Huyền học & Triết học

Tử Vi Đẩu Số 01

Tử Vi Đẩu Số 01

Phương pháp cơ bản của thuật đoán mệnh Tử Vi Đẩu Số là dựa vào năm, tháng, ngày, giờ sinh của một người để xác định cung Mệnh, từ đó suy đoán địa vị, nhân cách, giàu nghèo và vận thế suốt đời. Sau đó lần lượt an các cung Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Nữ, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức và Phụ Mẫu để lập lá số Tử Vi Đẩu Số; qua việc quan sát tổ hợp tinh diệu ở mỗi cung, có thể biết được quỹ đạo cuộc đời của người đó;Cuối cùng, thông qua sự dẫn động của Tứ Hóa tinh (Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Kỵ), suy diễn vận thế và diễn trình cuộc đời. [1]
Học thuyết dự đoán Tử Vi Đẩu Số cho rằng tính cách quyết định vận mệnh của con người, hoàn cảnh của mỗi người đều phụ thuộc vào nội tâm. Cùng trải qua một việc, cảm nhận của mỗi người không giống nhau; cùng làm một việc, suy nghĩ của mỗi người lại khác nhau; cùng nói một lời, cảm nhận mà mỗi người đem lại cho người khác cũng khác nhau. Đó chính là cấu tạo tâm tính khác biệt của nhân loại.Môn dự đoán Tử Vi Đẩu Số dung hợp các nội dung như thiên văn, địa lý, phong thủy, quẻ tượng Chu Dịch, chiêm tinh học, xã hội học, tâm lý học và những lĩnh vực khác; đồng thời chú trọng hơn đến mối quan hệ giữa con người và môi trường. Trong rất nhiều thuật số Chu Dịch ở Trung Quốc, có thể nói đây là một môn độc đáo.
Tên tiếng Trung: Tử Vi Đẩu Số
Tên nước ngoài: Tử Vi Đẩu Số (Chiêm tinh học Tử Vi)
Ngành học: chiêm tinh học, tinh tượng học, học thuyết dự đoán
Phương pháp suy tính: an mười hai cung, định sao Tử Vi, v.v.
Mục lục
1Lịch sử
2Kinh điển
3Nội dung cơ bản
4Phương pháp phân tích Đẩu Số
5Mười bốn chính tinh
6Mười hai cung vị
7Đặc điểm của Tử Vi Đẩu Số
8Nguyên lý phát minh
9Phương pháp học tập
Lịch sử
Đăng tải
Chỉnh sửa
So với Bát Tự Tứ Trụ đoán mệnh, Tử Vi Đẩu Số có nguồn gốc sớm hơn, nhưng cũng cùng nguồn gốc từ Chu Dịch, do đó cùng được gọi là hai trường phái lớn của mệnh lý học truyền thống Trung Hoa; hơn nữa, thuật đoán mệnh Tử Vi Đẩu Số bao hàm thiên văn, địa lý, phong thủy, ngũ hành, lại mang hàm ý hiện đại chú trọng đến môi trường xã hội và quan hệ giữa người với người, nổi bật rực rỡ trong văn hóa dự đoán huyền bí của Trung Hoa, đứng đầu trong "Năm Đại Thần Số", được mệnh danh là "Trung Hoa Đệ Nhất Thần Số" [1].
Thời cổ đại, Tử Vi Đẩu Số được tôn xưng là “môn học của đế vương”. Vào thời Minh Thanh, trong hoàng cung có đặt “Khâm Thiên Giám” để nghiên cứu môn này. Những người có thể tiếp cận Tử Vi Đẩu Số chỉ giới hạn ở hoàng tộc hoặc các quan viên do hoàng đế đích thân chỉ định. Đây cũng là lý do Bát Tự được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Trung Quốc, còn Tử Vi Đẩu Số lại ít được biết đến.
Về sau, khi Quốc Dân Đảng chuyển vào Đài Loan, họ đã đưa theo một số lượng lớn quý tộc giàu có và danh tiếng, trong đó không ít người là hậu duệ của hoàng tộc phong kiến. Các sách vở liên quan đến Tử Vi Đẩu Số cũng theo đó chảy vào Đài Loan. Vì vậy, tại Đài Loan đã xuất hiện đông đảo chuyên gia, học giả nghiên cứu môn này, khiến mức độ phổ biến của Tử Vi Đẩu Số ở Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan cao hơn đại lục rất nhiều. Bởi Tử Vi Đẩu Số là một môn thuật số bí truyền, so với phép đoán mệnh Bát Tự thì…
Tử Vi Đẩu Số tuy nổi lên vào cuối triều Thanh, nhưng cùng với sự biến đổi của thời đại, sau những năm bảy mươi và tám mươi của thế kỷ trước, Tử Vi Đẩu Số đã phát triển mạnh mẽ tại Hồng Kông và Đài Loan. Cùng với Bát Tự học, môn này được gọi là hai hiển học lớn trong mệnh lý học Trung Hoa hiện đại. Do nhiều đệ tử Tử Vi Đẩu Số thời nay đã công khai những bí quyết vốn được giữ kín và không truyền ra ngoài, Tử Vi Đẩu Số thậm chí còn có xu thế vượt lên trên Bát Tự học.
Kinh điển
Bản tin
Chỉnh sửa
Do môn dự đoán Tử Vi Đẩu Số không được công khai như Tứ Trụ Bát Tự, số người biết đến Tử Vi Đẩu Số tương đối ít, nên trước tác còn lại càng ít hơn. Những kinh điển Tử Vi Đẩu Số lưu hành phổ biến hơn là 『Đẩu Số Toàn Thư』 và 『Đẩu Số Toàn Tập』 có niên đại khoảng 200 năm trước, bao gồm thiên Đẩu Số trong 『Tứ Khố Toàn Thư』, cùng một số bài phú nổi tiếng như 『Thái Vi Phú』, 『Cốt Tủy Phú』, v.v.
Nội dung cơ bản
Bản tin
Chỉnh sửa
Tử Vi Đẩu Số và phép đoán mệnh Bát Tự không phải là cùng một môn thuật số. Phép đoán mệnh Tứ Trụ dùng Thiên Can và Địa Chi để suy diễn, nhưng cả hai đều có nguồn gốc từ Chu Dịch. [1]
Tử Vi Đẩu Số xây dựng tư tưởng về con người dựa trên tính chất của các hằng tinh, còn gọi là chủ mệnh. Nó cấu tạo vận khí của con người bằng mười hai Trường Sinh, còn gọi là chủ vận. Vì trong hệ thống này, sao Tử Vi đứng đầu các sao nên được đặt tên như vậy. Khi sao Tử Vi di chuyển đến Thiên Tiền, con người hiện nay lấy Thiên Tiền làm chủ mệnh; điều này còn gọi là Dịch Túc. Mệnh chủ không có quan hệ trực tiếp với sao Tử Vi.
Đặc điểm rõ rệt của Tử Vi Đẩu Số là có thể giải thích cụ thể cát hung, sang hèn, thuận nghịch và họa phúc trong vận mệnh của một người, thay vì chỉ nắm bắt một cách trừu tượng.
Thông qua mười hai cung trên mệnh bàn, Tử Vi Đẩu Số dự đoán một cách có hệ thống và toàn diện các mối quan hệ xã hội phức tạp cùng những trải nghiệm cá nhân trong suốt cuộc đời một người. Hệ thống logic chặt chẽ, vừa tương đối dễ tiếp cận và mang tính công thức, vừa có thể biến hóa diễn giải; đồng thời có tính số lý khá cao và chiều sâu đáng kể. Vì vậy, Tử Vi Đẩu Số bớt đi phần dung tục, huyền hư và mê tín. Cùng với làn sóng toàn cầu ngày càng dâng cao của “cơn sốt Kinh Dịch”, “cơn sốt mệnh lý” và “cơn sốt dự đoán thông tin”, môn này đã trở nên thịnh hành tại Đài Loan, Hồng Kông, Đông Nam Á và các cộng đồng người Hoa ở hải ngoại.
Phương pháp phân tích Đẩu Số
Bản tin
Chỉnh sửa
Phân tích từ mệnh bàn Tử Vi tiên thiên: Liêm Trinh độc tọa tại Mệnh cung, đồng thời cư nơi miếu vượng, lại hội tọa Văn Khúc Hóa Khoa và sát tinh Đà La; đối cung của Mệnh cung có Tham Lang hội chiếu. Tham Lang là sao của tài hoa và nghệ thuật. Xét cách cục này, người đó phần lớn có cá tính mạnh, thông minh lanh lợi, yêu cầu khá cao, thường dùng tiêu chuẩn của bản thân để đo lường người khác. Người này có năng lực nổi bật và năng khiếu nghệ thuật. Với nữ mệnh, Liêm Trinh độc tọa tại Thân cung chủ về người đoan trang hiền thục, có thể quán xuyến cả sự nghiệp lẫn gia đình; ý chí phấn đấu mạnh và sức sáng tạo dồi dào.Tuy nhiên, vì Liêm Trinh và Tham Lang đều là sao Đào Hoa, người này thường có duyên với người khác giới khá tốt, ở bên ngoài cũng thường giỏi giao tiếp. Người này phần nhiều có dung mạo đẹp hoặc chú trọng ăn mặc, nên vượng đào hoa.
Phân tích từ Thiên Di cung: Tham Lang nhập tọa tại Thiên Di cung, đồng thời hội tọa cát diệu Tả Phù, Thiên Việt và sát tinh Linh Tinh. Xét cách cục này, người đó có năng lực biểu đạt mạnh, nhân duyên bên ngoài khá tốt và nhiều bạn bè. Khi ở bên ngoài thường được quý nhân là đồng trang lứa và phụ nữ lớn tuổi giúp đỡ. Người này nhiều biến động, không ngừng có sở thích và mục tiêu theo đuổi mới, thường bận rộn vì chuyển nghề hoặc chuyển nhà. Ở bên ngoài vất vả nhưng thu được lợi ích từ gian lao; sau khi nỗ lực phấn đấu có thể đạt thành tựu bất ngờ. Làm việc bên ngoài có kế hoạch và mưu lược, được người khác hương đón nhận. Tuy nhiên, vì Thiên Di cung hội sát tinh Linh Tinh…Khi Tham Lang hội chiếu với Liêm Trinh ở cung đối, cả hai đều là sao Đào Hoa, người đó khi ra ngoài có nhiều người mến mộ, thường gặp nhiều thị phi, bản thân cũng có nhiều phiền não.
Phân tích từ Quan Lộc cung: Quan Lộc cung có Thiên Phủ và Vũ Khúc nhập tọa; Vũ Khúc, Thiên Phủ đều cư nơi miếu vượng, đồng thời hội tọa cát diệu Hữu Bật. Vũ Khúc là sao tài lộc, nên vận sự nghiệp tốt, làm gì cũng dễ có thu nhập cao, nhưng sự nghiệp thành đạt muộn.Đối với công việc, người này rất vững vàng và nghiêm túc, có ý chí tiến thủ, không sợ khó khăn, luôn nỗ lực không ngừng. Vũ Khúc cũng là sao biến động, nên giữa chừng dễ bị sa thải rồi phải tìm con đường khác. Vì Vũ Khúc và Thiên Phủ tại Quan Lộc cung cư Tý cung, còn Mệnh cung có Liêm Trinh, nên người này có chí hướng sự nghiệp mạnh, giỏi kinh doanh và quản lý; làm trong lĩnh vực tài chính, thuế vụ, doanh nghiệp lớn hoặc công chức thì khá nổi bật. Có cát diệu Hữu Bật hội chiếu, nên trong sự nghiệp thường được bạn bè hỗ trợ, địa vị cao, dễ đạt cả danh lẫn lợi. Tuy nhiên, vì Văn Xương Hóa Kỵ ở đối cung của Quan Lộc cung hội chiếu, người này thường gặp rắc rối về giấy tờ; đặc biệt khi đảm nhiệm công vụ, nên xử lý theo phép công…Không nên mưu cầu tư lợi, trốn thuế hay kiếm lợi riêng, vì rất dễ vướng vào kiện tụng.
Phân tích từ Tài Bạch cung: Tài Bạch cung có Tử Vi và Thiên Tướng nhập tọa; tam phương tứ chính của Tài Bạch cung hội Văn Khúc Hóa Khoa. Xét cách cục này, Tử Vi không được xem là chính tài tinh, nên tài vận không đặc biệt vượng. Cách cục chủ nguồn tài dồi dào, tài vận ổn định; có thể nhờ người khác trợ giúp hoặc nhờ danh tiếng, tín dụng thương mại mà phát tài. Cả đời không thiếu tiền bạc, nhưng chưa chắc đã cực kỳ giàu có.Người này giỏi tích trữ để làm giàu, tài vận cũng tốt, có cơ hội phát tài đột ngột. Trong việc quản lý tiền bạc, họ có cách kinh doanh độc đáo của riêng mình. Tài Bạch cung hội Văn Khúc Hóa Khoa, chủ về sau khi có danh tiếng thì phát tài, chủ sự sung túc. Thiên tài vận tốt, thích hợp với những việc mang tính đầu cơ như trúng thưởng, phần lớn có thể trở nên giàu có. Nguồn tiền bạc trong sạch, chi tiêu có kế hoạch, thường có những khoản tài bất ngờ như thù lao hoặc tiền thưởng.
Phân tích từ Huynh Đệ cung: Huynh Đệ cung là cung vô chính diệu; tại bản cung có hai sát diệu là Hỏa Tinh và Địa Không nhập tọa. Vì Huynh Đệ cung là cung vô chính diệu nên mượn Thái Dương và Thái Âm ở đối cung nhập tọa. Huynh Đệ cung không chỉ chỉ anh chị em ruột mà còn chỉ bạn bè, đồng nghiệp. Xét cách cục này, người đó dễ bị anh em, bạn bè liên lụy hoặc làm tổn thương, vì vậy không nên quá thân thiết với bạn bè; giữ một khoảng cách nhất định sẽ tốt hơn. Anh em của đương số có tổn thất và tai họa.
Phân tích từ cung Bằng Hữu, cung này có Thái Dương hóa Quyền hội với Thái Âm nhập tọa. Thái Dương hóa Quyền nhập cung Bằng Hữu chủ về có nhiều bạn nam, phần lớn là ông chủ, cấp trên hoặc những người tương tự. Vì Thái Dương hội Thái Âm nhập tọa nên bên ngoài có khá nhiều bạn mới cả nam lẫn nữ, tính cách bạn bè cũng đa dạng. Tuy nhiên, do đối cung của cung Bằng Hữu có hai sát diệu hội chiếu, chủ về dễ bị bạn bè làm tổn thương, cũng dễ phát sinh thị phi, tranh chấp và mâu thuẫn. Vì vậy không nên quá thân thiết với những người bạn mới quen lần đầu.
Phân tích từ cung Điền Trạch, cung Điền Trạch có Thiên Đồng độc tọa, đồng thời Thiên Mã cũng nhập cung Điền Trạch. Thiên Đồng là sao coi trọng hưởng thụ tinh thần, không có lợi cho việc mua sắm điền sản, nhưng quan hệ với hàng xóm tốt. Có tính chất tay trắng dựng nghiệp, có thể tích lũy tài sản; tài sản ban đầu ít rồi tăng dần, sau trung niên và về già sẽ sung túc. Do Thiên Mã nhập cung Điền Trạch, cả đời phần nhiều sẽ nhiều lần chuyển nhà, hoặc thường xuyên thay đổi nơi ở, công ty, hay sửa sang và thay đổi cách bài trí trong nhà.
Phân tích từ cung Tử Nữ, cung Tử Nữ có Thiên Lương độc tọa. Thiên Lương ở hãm địa, con cái ôn hòa, hiếu thuận, bình tĩnh, điềm đạm; năng lực học tập khá tốt, có khả năng lãnh đạo, chỉ huy và danh tiếng xã hội. Chúng không muốn dựa dẫm người khác, có hứng thú và tài năng về văn học nghệ thuật, có thể lập thân bằng kỹ thuật. Thiên Lương có tính nguyên tắc rất mạnh, con cái cũng rất có cá tính và chủ kiến, vì vậy trong giáo dục nên kiên nhẫn dẫn dắt, nếu không rất dễ hình thành tính cách phản nghịch.
Phân tích từ cung Phúc Đức, cung Phúc Đức có Phá Quân độc tọa, đồng thời hội với sát tinh Kình Dương. Xét cách cục này, người đó làm việc quyết đoán, dứt khoát, hiệu suất cao nhưng phải hao tâm tổn sức. Có tinh thần khai sáng và phấn đấu, cần cù không ngừng, mọi việc đều tự mình làm, không thể hưởng nhàn phúc, thường nhiều lo âu và suy nghĩ.
Phân tích từ Cung Phu Thê cho thấy Cung Phu Thê có Thất Sát nhập tọa, đồng thời hội cùng các cát tinh Thiên Khôi và Văn Xương Hóa Kỵ. Người phối ngẫu có cá tính mạnh mẽ, hiếu thắng và quan niệm thực tế về tình yêu, hôn nhân. Người này có yêu cầu khá cao; kết hôn sớm bất lợi, kết hôn muộn thì tốt hơn. Phối ngẫu lớn tuổi hơn bản thân sẽ phù hợp hơn. Có khả năng kết hôn với người nước ngoài, người khác tỉnh hoặc người xa quê; hai vợ chồng có một khoảng cách tuổi tác nhất định thì tốt. Phối ngẫu thông minh, có năng lực và trợ giúp bản thân rất nhiều, nhưng vẫn chủ về tình cảm trước hôn nhân gặp nhiều trắc trở. Phối ngẫu dễ có nhiều đào hoa bên ngoài, đồng thời cũng chủ về nhiều phiền toái liên quan đến giấy tờ và hợp đồng.
Phân tích từ cung Phụ Mẫu, cung Phụ Mẫu là cung vô chính diệu. Bản cung có cát tinh Lộc Tồn nhập tọa. Vì cung Phụ Mẫu là cung vô chính diệu nên mượn Thiên Cơ và Cự Môn hóa Lộc từ đối cung nhập tọa. Xét cách cục này, người đó phần nhiều có di truyền hoặc giáo dục tốt, nhưng duyên với cha mẹ mỏng, có hình khắc; thời nhỏ cha mẹ dễ gặp bệnh tật hoặc tai họa. Do Cự Môn hóa Lộc ở cung Phụ Mẫu, cha mẹ cũng chủ về cấp trên và lãnh đạo trong công việc. Vì vậy, nên giao du nhiều hơn với người lớn hơn mình một thế hệ; phần nhiều họ sẽ mang đến cơ hội tốt hoặc cơ hội tăng tài lộc.Cự Môn đại diện cho miệng, cũng chủ về kiếm tiền nhờ lời nói, chẳng hạn những công việc có tính chất phải nói.
Phân tích từ Cung Tật Ách cho thấy Cung Tật Ách có Thiên Cơ và Cự Môn nhập tọa, đồng thời hội với sát tinh Địa Kiếp. Khi Thiên Cơ và Cự Môn nhập Cung Tật Ách, Mộc khắc Thổ, thông thường chủ về chứng khó tiêu, trào ngược, đau do khí ở dạ dày, tức ngực, đầy bụng, chóng mặt do Can và Vị mất cân bằng. Khả năng mắc viêm dạ dày ruột cũng cao hơn. Chức năng bẩm sinh của Can và Vị khá yếu, cần đặc biệt chú ý bảo dưỡng. Trước đây, thông qua việc xem tướng tay của một người, có thể thấy cơ thể đang ở trạng thái sức khỏe dưới mức tối ưu, nguyên khí bẩm sinh không đủ và thường mắc bệnh đường tiêu hóa.
Tục ngữ có câu: Nhất mệnh, nhì vận, tam phong thủy, tứ tích âm đức, ngũ đọc sách. Vận mệnh chính là xu hướng, và xem mệnh chính là dự đoán xu hướng, hướng dẫn mọi người tìm cát tránh hung, nương theo xu thế mà hành động, đây mới chính là ý nghĩa của việc dự đoán mệnh lý.
Mười bốn Chính Tinh
Phát sóng
Chỉnh sửa
Một. Tử Vi thuộc Âm Thổ. Là Đế Tọa, biểu tượng tôn quý, chủ về quan lộc. Có thể giải ách, kéo dài tuổi thọ, chế hóa. Tính cách: dễ bị lời người khác chi phối, khí thế mạnh và áp đảo, trung dung, đôn hậu nhưng cao ngạo. Có tính chất bình thản, lạnh nhạt và tôn quý.
Hai. Tham Lang thuộc Âm Thủy và Dương Mộc. Chủ về phúc họa, Đào Hoa Sát, dục vọng và nghệ thuật biểu diễn. Tính cách: hào sảng, tham dục nặng, thay đổi thất thường, thích văn nghệ và đầu cơ. Có tính chất biết hổ thẹn, quái dị và phóng đãng.
Ba. Cự Môn thuộc Âm Thủy. Chủ về thị phi, hóa khí thành ám. Đại diện cho tài ăn nói và kinh doanh ngầm. Tính cách: tinh ranh, giỏi biện luận, khắc bạc, nhiều thị phi khẩu thiệt, lời lẽ sắc bén. Có tính chất trọng chữ tín, e sợ và tà lệch.
Bốn. Sao Liêm Trinh thuộc Âm Hỏa và Dương Mộc. Khí hóa thành tù, đại diện cho đổ máu và các thiết bị chính xác. Tính cách: thẳng thắn, không câu nệ diện mạo, phóng đãng, tinh ranh và giỏi tính toán, cứng rắn, tùy tiện. Có đặc tính nghèo nàn, khắc khổ và gian xảo.
Năm. Vũ Khúc thuộc Âm Kim. Chủ về tiền tài, tài bạch. Tính cách: cứng cỏi, chính trực; khi lạc hãm thì ngoan cố, tự cho mình phải. Cương nghị, quyết đoán, nhân hậu, bướng bỉnh và hiếu thắng. Có tính chất trọng nghĩa, khắc nghiệt và hào hùng.
Sáu. Phá Quân thuộc Âm Thủy và Âm Kim. Đại diện cho nơi chốn hỗn tạp, công việc khai sáng và biến động. Tính cách: gan dạ, tràn đầy sức lực, tích cực tiến thủ. Có tính chất dũng cảm và nóng vội.
Bảy. Sao Thất Sát thuộc Âm Thủy và Âm Kim. Đây là sao Tướng, chủ về sự nghiêm khắc và sát phạt. Tính cách: khá tự cao, lý trí, không dễ khuất phục người khác. Dũng cảm, đa nghi, biến đổi, mang phong thái hiệp khách. Có đặc tính trung trinh, hung bạo và mạnh mẽ.
Tám. Thiên Tướng thuộc Âm Thủy. Chủ về quan lộc, hóa khí thành ấn. Đại diện cho mệnh của lại viên và sự đủ đầy về áo cơm. Tính cách: văn nhã, đôn hậu, xa hoa, như tắc kè hoa. Có tính chất thành tín và châm biếm lạnh lùng.
Chín. Sao Thiên Đồng thuộc Dương Thủy. Có tác dụng giải ách, chế hóa và chuyển hóa khó khăn, chủ về phúc đức. Tính cách: cởi mở, hòa nhã, lười biếng, dễ gần, ngây thơ, hòa khí, đa biến và ôn hòa.
Mười. Thiên Cơ thuộc Âm Mộc. Chủ về huynh đệ, ích thọ, hóa khí thành thiện. Tính cách: nhanh nhạy, lương thiện, khoa trương, hay tính toán, dễ thay đổi, ứng biến giỏi; lạc hãm thì gian xảo. Có tính chất trí tuệ, đa nghi và hiền đức.
Mười một. Sao Thiên Lương thuộc Âm Thổ. Đây là sao Trường Thọ, khí hóa thành che chở. Có phúc báo dày, đồng thời có tác dụng giải ách và chế hóa khó khăn. Tính cách: từng trải, đôn hậu, cô cao, âm thầm giữ nề nếp cũ. Có đặc tính trường thọ và chất phác, ngay thẳng.
Mười hai. Thiên Phủ thuộc Dương Thổ. Đại diện cho tầng lớp hưởng lương và các bộ phận về đất đai. Chủ về tài bạch, điền trạch. Tính cách: ôn hòa, ổn trọng, nhút nhát, chí cao khí ngạo. Có tính chất lễ phép, làm bộ và tôn quý.
Mười ba. Thái Dương thuộc Dương Hỏa. Đại diện cho năng lượng, động lực và ngoại giao. Là Phụ Tinh, Phu Tinh, biểu tượng quyền quý, chủ về quan lộc. Tính cách: bác ái, cương trực, nóng nảy, thích phô trương, hiếu động, hết lòng trung thành. Có tính chất nhân nghĩa, mãnh liệt và lương thiện.
mười bốn. Sao Thái Âm thuộc Thủy âm. Đại diện cho du lịch, vận tải và dịch vụ làm đẹp; chủ về tiền bạc và điền trạch. Tính cách: tao nhã, yếu mềm, u ám, sạch sẽ, lắm lời. Có đặc tính giàu tình cảm, lười biếng và yêu mị.
Như vậy là đã giới thiệuครบ toàn bộ mười bốn chính tinh.
Mười hai cung
Phát sóng
Biên tập
Phân loại 12 cung
Lá số Tử Vi Đẩu Số được chia thành 12 cung: cung Mệnh, cung Phụ Mẫu, cung Phúc Đức, cung Điền Trạch, cung Quan Lộc, cung Nô Bộc, cung Thiên Di, cung Tật Ách, cung Tài Bạch, cung Tử Tức, cung Phu Thê và cung Huynh Đệ.
Trong đó, cung Mệnh, cung Phúc Đức, cung Quan Lộc, cung Thiên Di, cung Tài Bạch và cung Phu Thê là sáu cường cung, đại diện cho mô thức vận mệnh và sự phát triển của đương sự;
Cung Phụ Mẫu, cung Điền Trạch, cung Nô Bộc, cung Tật Ách, cung Tử Tức và cung Huynh Đệ là sáu nhược cung, đại diện cho thái độ và kỳ vọng đối với người khác.
Phân tích tác dụng của 12 cung
Cung Mệnh: quyết định những đặc điểm tính cách của một người trong suốt cuộc đời, đồng thời cũng ảnh hưởng đến đặc điểm của 11 cung còn lại.
Cung Phụ Mẫu: Ảnh hưởng đến mức độ duyên phận với bậc trưởng thượng, cũng như kỳ vọng trong nội tâm đối với cha mẹ; đại diện cho năng lực học tập cao hay thấp, đồng thời cho biết dung mạo đẹp hay xấu.
Cung Phúc Đức: Ảnh hưởng đến thái độ sống, nhân sinh quan, giá trị quan, mức độ dục vọng và phúc phận của một người, cùng với sở thích cá nhân.
Cung Điền Trạch: Ảnh hưởng đến ham muốn sở hữu bất động sản và thái độ đầu tư của một người.
Cung Quan Lộc: Ảnh hưởng đến sự phát triển sự nghiệp, tính chất công việc phù hợp, thăng chức, khởi nghiệp và vận quý nhân nơi công sở.
Cung Bằng Hữu: Ảnh hưởng đến cách một người giao tiếp với bạn bè, phạm vi giao du và vận được bạn bè hỗ trợ.
Cung Thiên Di: Ảnh hưởng đến năng lực kết bạn và mở rộng quan hệ xã hội, cơ hội phát triển, cùng vận gặp quý nhân hay tiểu nhân.
Cung Tật Ách: Phân tích thể chất bẩm sinh, cũng như thái độ và mức độ coi trọng sức khỏe của một người.
Cung Tài Bạch: Quyết định tài vận, mô thức quản lý tài chính, năng lực kiếm tiền và khả năng gánh chịu rủi ro.
Cung Tử Tức: Ảnh hưởng đến kỳ vọng đối với con cái, phong cách giáo dục, mô thức tương tác cha mẹ – con cái và mức độ duyên phận.
Cung Phu Thê: Ảnh hưởng đến mô thức tình cảm, quan niệm yêu đương và hôn nhân, độ sâu duyên tình và mẫu người mình ưa thích.
Cung Huynh Đệ: Ảnh hưởng đến mức độ duyên tình giữa một người với anh chị em ruột và mức độ tương trợ lẫn nhau.
Cung Vô Chính Diệu
Trong lá số Tử Vi Đẩu Số, không phải cung nào cũng có chính tinh tọa thủ. Khi một số cung trong lá số không có chính tinh nhập tọa, hiện tượng đó gọi là “cung vô chính diệu”, cần mượn chính tinh ở cung đối diện để luận thay.
Đặc điểm của Tử Vi Đẩu Số
Phát sóng
Biên tập
Tử Vi Đẩu Số là một trong những chi phái quan trọng nhất của mệnh lý học truyền thống Trung Hoa. Phương pháp này căn cứ vào năm, tháng, ngày và giờ sinh của một người để xác định vị trí của mười hai cung, lập thành lá số; kết hợp tổ hợp các sao ở từng cung, liên hệ với hào quẻ của Chu Dịch, thiên văn, địa lý và phong thủy để dự đoán diễn trình vận thế, cát hung họa phúc của một người. [2]
So với phép đoán mệnh Tứ Trụ, nguồn gốc của Tử Vi Đẩu Số còn sớm hơn; nhưng vì cùng một nguồn gốc rồi phân lưu, nên được gọi chung là hai phái lớn của mệnh lý học truyền thống Trung Hoa. Hơn nữa, thuật đoán mệnh Tử Vi Đẩu Số vừa mang màu sắc thần bí của vũ trụ quan Đạo gia, vừa có ý nghĩa cận đại coi trọng môi trường xã hội và các mối quan hệ giữa người với người. Trong văn hóa thần bí Trung Hoa, nó nổi bật đặc biệt, đứng đầu “Ngũ Đại Thần Số”, được mệnh danh là “Thần Số Đệ Nhất Thiên Hạ”.
Phép đoán mệnh Tứ Trụ Bát Tự sử dụng Thiên Can và Địa Chi để suy diễn tương lai. Sự kết hợp của chúng đa dạng và phức tạp, nhưng cũng tương tự như các công thức toán học; chỉ có điều ý nghĩa của mỗi ký hiệu biến đổi theo nhiều cách, nên người luận mệnh phải khai thác nhiều loại thông tin từ nhiều phương diện. Điều này giống như trích xuất một chuỗi mã từ một cơ sở dữ liệu khổng lồ, rồi phân tích xu hướng của những mô thức tình huống được tạo thành bởi sự kết hợp các ý nghĩa khác nhau trong chuỗi mã ấy. Có thể nói phương pháp này thiên về lý thuyết xác suất; đó chính là cách thức đoán mệnh Tứ Trụ Bát Tự.
Trong khi đó, Tử Vi Đẩu Số bao quát nhiều lĩnh vực như Ngũ Hành Chu Dịch, tinh tượng học, phong thủy học, thống kê học, xã hội học và tâm lý học. Nó giống như y học cổ truyền: vừa có Ngũ Hành Chu Dịch, vừa có thống kê học và dược lý học. Tử Vi Đẩu Số đặc biệt nhấn mạnh chuỗi quan hệ: tâm lý quyết định tính cách, tính cách quyết định suy nghĩ, suy nghĩ quyết định hành vi, hành vi quyết định vận mệnh, và vận mệnh quyết định thành bại.
Nguyên lý hình thành
Phát sóng
Biên tập
Tử Vi Đẩu Số được hình thành từ việc hợp nhất và cải tiến “Cầm Đường Ngũ Tinh Thuật” cùng “Thập Bát Phi Tinh” vào thời Đường. [2]
Trước Tử Vi Đẩu Số, thuật Ngũ Tinh Cầm Đường từng rất thịnh hành; cũng như thuật Bát Tự Tử Bình, thuật Ngũ Tinh sử dụng phương pháp lập lá số theo các tiết khí. Nguyên nhân cụ thể là cứ mỗi sáu mươi năm, bảy ngôi sao này trong không gian lại đại khái quay về những vị trí mà chúng từng ở trước đây:
1. Chu kỳ quỹ đạo của sao Kim là 1.62 năm, nhân với 37.03 thì xấp xỉ 1 hoa giáp;
2. Chu kỳ quỹ đạo của sao Mộc là 11.862 năm, nhân với 5.05 thì xấp xỉ 1 hoa giáp;
3. Chu kỳ quỹ đạo của sao Thủy là 0.32 năm, nhân với 187.5 thì xấp xỉ 1 hoa giáp;
4. Chu kỳ quỹ đạo của sao Hỏa là 1.9 năm, nhân với 31.57 thì xấp xỉ 1 hoa giáp;
5. Chu kỳ quỹ đạo của sao Thổ là 29.88 năm, nhân với 2.008 thì xấp xỉ 1 hoa giáp.
6. Chu kỳ quỹ đạo của Mặt Trăng là 0.08 năm, nhân với 750 thì xấp xỉ 1 hoa giáp.
Theo phép tính trên, không khó nhận ra rằng cứ mỗi hoa giáp, sáu ngôi sao này sẽ đại khái trở về vị trí cũ, nhưng không hoàn toàn trùng khớp với địa điểm trước đây mà vẫn có sai số. Trong đó, sao Kim, sao Mộc, sao Thổ và sao Thái Âm còn có thể chấp nhận được vì sai số không lớn; nhưng vị trí sao Thủy và sao Hỏa lại lệch khá xa. Vì vậy, bất kể dùng phương pháp tính nào, Ngũ Tinh Thuật cũng ngày càng mất chính xác. Quy sự thất sủng của Ngũ Tinh Thuật cho “thuật toán không chính xác” thực ra là đã trách oan các bậc tiên triết thời cổ.Việc tính toán và phân tích là vì “sự dao động vị trí của sao Thủy và sao Hỏa khiến quy luật hồi quy hoa giáp của tinh tượng mất chính xác”; bảy ngôi sao sai lệch hai ngôi thì đương nhiên không thể đạt độ chính xác cao hơn.
Khi “Cầm Đường Ngũ Tinh Thuật” dần mất đi độ chính xác, “Tử Vi Đẩu Số” ra đời. Khác với Ngũ Tinh Thuật sử dụng “quy luật luân hồi hoa giáp” và bảy sao “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Nhật, Nguyệt”, Đẩu Số sử dụng “phép luân hồi theo năm”, lấy “chính diệu Nam Bắc Đẩu” và hai sao “Thái Dương, Thái Âm” làm chủ thể.
“Luân hồi theo năm” của tinh diệu Nam Bắc Đẩu có những ưu điểm sau đây so với “luân hồi hoa giáp” của Ngũ Tinh:
1、Sai số khi an sao trong Tử Vi Đẩu Số nhỏ hơn. Khi so sánh ngày âm lịch cách đây 200 năm, tháng 2 ngày 17, với năm 2014, tháng 2 ngày 17, vị trí của các sao như Nam Đẩu và Bắc Đẩu trên bầu trời đều giống nhau; dù có sai lệch thì cũng rất nhỏ, nhỏ đến mức có thể bỏ qua;
2. Tử Vi Đẩu Số chỉ xem lịch Thái Âm, hoàn toàn không cần xét việc qua tiết khí, vì tiết khí được sắp theo vị trí của Mặt Trời. Cách an sao của Tử Vi Đẩu Số chỉ dựa vào vị trí của sao Tử Vi, hoàn toàn không liên quan đến vị trí của Mặt Trời.Tuy nhiên, vị trí của sao Tử Vi hầu như không chuyển động. Vào thời Bắc Tống, sao Tử Vi cách 【cực Bắc thiên thể chính xác】 6 độ, còn hiện nay 【chỉ cách chưa đến 1 độ】. Có thể thấy rằng sau 1000 năm, sao Tử Vi chỉ dịch chuyển 5 độ, mức độ này có thể xem là không đáng kể trong lá số (một cung là 30 độ).
3. Tử Vi Đẩu Số không quá coi trọng vị trí cụ thể của Mặt Trời, bởi trong triết lý hình thành Tử Vi Đẩu Số, việc Mặt Trời đã vượt qua 315 độ kinh hoàng hay ngày hôm đó đã lập xuân hay chưa đều không ảnh hưởng đến cách an chính diệu của Nam Đẩu và Bắc Đẩu. Điều cần xem chỉ là lúc sinh thuộc ban ngày hay ban đêm. [2]
Tử Vi Đẩu Số tiếp thu thuật toán an sao vào cung từ “Ngũ Tinh Thuật”, tiếp thu quy tắc luận mệnh “hiện thực hóa tinh diệu” từ “Thập Bát Phi Tinh”, đồng thời bổ sung nhiều yếu tố quan trọng trong thực tế, hợp nhất cả ba thành một.
Phương pháp học tập
Đọc phát thanh
Chỉnh sửa
Tử Vi Đẩu Số dễ học nhưng khó tinh thông. Tốt nhất là có sư phụ dẫn nhập môn, nếu không thì chỉ tự học sẽ rất khó đạt được thành tựu. Dù sao Tử Vi Đẩu Số xưa nay vẫn là môn truyền bí mật, sách Tử Vi Đẩu Số trên thị trường cũng cực kỳ ít; ở Trung Quốc đại lục rất khó bắt gặp, còn tại Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao thì tương đối nhiều hơn. Tuy nhiên, sách mệnh lý đều rất đắt, vì chúng chứa các khẩu quyết được các môn phái giữ kín không truyền ra ngoài. Ngày nay những nội dung ấy được công khai dưới sự bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, nên đắt cũng có lý do của nó. Hơn nữa, phần lớn sách Tử Vi Đẩu Số trên thị trường đều viết bằng văn cổ,Vì vậy, nếu muốn tự học thì e rằng không phải là việc đơn giản.
Trước thế kỷ 21, nhiều người khi thấy sao Tử Vi trong mười hai cung liền cho rằng Tử Vi đại diện cho điều tốt nhất. Thực ra xã hội thế kỷ 21 đã khác. Vì sao Tử Vi Đẩu Số được gọi là thuật của đế vương? Bởi Đẩu Số từng được dùng để hoàng gia tuyển chọn nhân tài, chọn người kế vị tương lai, cũng như tuyển dùng bá quan văn võ; vì thế huyền diệu trong đó đương nhiên rất sâu sắc.
Do môi trường xã hội và văn hóa của thế kỷ 21 đã khác xa thời cổ đại, việc dự đoán và luận giải bằng Tử Vi Đẩu Số cũng nên tiến cùng thời đại. Chẳng hạn, xã hội hiện đại tương đối cởi mở, nam nữ cũng không còn bảo thủ như trước. Vì vậy, khi dùng Tử Vi Đẩu Số để luận hôn nhân, việc nam nữ chưa kết hôn sống chung rồi chia tay nên được xem như ly hôn, chứ không thể đơn giản chỉ coi là đã kết hôn khi họ nhận giấy đăng ký kết hôn. [1]