Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 27, quẻ Di, Sơn Lôi Di, Cấn trên Chấn dưới

Di: Giữ vững chính đạo thì cát. Xem xét việc nuôi dưỡng, tự mình tìm kiếm cái ăn.

Thoán truyện nói: Di, giữ vững chính đạo thì cát, vì nuôi dưỡng điều chính thì cát. “Xem xét việc nuôi dưỡng” là xem người ta nuôi dưỡng điều gì. “Tự mình tìm kiếm cái ăn” là xem cách tự nuôi dưỡng bản thân. Trời đất nuôi dưỡng muôn vật; thánh nhân nuôi dưỡng người hiền rồi mở rộng đến muôn dân. Ý nghĩa của quẻ Di trong thời thế thật lớn lao thay!

Tượng truyện nói: Dưới núi có sấm, đó là quẻ Di. Người quân tử theo đó mà thận trọng lời nói, tiết chế ăn uống.

Sơ đồ quẻ 27: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 27 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ 27 trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Di
Di. Giữ vững chính đạo thì cát. Xem xét việc nuôi dưỡng, tự mình tìm kiếm cái ăn.
Tượng truyện nói: Dưới núi có sấm, đó là quẻ Di. Người quân tử theo đó mà thận trọng lời nói, tiết chế ăn uống.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Di: Gieo quẻ được điềm lành. Nghiên cứu đạo nuôi dưỡng nằm ở việc tự lực kiếm sống.
Tượng từ nói: Thượng quái của quẻ này là Cấn, tượng núi; hạ quái là Chấn, tượng sấm. Sấm phát ra trong núi, muôn vật nảy mầm, đó là tượng quẻ Di. Người quân tử xem tượng quẻ, nghĩ đến sự không dễ dàng của việc nuôi dưỡng sự sống, từ đó thận trọng lời nói để tránh tai họa, tiết chế ăn uống, tu dưỡng thân tâm.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Di, Cấn trên Chấn dưới, là quẻ Du hồn của cung Tốn. Di chỉ tu dưỡng, điều dưỡng. Sấm rung trong núi là dấu hiệu mùa xuân đến, muôn vật bắt đầu sinh trưởng và được nuôi dưỡng; vì vậy quẻ Di là điềm phát triển, phần nhiều chủ cát.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Nuôi dưỡng điều chính trực, thận trọng trong lời nói và tiết chế việc ăn uống; quan sát thực tế, tự biết mình và hành động cẩn trọng.
Người được quẻ này phải thận trọng cả trong lời nói lẫn ăn uống. Nên giữ chính đạo, nói năng và hành động cẩn thận; người ôm mưu mô sẽ chuốc lấy tai họa.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Sinh khí hiển lộ và phát đạt; thận trọng lời nói việc làm.
Tài vận: Trong ngoài thăng giáng, chưa chắc lưu thông thuận lợi.
Gia trạch: Cẩn thận phòng hỏa hoạn; người vợ hiền thuận theo chồng.
Sức khỏe: Trên lạnh dưới nóng, năm ngày mới khỏi.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị (Chấn ở dưới, Cấn ở trên) chồng lên nhau. Chấn là sấm, Cấn là núi. Núi ở trên, sấm ở dưới, ngoài thực trong hư. Xuân ấm nuôi dưỡng muôn vật; hãy tùy thời nuôi người hiền, dưỡng muôn dân. Dương thực, âm hư; cái thực nuôi người, cái hư được người nuôi. Hãy tự lực kiếm sống.
Đại tượng: Hình dáng giống khoang miệng, lấy đạo ăn uống làm ý nghĩa; cần thận trọng lời nói và chú trọng đời sống hằng ngày.
Vận thế: Xử sự thiếu cân nhắc chu toàn, không nên ôm mưu mô; giữ chính đạo và làm điều thiện thì mới cát.
Sự nghiệp: Mọi việc phải dựa vào sự theo đuổi và nỗ lực của bản thân, không thể dựa dẫm người khác. Càng không được dùng thủ đoạn không vẻ vang để mưu cầu tiền tài. Chỉ cần theo chính đạo, tự lực kiếm sống, thận trọng lời nói việc làm thì nhất định sẽ có cơ hội tốt. Sau một phen gian khổ phấn đấu, có thể thành công.
Kinh doanh: Không được nóng vội cầu thành, nên cẩn thận, tiến từng bước; đối đãi chân thành, hợp tác thật lòng với người khác, tùy thời mà ứng biến, không ngừng tìm hướng khai phá mới; khi cần có thể mạo hiểm ở mức thích hợp.
Cầu danh: Lấy việc làm phong phú tri thức bản thân làm mục tiêu; biết đủ mà an vui, chịu khó nỗ lực thì hy vọng thành công rất lớn.
Hôn nhân, tình cảm: Không thể nóng vội cầu thành; then chốt là tăng cường tu dưỡng bản thân. Một khi đã chọn thì phải hết lòng theo đuổi, nhất là không được đứng núi này trông núi nọ.
Quyết định: Hãy chú trọng tu dưỡng đạo đức, vui lòng dốc hết sức để giúp đỡ người khác, cứu người trong lúc nguy cấp, và không tham cầu những của cải mình không đáng được hưởng. Nhờ vậy, bạn có thể nhận được sự kính trọng của người khác, đồng thời không ngừng nhận được sự trợ giúp từ bên ngoài; sự nghiệp cá nhân sẽ tiến triển hết sức thuận lợi và khả năng thành công rất lớn. Đặc biệt, tuyệt đối không được sơ suất; hãy ghi nhớ sâu sắc rằng thành tựu càng lớn thì trở lực cũng càng lớn.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ 27

Tượng quẻ và ý nghĩa tượng trưng của quẻ Sơn Lôi Di
Quẻ Di là quẻ dị chồng lên nhau, Chấn ở hạ quái, Cấn ở thượng quái. Chấn là sấm, Cấn là núi. Núi ở trên, sấm ở dưới, ngoài thực trong hư.
Tượng truyện nói: Dưới núi có sấm, đó là quẻ Di. Người quân tử theo đó mà thận trọng lời nói, tiết chế ăn uống. Điều này cho thấy tượng quẻ Di là Chấn (sấm) ở dưới, Cấn (núi) ở trên, biểu hiện sấm rung dưới núi; từ đó liên tưởng đến trạng thái nhai thức ăn, trong đó hàm trên đứng yên còn hàm dưới chuyển động, nên tượng trưng cho việc nuôi dưỡng. Nuôi dưỡng phải kiên trì chính đạo, vì vậy người quân tử nên thận trọng lời nói để bồi đắp phẩm đức tốt đẹp, tiết chế ăn uống để nuôi dưỡng thân thể khỏe mạnh. Xuân ấm nuôi dưỡng muôn vật; hãy tùy thời nuôi người hiền, dưỡng muôn dân. Dương thực, âm hư; cái thực nuôi người, cái hư được người nuôi.
Phân tích tượng quẻ, các hào âm ở giữa tượng trưng cho răng; hai hào dương ở trên và dưới tượng trưng cho hai má, môi và cằm bao quanh răng. Thượng quái của quẻ Di là Cấn, tượng núi; hạ quái là Chấn, tượng sấm. Dưới núi có sấm chính là tượng quẻ Di. Vì sao dưới núi lại có sấm? Thực ra đó là tiếng vang lớn trong núi. Do biến động vỏ trái đất, những âm thanh khổng lồ phát sinh, đôi khi còn gây ra sạt lở núi hoặc động đất. Sạt lở và động đất khiến muôn vật trên bề mặt núi bị chôn vùi khi núi sụp đổ. Người xưa cho rằng đó là núi đang ăn, hình tượng lớn nhất của việc “ăn”, nên dùng để tượng trưng cho toàn bộ đạo ăn uống. Khi con người ăn, trong miệng cũng phát ra âm thanh, nên có điểm tương thông với việc núi ăn.

Quẻ 27 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ cửu của quẻ thứ 27 trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ cửu: Bỏ con rùa thiêng của mình, nhìn ta phồng má ăn; hung.
Tượng truyện nói: Nhìn ta phồng má ăn cũng không đáng được coi trọng.
Giải thích bằng văn nói
Sơ cửu: Bản thân đã cất giữ rất nhiều của cải mà vẫn ghen tị với tài vật của người khác thì ắt gặp việc hung hiểm.
Tượng từ nói: Ghen tị với tài vật của người khác không phải là hành vi cao thượng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này có thể gây họa vì tranh đoạt tài lợi; nói chung người có lòng lương thiện và giữ chính đạo thì không phải lo. Người làm quan có thể nhận hối lộ, mất đi sự liêm chính.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bỏ mình nhìn người, chỉ ham hư danh.
Tài vận: Kinh doanh không thuận, người khác được lợi.
Gia trạch: Trong nhà không có người chủ trì, rối ren; hôn nhân bất hòa.
Sức khỏe: Bệnh do ăn uống.

Quẻ biến của hào Sơ Cửu
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Sơ cửu động, biến thành quẻ thứ 23 của Chu Dịch: Sơn Địa Bác. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Cấn ở trên) chồng lên nhau. Năm hào âm ở dưới, một hào dương ở trên; âm thịnh mà dương cô độc, núi cao bám vào đất. Cả hai đều là tượng bong tróc, nên gọi là quẻ Bác. Quẻ này âm thịnh dương suy, ví kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử khốn đốn, sự nghiệp suy bại.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất của quẻ Di, hào từ: Sơ cửu: Bỏ con rùa thiêng của mình, nhìn ta phồng má ăn; hung. Giải nghĩa hào từ
“Bỏ” nghĩa là từ bỏ. “Ngươi” chỉ hào Sơ cửu. “Rùa thiêng” là loài lưỡng cư được cho là giỏi hấp thu khí để tự nuôi dưỡng và sống lâu. “Ta” chỉ hào Thượng cửu. Cần nói rõ rằng trong quẻ Di chỉ có hai hào dương là Sơ cửu và Thượng cửu; nhưng Sơ cửu dựa vào người khác để nuôi mình, còn Thượng cửu tự nuôi người khác.
Điều hào này gợi mở là phải tự lực cánh sinh, dùng nỗ lực của mình để nuôi sống bản thân. Như vậy vừa có phẩm giá, vừa thể hiện giá trị của mình, lại có thể bền lâu, giống như rùa thần vốn có khả năng sống trường thọ.
Thế nhưng lại từ bỏ năng lực ấy để cầu người khác nuôi mình, đó là tự chuốc phiền phức. Hiện nay nhiều người cũng sống như vậy: bỏ mình cầu người, bám víu vào người khác, dựa vào người khác để sống. Tuy bề ngoài có vẻ không phải nỗ lực, nhưng thực ra rất nguy hiểm.
Tượng nói: “Nhìn ta phồng má ăn” cũng không đáng quý. Điều đó cho thấy “cầu người khác nuôi dưỡng” tuy cũng coi trọng việc bảo dưỡng thân thể, nhưng vì không giữ chính đạo và dựa dẫm người khác nên không đáng đề cao.
Sơ cửu là hào dương ở vị trí cương, vốn có năng lực tự nuôi mình nhờ tính chất dương cương; nhưng lại không dùng điều kiện tốt ấy mà muốn cầu ban ân, nên bị răn rằng “hung”.
Người được hào này, nếu có thể an phận, giữ đúng bổn phận và bằng lòng với cuộc sống giản dị, sẽ có tâm cảnh bình yên, đầy đặn. Nếu vừa nhìn thức ăn trong bát vừa thèm thứ trong nồi, rốt cuộc lại có thể bị đói.
Giải thích chi tiết hào Lục nhị của quẻ thứ 27 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục nhị: Nuôi dưỡng đảo ngược, trái với lẽ thường; cầu dưỡng nơi gò đồi, tiến hành thì hung.
Tượng truyện nói: Lục nhị tiến hành thì hung vì hành động ấy làm mất đồng loại.
Giải thích bằng văn nói
Lục nhị: Muốn kiếm sống thì phải khai hoang trồng trọt trên sườn đồi. Vì sinh kế mà cướp đoạt người khác là việc hung hiểm.
Tượng từ nói: Hào từ Lục nhị nói cướp đoạt thì hung, vì hành vi ấy trái với đạo nghĩa.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này trải qua thăng trầm lớn, phải trái bất nhất; trường hợp xấu có thể bệnh đến chết. Người làm quan cần đề phòng bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Dù may mắn mà thành, cuối cùng vẫn là hung.
Tài vận: Trái lẽ thường, khó tránh hao tổn.
Gia trạch: Chưa được ổn định đúng đắn; nữ đức có điều đáng bàn.
Sức khỏe: Chóng mặt hoa mắt, cần cẩn thận điều dưỡng.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục nhị động, biến thành quẻ thứ 41 của Chu Dịch: Sơn Trạch Tổn. Đây là quẻ dị (Đoài ở dưới, Cấn ở trên) chồng lên nhau. Cấn là núi, Đoài là đầm. Núi ở trên, đầm ở dưới; đầm lớn xâm thực chân núi. Tổn và ích đan xen, trong tổn có ích, trong ích có tổn. Quan hệ giữa hai mặt ấy phải được xử lý thận trọng. Tổn hạ ích thượng, như trong trị quốc, nếu quá mức sẽ làm hại nền móng quốc gia. Đáng tổn thì tổn, nhưng phải lượng sức và vừa phải. Tổn ít mà ích nhiều là tốt nhất.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Di, hào từ: Lục nhị: Nuôi dưỡng đảo ngược, trái với lẽ thường; cầu dưỡng nơi gò đồi, tiến hành thì hung. Giải nghĩa hào từ
“Điên đảo” chỉ sự đảo ngược. “Trái với lẽ thường” nghĩa là vi phạm, chống lại; “lẽ thường” chỉ đạo lý thông thường. “Gò” vốn chỉ ngọn đồi nhỏ nhô cao trên mặt đất bằng, ở đây chỉ hào dương Thượng cửu trong quẻ. “Tiến hành” chỉ tiến lên chinh phạt nơi xa.
Ý của hào từ là: Đảo ngược cách nuôi dưỡng, quay sang cầu xin cấp dưới thức ăn để được phụng dưỡng, là trái với lẽ thường. Cầu dưỡng ở nơi cao thì trên đường tiến bước tất gặp hung hiểm.
Hào thứ hai của quẻ Di, hào từ: Lục nhị: Nuôi dưỡng đảo ngược, trái với lẽ thường; cầu dưỡng nơi gò đồi, tiến hành thì hung. Gợi mở cho cuộc đời
Từ hào Lục nhị có thể thấy không thể tự lực sinh sống là việc rất nguy hiểm. Vì không thể tự nuôi mình, Lục nhị phải cầu cứu cấp dưới, tức Sơ cửu. Điều đó trái với đạo cung dưỡng thông thường. Là cấp trên hay người lãnh đạo, đáng lẽ phải có năng lực nuôi cấp dưới; nếu lại cầu cứu cấp dưới thì đã đảo lộn quy luật, giống như ông chủ không trả lương nhân viên mà ngược lại vay tiền nhân viên để tiêu, rất nguy hiểm. Nếu không cầu xuống mà cầu lên, tìm viện trợ bên ngoài, cũng khó được như ý.
Người được hào này nhất định phải có ý thức tự lực, vì không thể trông cậy cả người trên lẫn người dưới. Cấp dưới không có năng lực giúp bạn, viện trợ bên ngoài cũng không giúp bạn. Tượng nói: Lục nhị “tiến hành thì hung” là vì hành động làm mất đồng loại. Viện trợ bên ngoài mà Lục nhị cầu tìm không phải người cùng loại, giống như không phải họ hàng cũng chẳng phải bạn bè, nên họ sẽ không đưa tay giúp. Việc cấp bách là dựa vào năng lực và nỗ lực của mình để tự nuôi sống bản thân, thoát khỏi cảnh khốn khó. Dĩ nhiên, nếu bạn không thể tự lập mà có người giúp, đừng khinh thường họ vì năng lực hạn chế, thế lực nhỏ rồi tìm người có năng lực, quyền thế hơn; như vậy bạn sẽ mất sự giúp đỡ ban đầu mà cũng không có được sự giúp đỡ mới, kết cục rất nguy hiểm.
Lục nhị: Nuôi dưỡng đảo ngược, trái với lẽ thường; cầu dưỡng nơi gò đồi, tiến hành thì hung.
Tượng truyện nói: Lục nhị tiến hành thì hung vì hành động ấy làm mất đồng loại.
Ý kinh văn là: Nằm ăn là trái với phép dưỡng sinh thông thường; ăn bên đống đất, xuất chinh thì nguy hiểm. Ý Tượng từ là: Lục nhị xuất chinh gặp nguy hiểm vì hành động ấy làm mất đồng loại.
Hào này tương đương địa vị đại phu, nên đời sống khá sung túc, từ đó hình thành thói quen ăn ngon lười làm. Như vậy trái với đạo dưỡng sinh, khiến cơ thể béo phì nặng nề; tranh đấu với người khác đương nhiên không thể giành phần thắng, nên nói “tiến hành thì hung”. Văn hiến cổ ghi rằng một số người giàu thời ấy cực kỳ coi trọng ăn uống hưởng lạc, rất cầu kỳ chuyện ăn. Sau khi ăn no sơn hào hải vị, họ vẫn muốn ăn tiếp, phải làm sao? Có thầy thuốc phát minh bài thuốc gây nôn. Ăn xong món ngon, người ta uống thuốc, nôn ra rồi lại tiếp tục ăn. Ăn như vậy mà không vận động thì thể chất chắc chắn không thể nâng cao; hễ xảy ra chiến tranh thì chỉ có thể thua trận.
Giải thích chi tiết hào Cửu tam của quẻ thứ 27 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục tam: Trái với việc nuôi dưỡng, cứ chấp giữ thì hung. Mười năm chớ dùng, không có gì lợi ích.
Tượng truyện nói: Mười năm chớ dùng, vì đã trái đạo quá lớn.
Giải thích bằng văn nói
Lục tam: Trái với chính đạo dưỡng sinh, sống dựa vào đường tà; gieo quẻ được điềm hung. Suốt mười năm đều gặp tai họa, hoàn toàn không có lợi.
Tượng từ nói: Suốt mười năm đều gặp tai họa vì hành vi này trái với đạo nghĩa rất lớn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này vận thế sa sút, cảnh ngộ hoang đường, thậm chí có nỗi đau sinh ly tử biệt. Người làm quan có nguy cơ mất danh tiếng và tiết tháo.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không còn đường tiến, đóng cửa tự xét lỗi.
Tài vận: Lâu ngày khó thành việc, không có lợi để thu.
Gia trạch: Nhà cửa bất an; mười năm sau mới kết hôn.
Sức khỏe: Bệnh lâu năm khó chữa.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục tam động, biến thành quẻ thứ 22 của Chu Dịch: Sơn Hỏa Bí. Đây là quẻ dị (Ly ở dưới, Cấn ở trên) chồng lên nhau. Ly là lửa, là sáng; Cấn là núi, là dừng. Văn minh mà có tiết chế. Quẻ Bí luận về quan hệ giữa văn và chất, lấy chất làm chủ, dùng văn để điều chỉnh. Bí nghĩa là trang sức, tô điểm.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Di, hào từ: Lục tam: Trái với việc nuôi dưỡng, cứ chấp giữ thì hung. Mười năm chớ dùng, không có gì lợi ích. Giải nghĩa hào từ
“Phất” nghĩa là gạt bỏ, cướp lấy, trái nghịch. “Trinh” ở đây không giảng là “chính”, mà chỉ việc cố chấp giữ nguyên ý định ban đầu, không biết hối cải. “Mười” là tận cùng của số đếm; “mười năm chớ dùng” nghĩa là rốt cuộc không thể dùng được.
Ý của hào từ là: Trái với chính đạo nuôi dưỡng thì tất nhiên gặp hung hiểm. Ý nghĩ không chịu tự nuôi mình mà liều lĩnh cầu người khác nuôi dưỡng rốt cuộc không thể dùng được, hoàn toàn không có lợi.
Tượng nói: “Mười năm chớ dùng” là trái đạo quá lớn. Điều này chỉ ra rằng ý nghĩ không chịu tự nuôi mình mà vọng cầu người khác nuôi dưỡng rốt cuộc không thể dùng được, vì nó hoàn toàn khác với chính đạo nuôi dưỡng, trái ngược từ gốc với nguyên tắc và phương pháp nuôi người cũng như bảo dưỡng bản thân.
Người được hào này phải chú ý hành vi của mình. Làm sự nghiệp có thể cầu trợ giúp, nhưng nên trong phạm vi thích đáng. Nếu dùng thủ đoạn lừa dối hoặc bất chính khác thì chẳng có lợi ích gì. Một khi người khác nhìn rõ bản chất của bạn, họ có thể cắt đứt qua lại.
Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ 27 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ: Nuôi dưỡng đảo ngược mà cát. Nhìn chằm chằm như hổ, chuyên chú không rời; ham muốn nối tiếp không ngừng, không có lỗi.
Tượng truyện nói: Cái cát của việc nuôi dưỡng đảo ngược là vì bề trên ban phát ánh sáng rộng khắp.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Điều cầu mong chỉ là đủ nuôi miệng, không được giữ lòng hại người; cát. Phải nhìn chằm chằm như hổ, không thể thiếu tâm đề phòng người khác. Như vậy mới có thể hưởng tuổi già bình an, thong dong tự tại, không tai họa.
Tượng từ nói: Cầu mong chỉ đủ nuôi miệng mà vẫn cát, vì bậc quân thượng ban phát rộng rãi, đủ để nuôi dân.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này sẽ được người tốt giúp đỡ, mưu sự được như ý. Người làm quan được hưởng ân huệ tổ tiên, được sủng ái hơn.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Dưỡng tinh tích lực, có thể mưu cầu công danh.
Tài vận: Nhìn rõ thị trường, mua bán có lợi.
Gia trạch: Vẫn có thể xem là chính đáng.
Sức khỏe: Ít dục vọng thì được an ổn.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục tứ động, biến thành quẻ thứ 21 của Chu Dịch: Hỏa Lôi Phệ Hạp. Đây là quẻ dị (Chấn ở dưới, Ly ở trên) chồng lên nhau. Ly là quái âm, Chấn là quái dương. Âm dương giao nhau, cắn vỡ vật cứng, ví việc thi ân và dùng uy cùng lúc, kết hợp khoan dung với nghiêm khắc, lấy cương nhu tương tế. Phệ Hạp là hai hàm trên dưới cắn khớp để nhai.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Di, hào từ: Lục tứ: Nuôi dưỡng đảo ngược mà cát. Nhìn chằm chằm như hổ, chuyên chú không rời; ham muốn nối tiếp không ngừng, không có lỗi. Giải nghĩa hào từ
“Điên đảo” chỉ sự đảo ngược. Trong quẻ này, hổ được đặt đối lập với rùa: rùa tượng trưng cho vật tự nuôi dưỡng từ bên trong, còn hổ tượng trưng cho việc cầu dưỡng từ bên ngoài. “Nối tiếp không ngừng” nghĩa là lần lượt liên tục, không thiếu hụt. “Không có lỗi” nghĩa là không có sai trái.
Ý của hào từ là: Đảo ngược cách nuôi dưỡng mà vẫn cát. Hãy chuyên chú nhìn như hổ sắp vồ mồi, cần mẫn theo đuổi không ngừng, thì không có tai họa.
Xét quẻ Di, hào Lục nhị vì “nuôi dưỡng đảo ngược” mà gặp hung, còn Lục tứ cũng vì “nuôi dưỡng đảo ngược” mà được cát.
Tượng giải thích: “Cái cát của việc nuôi dưỡng đảo ngược là vì bề trên ban phát ánh sáng.” Nói cách khác, Lục tứ ở vị trí trên, tương ứng với Sơ cửu, đồng thời giữ vững chính đạo. Tuy lấy từ dân nhưng lại dùng cho dân, rộng rãi ban ánh sáng và ân đức xuống dưới. Có thể hiểu điều này giống chính sách thuế hiện nay: chính phủ thu thuế của dân rồi dùng cho dân. Bổng lộc quan viên đến từ nhân dân, nhưng họ làm việc vì nhân dân; kiểu “nuôi dưỡng đảo ngược” này phù hợp chính đạo nên là cát.
Hào Lục Tứ này ở ngay cạnh vị quân chủ là Lục Ngũ, thuộc bậc đại thần gần vua. Đã nhận sự phụng dưỡng từ trăm họ thì phải tận tâm tận lực làm việc vì trăm họ, chuyên chú như hổ đói vồ mồi, không ngại nhọc nhằn bôn ba, rộng ban ân huệ cho dân.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ hai mươi bảy trong Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục Ngũ. Trái với lẽ thường; ở yên giữ chính thì tốt lành. Không thể vượt sông lớn.
Tượng truyện nói: Sự tốt lành của việc ở yên giữ chính là do thuận theo và vâng theo bề trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục Ngũ: Khai hoang trồng trọt, sống qua ngày trong yên ổn; gieo quẻ được điềm lành. Gặp hào này thì không nên vượt sông bằng đường thủy.
Tượng từ nói: Sống yên ổn và giữ đạo chính được tốt lành vì người ấy biết an phận, theo đúng đạo và phục tùng bề trên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này sẽ có chỗ nương tựa, công việc có thể thành, nhưng không được đi thuyền vượt nơi nguy hiểm. Người làm quan nhờ người khác mà lập được công, giữ được địa vị.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nên cố thủ, tiến gấp thì khó thành.
Tài vận: Buôn bán lưu động bất lợi, nhưng có thể làm thương nghiệp.
Gia trạch: Ở nơi núi non thì thích hợp hơn; theo một đường lối là tốt lành.
Sức khỏe: Nên ở yên tĩnh dưỡng; lao lực thì khó chữa.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Ngũ động, biến thành quẻ 42 của Chu Dịch: quẻ Ích, Phong Lôi Ích. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Chấn ở dưới và Tốn ở trên. Tốn là gió; Chấn là sấm. Gió sấm lay động mãnh liệt, thế càng lúc càng mạnh; sấm càng vang, gió và sấm cùng giúp nhau tăng trưởng. Quẻ này trái với quẻ Tổn. Nó làm tổn bớt bên trên để làm lợi cho bên dưới, còn quẻ Tổn làm tổn bớt bên dưới để làm lợi cho bên trên. Hai quẻ trình bày nguyên tắc tổn và ích.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Di, hào từ: Lục Ngũ: Trái với lẽ thường; ở yên giữ chính thì tốt lành, không thể vượt sông lớn.
Giải nghĩa hào từ “trái với lẽ thường”: đi ngược lại đạo lý thông thường.
Ý nghĩa hào từ này là: tuy trái với lẽ thường của việc nuôi dưỡng, nhưng nếu kiên trì giữ đạo chính thì sẽ tốt lành. Không nên vượt qua sông lớn ở nơi xa.
Hào này đưa ra lời khuyên rất tốt cho những người lãnh đạo năng lực không đủ, tư chất mềm yếu: hãy thuận theo và vâng theo bề trên.
Xét theo tượng quẻ, Lục Ngũ là hào âm ở vị trí dương của quân chủ, lại không có chính ứng, nên khó nuôi dưỡng trăm họ. Trong một đơn vị, điều đó có nghĩa là khó đem lại đãi ngộ tốt cho nhân viên. Tuy vậy, Lục Ngũ có một chỗ dựa tốt, hay nói cách khác là viện trợ bên ngoài, chính là Thượng Cửu.
Tượng truyện phân tích rằng: “Sự tốt lành của việc ở yên giữ chính” là do thuận theo người hiền có vẻ đẹp của sự cương kiện.
Tuy Lục Ngũ tư chất mềm yếu, năng lực thiếu hụt, nhưng vì ở ngôi quân chủ, nếu biết trọng dụng người hiền tài và tiếp thu đúng đắn lời khuyên của hiền thần thì sẽ tốt lành. Tuy nhiên, do năng lực bản thân có hạn, tốt nhất nên lui về giữ thành quả đã có,
Nếu cố chấp, tự cho mình đúng, khoe sức hiếu thắng thì kết quả nhất định khó được như ý.
Người được hào này, nếu là lãnh đạo, phải đánh giá đúng năng lực của mình. Nếu tư chất của bản thân chỉ ở mức bình thường,
năng lực chỉ ở mức thường, thì phải trọng dụng người tài và lắng nghe ý kiến người khác. Hơn nữa, hãy an phận thủ thường, đừng mở rộng quy mô hay tiến vào ngành nghề mới; nếu không sẽ chuốc lấy tai họa.
Lục Ngũ: Trái với lẽ thường; ở yên giữ chính thì tốt lành, không thể vượt sông lớn.
Tượng truyện nói: Sự tốt lành của việc ở yên giữ chính là do thuận theo và vâng theo bề trên.
Ý nghĩa kinh văn là: trái với lý thuyết dưỡng sinh, nhưng ở yên giữ đạo chính thì tốt; không được lội qua sông lớn.
Ý nghĩa Tượng từ là: sự tốt lành của việc ở yên giữ đạo chính là vì Lục Ngũ mềm thuận vâng theo người hiền ở Thượng Cửu.
Lục Ngũ ở ngôi quân vương nhưng không có thực quyền; đại quyền vẫn nằm trong tay Thái thượng hoàng, nên chỉ có thể giữ đạo chính và khó làm nên việc lớn. Cảnh ngộ của Lục Ngũ giống Hán Vũ Đế khi mới lên ngôi, lúc quyền lực chính trị nằm trong tay Đậu Thái hậu.
Đậu Thái hậu yêu thích tư tưởng Lão Trang, vì vậy Hán Vũ Đế tuy muốn trị vì có thành tựu vẫn không dám đề xuất. Chỉ sau khi Đậu Thái hậu qua đời, ông mới có thể thực hiện hoài bão chính trị của mình.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ hai mươi bảy trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng Cửu. Nhờ đó mà được nuôi dưỡng; nguy hiểm nhưng tốt lành. Có lợi khi vượt sông lớn.
Tượng truyện nói: Nhờ đó mà được nuôi dưỡng, nguy hiểm nhưng tốt lành, vì sẽ có đại khánh.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Cửu: Theo đúng đạo sống, trước gian nan mà sau tốt lành. Gặp hào này thì có lợi khi vượt sông.
Tượng từ nói: Theo đúng đạo sống, trước gian nan sau tốt lành, vì người lương thiện cuối cùng sẽ nhận được thiện báo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này mưu việc thành công, làm gì cũng thuận lợi. Người làm quan được tước lộc vinh hiển; người học hành đạt thành tích tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thận trọng và nỗ lực thì có thể thành công.
Tài vận: Kinh doanh vất vả mới có thu hoạch.
Gia trạch: Cả nhà bình an.
Sức khỏe: Tuy nguy hiểm nhưng không gây trở ngại.

Quẻ biến của hào Thượng Cửu
"周易第27卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng Cửu động, biến thành quẻ 24 của Chu Dịch: quẻ Phục, Địa Lôi Phục. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Chấn ở dưới và Khôn ở trên. Chấn là sấm, là động; Khôn là đất, là thuận. Động thì thuận, thuận theo tự nhiên. Cái động nằm trong sự thuận; dương ở trong, âm ở ngoài, vận động tuần tự, tiến lui tự do, có lợi cho việc tiến lên.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Di, hào từ: Thượng Cửu: Nhờ đó mà được nuôi dưỡng; nguy hiểm nhưng tốt lành, có lợi khi vượt sông lớn. Giải nghĩa hào từ
“Do” nghĩa là thông qua, nhờ vào. “Lệ” chỉ sự nguy hiểm.
Ý nghĩa hào từ này là: Trăm họ trong thiên hạ đều dựa vào sự nuôi dưỡng của người ấy để an cư lạc nghiệp. Gánh trọng trách như vậy, nhất thiết phải đề phòng nguy hiểm, luôn cảnh giác thì mới được tốt lành; nhờ đó mới vượt qua muôn vàn gian nan, giống như thuận lợi vượt sông lớn.
Năng lực càng lớn, trách nhiệm càng nặng; những người như vậy thường được xem là nhân vật anh hùng. Hào Thượng Cửu chỉ chính con người ấy. Trong quẻ Di, các hào khác bên dưới đều mong nhờ Thượng Cửu nuôi dưỡng, nên có thể nói Thượng Cửu gánh trọng trách. Hào này rất giống Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, đặc biệt sau khi Lưu Bị qua đời, Hậu chủ Lưu Thiện yếu đuối, bất tài. Nội chính, ngoại giao, yên định đất nước và cứu giúp dân chúng đều do Gia Cát Lượng đảm đương. Ông luôn mang lòng cảnh giác trước hiểm nguy, xử sự thận trọng, tận tụy, để lại tiếng thơm muôn đời.
Người được hào này, tuy không phải ông chủ trong đơn vị nhưng là trụ cột, gánh trọng trách từ trên xuống dưới. Nên giữ lòng cảnh giác trước nguy hiểm, bên ngoài dốc hết sức thành tâm, cuối cùng sẽ được tốt lành.
Người được hào này nhờ tuân thủ quy luật sinh hoạt đúng đắn và đạo dưỡng sinh, sau khi rèn luyện thì bệnh tật trong người tiêu trừ, sức khỏe hồi phục, được tốt lành và có thể ra ngoài hoặc đi du lịch.
Thượng Cửu ở địa vị cực kỳ cao, tuy được hưởng sung sướng và ưu đãi, nhưng nguy cơ suy thoái đã cận kề nên dường như lâm vào cảnh nguy hiểm. Tuy vậy, nó có chính ứng với Lục Tam,
Thượng Cửu: Nhờ đó mà được nuôi dưỡng; nguy hiểm nhưng tốt lành, có lợi khi vượt sông lớn.
Tượng truyện nói: Nhờ đó mà được nuôi dưỡng, nguy hiểm nhưng tốt lành, vì sẽ có đại khánh.
Ý nghĩa kinh văn là: nhờ đó được dưỡng sinh, bề ngoài nguy hiểm nhưng thực ra tốt lành, có lợi cho việc vượt sông lớn.
Ý nghĩa Tượng từ là: nhờ đó được dưỡng sinh, bề ngoài nguy hiểm nhưng thực ra tốt lành, vì có những việc vui mừng.
Nói cách khác, có thể nhận được sự ủng hộ của những người bên dưới hoặc các thế lực khác, nhờ đó có lợi cho việc vượt qua trở ngại lớn và thay đổi hoàn cảnh bằng hành động. Vì có thế lực khác hỗ trợ, hành động cuối cùng sẽ thành công, nên kết cục sẽ tốt lành.