy thì có ích gì? Người đứng ngoài cuộc không khỏi lo lắng thay cho họ. Đó chính là ý câu: “Giếng đã được làm sạch mà không ai uống, khiến lòng ta đau xót.” Chính phủ đã không chấp thuận Hạ nghị viện, Hạ nghị viện lại muốn dùng sức ép buộc chính phủ; hai bên đều cố chấp giữ lấy ý kiến riêng, cuối cùng dẫn đến xung đột. Tình thế này không thể tự chấm dứt. Vì vậy chỉ còn cách ngửa trông xin nhà vua phán quyết, đúng như lời hào: “Có thể múc nước; vua sáng suốt; cả hai bên đều nhận được phúc ấy.” May thay, bậc quân thượng rất nhân từ và sáng suốt, có thể cân nhắc công bằng hoàn cảnh của cả hai bên: chính phủ nhường ở chỗ có thể nhường, Hạ nghị viện dung nhận ở chỗ nên dung nhận. Trong phạm vi thích đáng, đặt ra chuẩn mực ngân sách, để cả bên trên lẫn bên dưới đều đạt được điều hợp lý của mình; khi ấy thiên hạ sẽ “cùng nhận được phúc ấy”. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Nghe vậy, vị quý hiển cho rằng tôi chỉ phỏng đoán thời sự rồi mượn Kinh Dịch để lập thuyết mà thôi. Tôi đáp: “Đó là cơ tiên của lý Dịch, có thể quán triệt sự việc từ trước. Tôi chẳng qua chỉ lấy Dịch để luận Dịch; sự ứng nghiệm với thời sự đương nhiên không thể vượt ra ngoài Dịch.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Tháng Bảy năm Minh Trị thứ 23, ông Tomita Teijiro, Chánh án Tòa án Niigata, đến thăm. Ông vốn là người quen cũ của tôi, đã mấy năm không gặp. Gặp lại, chúng tôi hàn huyên chuyện xa cách, ông nói: “Hôm nay tôi đến đặc biệt để cảm tạ lời đoán Dịch năm xưa.” Rồi ông kể tường tận việc trước kia mình cầu bói và được quẻ Tỉnh, hào Ba biến. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Hào từ nói: “Giếng đã vét mà không ai uống, khiến lòng ta đau xót. Có thể múc nước; vua sáng suốt thì cùng nhận phúc của vua.” Nước giếng vốn trong sạch, nhưng không ai múc nên công năng nuôi dưỡng của giếng không có dịp thi thố. Điều đó ví như người tuy có tài đức, nhưng không được ai dùng thì năng lực thi triển cũng không thể bộc lộ. Phải gặp minh vương nhận biết, cất nhắc mà dùng, khi ấy không chỉ một người được hưởng phúc mà thiên hạ đều “cùng nhận phúc”. Suy theo vị trí hào, hào Năm là ngày được bổ dụng, hào Thượng là thời điểm gánh vác trọng trách, đại khái trong khoảng ba, bốn năm. Tôi nói rằng nhất định sẽ có ứng nghiệm. Đến hôm nay, lời đoán đã linh nghiệm từng câu, không sai một ly. Trong lòng tôi rất mừng, nên đặc biệt đến đây để tạ ơn.","Hào Sáu ở vị trí Bốn: Giếng được xây bằng gạch, không lỗi.","Hào Sáu ở vị trí Bốn: Giếng được xây bằng gạch, không lỗi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Giếng được xây bằng gạch, không lỗi” là nói việc tu sửa giếng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Trúc giếng” nghĩa là dùng gạch xây thành giếng để phòng giếng sụt hỏng. Trong quẻ này, ba hào dương tượng cho mạch nước, ba hào âm tượng cho giếng. Sơ Lục ở thấp nhất gọi là “bùn”; Thượng Lục ở cao nhất gọi là “thu”; hào Bốn ở giữa, không mất chính vị, nên gọi là “xây giếng”. Giếng thường hỏng vì ô uế mà không được sửa sang, rồi cuối cùng trở nên vô dụng. Hào Bốn có thể xây sửa giếng nên được “không lỗi”. Nhờ có hào Bốn xây sửa mà “hàn tuyền” của hào Năm mới xuất hiện; việc trợ giúp hào Năm nuôi dưỡng con người đều nhờ công xây sửa của hào Bốn. Công lao sửa giếng quả không thể xem là nhỏ. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi về thời vận: Đang đúng lúc vận trình thay đổi, nên tự tu dưỡng và chỉnh đốn; chẳng những không lỗi mà còn có thể mong tiến lên. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về kinh doanh: Nên chỉnh lý cơ nghiệp cũ, tự nhiên có thể thu lợi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về công danh: Tu thân lập danh, sau hai ba năm có thể thỏa chí lớn. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về chiến tranh: Đây là lúc câu thơ nói: “Sửa sang giáo mác của ta, cùng ngươi bắt tay vào việc.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về hôn nhân: Vẫn cần chờ thời. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về gia trạch: Nhà này nên sửa sang thì sẽ tốt lành. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về lục giáp: Có tượng sinh con gái. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Gần khu tô giới ở phố cảng Yokohama có một khu chợ bán cá, chim, rau và gia súc. Chợ này được lập theo các hiệp ước mở cửa cảng với các nước, việc buôn bán rất phồn thịnh. Một hôm có người bạn đến nói: “Gần đây các thương nhân ở chợ Yokohama tranh cãi lớn, rồi đi đến đình nghiệp. Có người muốn đứng ra điều đình nhưng chưa tìm được cách xử lý, nay đặc biệt xin một quẻ.” Gieo được quẻ Tỉnh biến thành Đại Quá. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lời đoán như sau: Xét việc buôn bán trong chợ, hai bên có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, giống như dây kéo và gàu dùng để múc nước giếng. Có giếng mà không có dây và gàu thì múc nước bằng cách nào? Có dây và gàu mà không có giếng thì cuối cùng cũng vô dụng. Cùng buôn bán trong một thị trường, có lợi thì cùng lợi, có hại thì cùng hại; đôi bên đánh nhau ắt cùng thất bại. Nay được hào Ba, lời hào nói: “Giếng được xây bằng gạch, không lỗi.” “Xây giếng” nghĩa là chỉnh trị, vì giếng hư hỏng nên sửa lại. Việc kinh doanh của hai nhà nay bị tổn hại bởi cuộc tranh chấp này; người đứng ra sửa chữa chính là hào Bốn. Hào Bốn là người đứng giữa để điều đình. Hào Bốn điều đình xong thì “hàn tuyền” của hào Năm có thể lại được uống. Giữa hào Bốn và hào Năm cách nhau một hào; nếu một hào ứng với một tháng thì tháng sau ắt có thể hòa giải, rồi khôi phục việc kinh doanh cũ. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Đoán việc Thanh và Pháp tranh chấp quyền chiếm An Nam. Việc gây hấn bắt đầu vào khoảng tháng Ba, tháng Tư năm nay, đến nay vẫn chưa có tin chắc chắn về hòa hay chiến. Những điều các báo đăng đều xuất phát từ lời đồn ngoài phố và truyền miệng, chưa đủ làm căn cứ. Vì vậy trước hết tôi gieo quẻ cho nước Thanh, được quẻ Tỉnh biến thành Đại Quá. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lời đoán như sau: Đức của quẻ là giếng nuôi người không bao giờ cạn, nghĩa là giếng lớn và người được nuôi dưỡng rất đông. Điều này ví với sự lớn mạnh của nước Thanh: sản vật dồi dào, các nước khác đều muốn giao thương và nhận ân trạch của Thanh. Vì thế người đã múc thì đi, người chưa múc thì đến; hàng hóa giao dịch không bao giờ hết, cũng như nước giếng lấy mãi không cạn. Nhưng thuật hàng hải của Thanh chưa tinh, không thể tự mình vận chuyển sản vật ra ngoài biển. Chẳng khác nào nước giếng không thể tự chảy ra, phải chờ người đến múc rồi mới làm nhuần vạn vật. Vì vậy trong việc An Nam hiện nay, dù Thanh muốn đánh Pháp, cuối cùng cũng không đánh; giống như nước giếng không thể tự vận động, có thể biết Thanh nhất định không khởi chiến. Nếu vạn nhất Thanh quyết ý khai chiến thì việc giao thương với các nước sẽ gặp trở ngại rất lớn. Các nước trung lập đứng ngoài cuộc ắt sẽ ra tay điều đình, dùng mọi cách bảo hộ quyền lợi, cũng như xây gạch quanh giếng để không cho ô uế lọt vào. “Giếng được xây bằng gạch, không lỗi” là nói việc ấy. Từ hào Bốn của quẻ Tỉnh đến hào Bốn của quẻ Cách là bảy năm; trong bảy năm tới, nước Thanh ắt có biến đổi cải cách. Tục ngữ nói: “Môi mất thì răng lạnh.” Nước ta cũng nên nghiêm chỉnh chuẩn bị từ trước.","Cửu Ngũ: Nước giếng trong sạch, uống được suối lạnh.","Cửu Ngũ: Nước giếng trong sạch, uống được suối lạnh. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Thức ăn của bó lạnh là sự trung chính.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Liệt” nghĩa là nước trong; nước giếng ở phía trên nên trong. Hào Năm là chủ của Khảm, ở vị trung chính. Khảm là hàn tuyền; địa chi Tý thuộc thủy, phương Bắc, nên tượng lạnh. Xét tính của nước, mùa đông thì ấm, mùa hè thì lạnh; đó là vì trong âm chứa dương, trong dương chứa âm, bản tính vốn như vậy. Quẻ Tỉnh ứng với tháng Năm âm lịch, nên nước vừa trong vừa lạnh. Mạnh Tử nói: “Ngày hè uống nước, mùa đông uống canh.” Đang giữa mùa hạ mà múc suối lạnh này uống, ấy là được đúng thời. Quẻ Tỉnh được hào Ba vét, hào Bốn xây sửa, thì bùn được bỏ, chỗ rò được bịt; khi ấy “hàn tuyền” của hào Năm mới tuôn ra, nhiều người lại đến dùng, nên người nhận phúc cũng đông. Đức của bậc vương giả thấm nhuần dân chúng, lan khắp bốn phương, cũng như thế. Quẻ hỗ của Tỉnh là Phệ Hạp; Phệ Hạp nghĩa là ăn, nên nói: “Nước giếng trong, suối lạnh uống được.” \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi về thời vận: Gia đạo ắt thanh hàn, nhưng may được đúng thời, có thể mong được tiến dụng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về kinh doanh: Giếng tuôn suối lạnh, ví như nguồn tài lộc lâu dài; có thể mong thu lợi. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về công danh: Phẩm hạnh trung chính, có thể hưởng vinh dự được dưỡng như vật trong đỉnh lớn. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về gia trạch: Có phong khí của suối thanh và nước nhường, thanh liêm và nhún nhường. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về hôn nhân: Gia phong trong sạch, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đó là chính đạo của vợ chồng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về bệnh tật: Là chứng ngoài lạnh trong nóng, nên dùng thuốc hàn lương. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ 22, tôi đoán vận khí của Bá tước Yamagata, được quẻ Tỉnh biến thành Thăng. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lời đoán như sau: Giếng là để nuôi dưỡng con người, nhưng nếu không ai múc thì dù suối có trong cũng không thể thi thố công năng nuôi dưỡng. Điều đó ví như bậc hiền giả tuy có đủ ân trạch để ban lợi cho dân, nhưng nếu không được cất nhắc thì tài năng vẫn ở bên dưới, không có cách thi hành ân huệ. Nay đoán vận khí Bá tước Yamagata, được hào Năm quẻ Tỉnh biến thành Thăng, biết rằng Bá tước có tài đức sâu dày, chí tiết trong sạch, từ cảnh hàn vi mà vươn lên địa vị hiển quý; ân trạch của ông lan tỏa sẽ vô cùng tận, như khi “vua sáng suốt”, “có thể múc nước”, khiến thiên hạ “cùng nhận phúc” không dứt. Hào nói “giếng được xây bằng gạch”, ví với khí chất thanh minh của Bá tước; nói “suối lạnh uống được”, ví người dân hưởng đức Bá tước, như chỉ uống một ngụm suối lạnh mà lập tức cảm thấy mát dịu khắp lồng ngực và bụng. Ân huệ của Bá tước không cùng tận, vinh hiển của Bá tước cũng chưa có lúc chấm dứt. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Năm ấy, Bá tước Yamagata quả nhiên được bổ nhiệm làm Thủ tướng Nội các. Lời đoán này, khi đó tôi đã trình lên Công tước Sanjo và Bá tước Ito.","Thượng Lục: Giếng được mở ra, không đậy nắp; có lòng thành, đại cát.","Thượng Lục: Giếng được mở ra, không đậy nắp; có lòng thành, đại cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Tượng truyện nói: “Đại cát ở trên” là thành tựu lớn lao. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n “Thu” chỉ việc thu dây bằng guồng kéo. “Màn” là nắp giếng; “không đậy nắp” chính là điều Thoán truyện nói: “người qua kẻ lại ở giếng”, người múc rất đông, ngày đêm lấy mãi không cạn. Giếng không độc chiếm cái mình có, không giữ riêng lợi ích; mặc cho mọi người đến múc và tưới tiêu, nên nói “không đậy nắp”. Hào Thượng ở cực điểm của Khảm, hình hai nét mở ra tượng giếng không có nắp. “Có lòng thành” chỉ hào Năm; hào Năm là “vua sáng”, có thể dùng người biết múc nước. “Đại cát”: “đại” nghĩa là lợi ích của giếng lớn, nên cái cát cũng lớn. “Ở trên” nghĩa là hào Thượng ở miệng giếng, công nuôi dưỡng con người từ đó mà phát ra. “Thành tựu lớn” nghĩa là đạo giếng nuôi người đến đây đã hoàn toàn thành tựu. Trong các hào từ, âm nhu ở trên phần nhiều không cát; chỉ riêng quẻ Tỉnh ở trên mà được “đại cát”. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 　　【Dự đoán】 \u003Cbr> \n ○ Hỏi về thời vận: Công đức được thế gian biết đến, được người đời tín nhiệm. “Thành tựu lớn”, “đại cát” là vận cực thịnh. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về công danh: Có tượng được trọng dụng và gánh vác trọng trách lớn, không phải chỉ một chức nhỏ ở một cơ quan hay một địa phương. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về kinh doanh: Thương vụ hội tụ, lợi ích dồi dào; có thể lâu bền và phát triển lớn, làm gì cũng cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về hôn nhân: Hào Thượng ứng với hào Ba; hào Ba nói “cùng nhận phúc”, biết rằng cả hai họ đều cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về chiến tranh: Khi quân đội xuất phát thì tháo màn trướng; “không đậy” tức là tháo trướng rồi tiến lên. Một trận đã thành công, nên gọi là “đại thành”. Cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về bệnh tật: “Mạc” cũng thông với “mộ”, nghĩa là sáng tối có thể khỏi ngay. Cát. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n ○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n 【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ 30, tôi đoán tình hình mậu dịch, được quẻ Tỉnh biến thành Tốn. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Lời đoán như sau: Quẻ này dưới là mộc của Tốn, trên là thủy của Khảm, đúng như Thoán truyện nói “gió thuận theo nước mà dâng trên mặt nước”, là tượng kéo nước giếng lên. Đến hào Thượng thì công dụng của giếng đã thành. “Không đậy nắp” chính là ý của Vương Bật: “không độc chiếm cái có, không tư hữu cái lợi”. Nay thương nhân nước ngoài giao dịch với thương nhân nước ta. Nước ta không tự xuất khẩu mà chờ tàu buôn ngoại quốc chở hàng đi, giống như nước giếng chờ người đến múc. Ba hào bên trong là tượng nước giếng không được uống, biểu thị hàng hóa bán không chạy; ba hào bên ngoài là tượng suối đẹp có thể uống, người múc rất đông. Hào Bốn ứng với tháng Bảy, tháng Tám; hào Năm ứng với tháng Chín, tháng Mười; hào Thượng đã ở miệng giếng, ứng với tháng Mười Một, tháng Mười Hai. Đó chính là lúc trăm thứ hàng hóa hội tụ, việc tiêu thụ và vận chuyển phát đạt; riêng ngành tơ sống đã xuất khẩu quy mô lớn, trở thành thời kỳ mậu dịch tốt đẹp nhất. \u003Cbr> \n  \u003Cbr> \n Quả nhiên trong nửa đầu năm, tình hình buôn bán tơ sống không khởi sắc; sau tháng Bảy, tháng Tám thì dần dần khởi động, đến tháng Mười Một, tháng Mười Hai giá thị trường tăng lên trên một nghìn franc, toàn bộ đều bị thương nhân ngoại quốc mua hết, còn các xưởng dệt cơ khí trong nước lại phải đình công.",null,"Chu Dịch, Kinh Dịch, Takashima Ekidan, quẻ thứ 48, Thủy Phong Tỉnh, sáu mươi tư quẻ, quái từ, hào từ, lời đoán",1787044933998]