Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch Kinh Dịch quẻ 28, quẻ Đại Quá, Trạch Phong Đại Quá, Đoài trên Tốn dưới

Đại Quá: Xà nhà cong võng; có chỗ để đi thì có lợi, hanh thông.

Thoán truyện nói: Đại Quá là cái lớn vượt quá mức. Xà nhà cong võng vì đầu và cuối yếu. Cương quá nhưng vẫn được trung; mềm thuận và vui vẻ mà hành động, nên có chỗ để đi thì có lợi, nhờ đó hanh thông. Ý nghĩa của thời Đại Quá thật lớn lao biết bao!

Tượng truyện nói: Đầm lầy nhấn chìm cây gỗ, đó là Đại Quá. Bậc quân tử nhờ đó mà đứng độc lập không sợ hãi, lui khỏi thế gian mà không phiền muộn.

Sơ đồ quẻ 28: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 28 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Đại Quá
Đại Quá. Xà nhà cong võng. Có chỗ để đi thì có lợi, hanh thông.
Tượng truyện nói: Đầm lầy nhấn chìm cây gỗ, đó là Đại Quá. Bậc quân tử đứng độc lập không sợ hãi, lui khỏi thế gian mà không phiền muộn.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Đại Quá: Xà nhà bị đè cong. Có nơi để đi thì có lợi, hanh thông.
Tượng từ nói: Thượng quái là Đoài, tượng đầm; hạ quái là Tốn, tượng cây. Đoài trên Tốn dưới, nước đầm nhấn chìm thuyền gỗ, đó là tượng Đại Quá. Bậc quân tử xem tượng này, lấy việc thuyền nặng thì lật làm điều răn, hiểu rằng khi gặp biến cố nên giữ tiết không khuất phục, lui ở yên không ra làm quan, sống thanh tĩnh đạm bạc.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Đại Quá có Đoài trên Tốn dưới, là quẻ Du hồn của cung Chấn. Đại Quá nghĩa là quá mức, sự việc đã đi quá đà. Tuy vậy, quẻ Đại Quá vẫn là tượng trung dung và thuận theo, chủ về người được trợ giúp và có thể tiến lên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Dương nhiều âm ít, thế sắp đổ vỡ; đầu và cuối đều yếu, hãy làm theo sức mình.
Người được quẻ này thân tâm bất an, sự việc không như ý nhưng vẫn cố chấp tiến hành, ắt có lúc vô cùng hối hận; cần đề phòng kiện tụng và hiểm nguy về nước.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thu mình tự xét, chưa nên cầu danh.
Tài vận: Giá thấp rồi tăng mạnh, khó nắm bắt.
Gia trạch: Đề phòng nghiêng đổ; hôn nhân nữ lớn tuổi với nam nhỏ tuổi.
Sức khỏe: Gan thận đều suy nhược, khó chữa khỏi.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Tốn ở dưới Đoài ở trên. Đoài là đầm, là vui; Tốn là cây, là thuận. Nước đầm nhấn chìm thuyền, thành ra lỗi lầm lớn. Hào âm dương đối nghịch, dương lớn âm nhỏ; hành động khác thường, mang ý quá mức, trong cương ngoài nhu.
Đại tượng: Bốn hào dương ở giữa là cây xà chắc khỏe, nhưng đầu và cuối là hào âm yếu, không đủ sức chống đỡ, nên thế tất sắp gãy đổ.
Vận thế: Có sức mà không theo được ý muốn, gánh nặng quá lớn, nhiều phiền não; đề phòng kiện tụng và hiểm nguy về nước.
Sự nghiệp: Sự nghiệp xuất hiện mối lo tiềm ẩn, thậm chí nguy cơ rình rập khắp nơi; nhất thiết phải hết sức cẩn thận. Chỉ khi giữ trung đạo, dùng phương thức khiêm nhường hòa vui, gan dạ mà tinh tế, cầu người khác giúp đỡ mới thành công. Khi cần, có thể dùng biện pháp phi thường, không câu nệ thông lệ và chấp nhận mạo hiểm.
Kinh doanh: Làm quá vội, phát triển quá nhanh, nên thu hẹp và điều chỉnh. Cạnh tranh đang ở thế bất lợi; chớ quá tự tin, càng không được cố chấp độc đoán. Nên thường xuyên quan sát chiều gió, chờ thời cơ rồi hành động. Khi có nắm chắc, không ngại mạo hiểm để tranh thủ cơ hội cải thiện tình thế.
Cầu danh: Điều tối kỵ là không thiết thực mà theo đuổi hư danh xa rời thực tế, khiến tiếng tăm không tương xứng với thực chất. Chỉ nên khiêm tốn, hành động thận trọng, chuyên tâm nỗ lực, không sợ lời thiên hạ, một mực tiến tới mục tiêu ban đầu.
Hôn nhân tình cảm: Điều quan trọng nhất là tự biết mình. Không nên nóng vội thành công, cần cân nhắc thận trọng và dùng phương thức chính đáng để thúc đẩy việc thành công. Tuy nhiên, cũng không loại trừ hoàn toàn những biện pháp khôn khéo cần thiết.
Quyết định: Đang ở thời kỳ đặc biệt; nếu không xử lý thỏa đáng thì cực kỳ bất lợi. Căn cứ tình hình thực tế, không được hành động khinh suất cũng không được do dự thiếu quyết đoán, mà phải cương nhu tương tế, khiêm tốn hỏi ý kiến người khác, hành động thận trọng, mạnh dạn theo đuổi nhưng không sợ lời đồn, cố gắng làm thời cuộc chuyển biến tốt.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ hai mươi tám

Quẻ Đại Quá là sự chồng lên nhau của hai quẻ dị, Tốn ở hạ quái, Đoài ở thượng quái. Đoài là đầm, là vui; Tốn là cây, là thuận. Nước đầm nhấn chìm thuyền, thành lỗi lầm lớn. Hào âm dương đối nghịch, dương lớn âm nhỏ, biểu thị hành động khác thường và quá mức, trong cương ngoài nhu.
“Quá” nghĩa là quá mức, vượt khỏi giới hạn. Quẻ Đại Quá đứng sau quẻ Di; Thứ tự quẻ nói: “Không được nuôi dưỡng thì không thể hành động, nên tiếp theo là Đại Quá.” Được nuôi dưỡng đầy đủ mới có thể hành động, nhưng vừa hành động đã có thể quá đà.
Tượng truyện nói: Đầm lầy nhấn chìm cây gỗ, đó là Đại Quá. Bậc quân tử xem tượng này, lấy việc thuyền chở nặng thì lật làm điều răn, hiểu rằng khi gặp biến cố nên giữ tiết không khuất phục, ở yên không ra làm quan, sống thanh tĩnh đạm bạc.
Quẻ Đại Quá tượng trưng cho sự quá mức tột độ, thuộc quẻ trung hạ. Tượng truyện đoán quẻ này rằng: Đêm nằm mơ thấy vàng bạc, tỉnh dậy vẫn không có một đồng; trước mắt chỉ nên cầu phần bổn phận, suy nghĩ lan man chỉ uổng công hao tâm.
Tên quẻ này là Đại Quá. Sách Thuyết Văn Giải Tự nói: “Quá là độ vậy.” Có thể thấy “quá” mang nghĩa đi qua, vượt qua, rồi mở rộng thành quá mức, vượt quá. Khi đời sống sung túc, con người theo đuổi văn hóa ẩm thực, nhưng điều đó có thể khiến họ quá ham hưởng lạc. Làm sao tránh tiếp tục như vậy? Cần có sự vượt thoát lớn trong tư tưởng và hành vi. Vì thế sau quẻ Di là quẻ Đại Quá. Tự Quái Truyện nói: “Không được nuôi dưỡng thì không thể hành động, nên tiếp theo là Đại Quá.” Đây là cách giải thích thứ tự quẻ Di từ một góc độ khác: con người chỉ có sức làm việc sau khi ăn uống đầy đủ.

Quẻ 28 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Hào Sơ Lục. Dùng cỏ tranh trắng trải làm chiếu lót, không có lỗi.
Tượng truyện nói: Dùng cỏ tranh trắng làm tấm lót là đặt cái mềm ở bên dưới.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Lục: Cung kính dùng cỏ tranh trắng lót dưới đồ tế lễ, có thể không gặp tai họa.
Tượng từ nói: “Cung kính dùng cỏ tranh trắng lót dưới đồ tế lễ”; vật mềm được trải bên dưới, giống như hào âm Sơ Lục ở vị trí thấp nhất của quẻ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nên hành sự thận trọng thì tài lợi có thể được giữ vững. Người gặp điều xấu cần đề phòng nỗi buồn tang phục. Người làm quan nếu cẩn thận thì bổng lộc và địa vị được củng cố.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đối đãi với người bằng sự khoan hòa mềm mỏng, cùng nhau thành công.
Tài vận: Hàng hóa mềm và trắng có thể đem lại lợi nhuận.
Gia trạch: Môi trường xung quanh hoang vắng.
Sức khỏe: Cơ thể suy yếu vì bệnh, nên dùng thuốc ấm và táo.
Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ Lục động, biến thành quẻ 43 của Chu Dịch: quẻ Quải, Trạch Thiên Quải. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Càn ở dưới và Đoài ở trên. Càn là trời, là mạnh; Đoài là đầm, là vui. Hơi nước từ đầm bốc lên, ngưng tụ thành mưa, mưa rơi xuống đất, tưới nhuần vạn vật. Năm hào dương loại bỏ một hào âm; loại bỏ nó không khó, chỉ cần quyết định loại đi, nên gọi là Quải, nghĩa là quyết đoán và loại bỏ.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất của quẻ Đại Quá, hào từ: Sơ Lục: Dùng cỏ tranh trắng làm tấm lót, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
“Tịch” vốn chỉ tấm chiếu cỏ dùng để đỡ đồ tế lễ khi cúng tế. Cỏ tranh trắng là loại cỏ nhỏ trắng tinh và mềm mại, ở đây hàm ý sự thành kính, trong sáng và mềm thuận.
Ý nghĩa hào từ này là: Khi tế lễ, đặt đồ vật lên tấm cỏ tranh trắng khiến chúng vững vàng hơn, không xảy ra tai họa.
Điều hào này gợi mở là: Cẩn thận thì thuyền đi được vạn năm. Khi tế lễ, vốn chỉ cần đặt đồ vật xuống đất, nhưng để an toàn lại trải tấm cỏ bên dưới. Cẩn trọng như vậy đương nhiên không xảy ra sai sót.
Tượng truyện giải thích: “Dùng cỏ tranh trắng làm tấm lót”, tức đặt cái mềm ở bên dưới. Điều này chỉ ra rằng “dùng cỏ tranh trắng lót dưới đồ vật” là hành động hết sức cẩn thận, nên không xảy ra tai họa.
Người được hào này đang đối mặt với thế lực mạnh hơn mình. Không cần tranh mạnh hiếu thắng, vì thế lực bản thân yếu. Để tránh bị tổn hại, phải hết sức thận trọng, thể hiện sự khiêm nhường và cung kính khác thường; như vậy mới tránh được tai họa vô cớ và giữ bình an.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị. Cây dương khô mọc mầm; ông già lấy vợ trẻ, không gì bất lợi.
Tượng truyện nói: Chồng già vợ trẻ là sự kết hợp vượt mức do tuổi tác không tương xứng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Cây dương khô nảy mầm, ông già lấy thiếu nữ làm vợ, không có gì bất lợi.
Tượng từ nói: Chồng già vợ trẻ, tuổi tác không tương xứng, đây là hôn phối sai lệch.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này có thể cưới vợ, nạp thiếp hoặc sinh con; bậc quân tử có được vợ trẻ và con nuôi. Người làm quan đã rời chức có thể được phục chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cuối đời thành danh, chuyển bại thành thắng.
Tài vận: Kinh doanh gỗ, có thể thu lợi.
Gia trạch: Cây khô nở hoa; chồng già vợ trẻ có thể sinh con.
Sức khỏe: Tuy nguy hiểm nhưng được bình an.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Nhị động, biến thành quẻ 31 của Chu Dịch: quẻ Hàm, Trạch Sơn Hàm. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Cấn ở dưới và Đoài ở trên. Cấn là núi; Đoài là đầm. Sự mềm thuận của Đoài ở trên, sự cứng rắn của Cấn ở dưới; nước thấm xuống, mềm ở trên cứng ở dưới, cảm ứng lẫn nhau. Có cảm ứng thì thành tựu.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Đại Quá, hào từ: Cửu Nhị: Cây dương khô nảy mầm, ông già lấy vợ trẻ, không gì bất lợi. Giải nghĩa hào từ
“Dương” chỉ cây dương. “Thê” là phần gốc cây; “mọc thê” nghĩa là từ gốc cây mọc ra chồi non.
Ý nghĩa hào từ này là: Từ gốc rặng dương đã khô héo lại mọc cành lá mới; người đàn ông già lấy vợ trẻ, không có gì bất lợi.
Hào này có tượng cây khô gặp mùa xuân. Xét theo hình tượng quẻ, trong quẻ này dương khí quá mạnh; các hào dương cần hào âm để điều hòa. Cửu Nhị không có hào tương ứng ở phía trên, nên chỉ có thể ngoảnh lại tìm Sơ Lục, nhằm mong âm dương hòa hợp. Cửu Nhị ở vị trí trung tâm, lại tương thừa với Sơ Lục, vì vậy tràn đầy sức sống.
Người được hào này, nếu là nam giới, trong hôn nhân có thể gặp một phụ nữ trẻ hơn mình. Kết hợp với người ấy không có lỗi, lại có thể sinh con trai con gái.
Về sự nghiệp, có thể gặp một dự án tốt hoặc có được trợ thủ giỏi. Như cây khô gặp mùa xuân, sự nghiệp vốn suy sụp lại tràn đầy sức sống, đồng thời có thể thu lợi từ đó.
Cửu Nhị là hào thấp nhất của quái Càn trong hạ hỗ quái của Đại Quá. Quái Càn có nghĩa là ông già, hơn nữa Cửu Nhị hòa hợp âm dương với Sơ Lục, nên có tượng ông già được vợ trẻ. Xã hội cổ đại là xã hội phụ quyền, vì vậy đàn ông lớn tuổi lấy được vợ trẻ được coi là việc đáng mừng. Do đó mới nói “không gì bất lợi”.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tam
Cửu Tam. Xà nhà cong võng, hung.
Tượng truyện nói: Cái hung của xà nhà cong võng là vì không thể có vật hỗ trợ.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tam: Xà nhà cong, đây là tượng hung hiểm.
Tượng từ nói: Xà nhà cong võng sở dĩ hung hiểm vì xà cong thì nhà đổ, không thể chống đỡ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải đề phòng đại nạn khiến gia sản thất thoát, hoặc bệnh ở chân và mắt. Người làm quan phải cẩn thận kẻo bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cố chấp độc đoán, dù thành công cũng cuối cùng thất bại.
Tài vận: Chỉ dựa vào bản thân thì mất cả người lẫn của.
Gia trạch: Xà gãy, khó ở; hôn nhân bất lợi.
Sức khỏe: E rằng có chuyện bất trắc.

Quẻ biến của hào Cửu Tam
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tam động, biến thành quẻ 47 của Chu Dịch: quẻ Khốn, Trạch Thủy Khốn. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Khảm ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là âm, là đầm, tượng vui; Khảm là dương, là nước, tượng hiểm. Nước đầm gây khốn, rơi vào cảnh khó khăn, tài trí khó thi thố, nhưng vẫn giữ đạo chính, tự mình tìm được niềm vui thì ắt làm nên việc và thoát khỏi khốn cảnh.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Đại Quá, hào từ: Cửu Tam: Xà nhà cong võng, hung. Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa hào này là: Xà cái của ngôi nhà chịu áp lực quá nặng nên cong xuống, kết quả tất nhiên sinh chuyện hung.
Điều hào này gợi mở là: Cứng quá thì dễ gãy.
Quái từ của quẻ Đại Quá nói “xà nhà cong võng”, nhưng kết quả lại là “hanh thông”; vì sao trong hào này lại thành “hung”? Bởi quái từ dạy người ta phải “cương quá mà giữ được trung”, “cương nhu tương tế”,
thì mới hanh thông. Nhưng Cửu Tam không thể thực hiện nguyên tắc cương nhu tương tế, không biết ứng biến linh hoạt, một mực làm theo ý mình, cố chấp ý kiến, hiếu thắng tiến công, thiếu sức dẻo dai; không ai muốn theo hay giúp. Kết quả tất nhiên là hung.
Tượng truyện nói: “Cái hung của xà nhà cong võng” là vì không thể có vật hỗ trợ. Điều này chỉ ra rằng tính cương dương đã quá cực đoan, không thể tiếp tục trợ giúp; nếu không, hậu quả sẽ khó lường.
Trong công việc, bạn có thể rất giỏi, là người gánh vác việc lớn và trọng trách nặng. Nhưng thái độ cứng rắn, làm theo ý mình, không nghe khuyên can. Chẳng hạn việc không thể hoàn thành trong một ngày mà bạn cứ nhất quyết làm xong trong ngày; kết quả người khác cho rằng bạn khoe tài, không muốn giúp, còn bạn tự làm một mình đến kiệt sức.
Gặp khó khăn mà không bỏ cuộc là tinh thần tốt, nhưng đôi khi năng lực con người có hạn, chi bằng tìm cách khác, “đi đường vòng để cứu nước”. Nếu không hiểu thuật biến thông ấy, không biết dùng biện pháp linh hoạt thì sẽ làm hỏng việc.
Cửu Tam chính ứng với Thượng Lục. Xét theo tượng quẻ, Cửu Tam đại diện một đoạn của xà nhà, vốn cứng chắc; Thượng Lục đại diện một đầu xà, âm là mềm yếu và ẩm thấp. Vì vậy đoạn xà của Cửu Tam sẽ bị ẩm mà cong. Theo nghĩa mở rộng, điều này có thể chỉ việc người phụ nữ khiến thể chất suy yếu; cũng có thể hiểu là nghe theo lời phụ nữ mà thay đổi tiết tháo. Kết quả đương nhiên là hung hiểm.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ. Xà nhà vồng lên, tốt lành. Có điều khác thì đáng tiếc.
Tượng truyện nói: Sự tốt lành của xà nhà vồng lên là vì nó không cong xuống dưới.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Xà nhà thẳng và vững, tốt lành. Nhưng nếu có biến cố ngoài ý muốn thì khó ứng phó.
Tượng từ nói: Xà nhà thẳng được tốt lành vì xà không cong thì nhà không đổ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này có nhiều việc sửa sang xây dựng, có thể làm việc lớn, chớ mưu việc nhỏ. Người làm quan ắt được trọng dụng; người học hành tiến thủ và thành danh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Có thể gánh trọng trách, chớ mưu việc nhỏ.
Tài vận: Kinh doanh gỗ có thể thu lợi.
Gia trạch: Cửa nhà bề thế.
Sức khỏe: Đầy tức ngực nhưng không đáng ngại.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tứ động, biến thành quẻ 48 của Chu Dịch: quẻ Tỉnh, Thủy Phong Tỉnh. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Tốn ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước; Tốn là cây. Cây cối được nước thì sinh trưởng tươi tốt. Con người nhờ giếng mà sống, còn giếng do con người đào nên. Hai bên nuôi dưỡng lẫn nhau; giếng dùng nước nuôi người, lâu ngày không cạn. Con người nên lấy đức ấy làm gương, siêng năng tự khích lệ mình.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Đại Quá, hào từ: Cửu Tứ: Xà nhà vồng lên, tốt lành; có điều khác thì đáng tiếc. Giải nghĩa hào từ
“Long” nghĩa là vồng lên phía trên hoặc phần giữa cong lên.
Ý nghĩa hào từ này là: Xà cái của nhà vồng lên thì được tốt lành; nếu xảy ra biến cố khác hoặc bị sâu mọt thì vẫn phát sinh vấn đề.
Cửu Tứ ở sát Cửu Ngũ tôn quý, là đại thần gần vua và bậc rường cột.
Tượng truyện phân tích: “Sự tốt lành của xà nhà vồng lên” là vì không cong xuống dưới. Điều này chỉ ra rằng xà nhà vồng lên, khắc phục sự cong võng và được tốt lành, bởi chính hào Cửu Tứ khiến xà không cong xuống.
Cửu Tứ là hào âm ở vị trí dương, cương nhu vừa phải. Nó vừa có tài cương kiện của dương, vừa có đức mềm thuận. Trong quẻ Đại Quá, đa số hào dương đều nóng vội tiến lên, một mực làm theo ý mình; Cửu Tứ đáng quý vì hiếm có, nên được tốt lành.
Người được hào này tuy nhiệm vụ nặng nề, thậm chí mệt đến cong lưng, vẫn phải phấn chấn tinh thần, giữ trạng thái tinh thần cao, sửa những khuyết điểm nhỏ và đề phòng biến cố bất ngờ khiến mình chịu nhục. Đồng thời phải cương nhu tương tế: tài năng hơn người nhưng vẫn khiêm tốn. Như vậy mới tốt lành.
Cũng như Cửu Nhị, Cửu Tứ tương đương một đoạn xà bị ẩm. Vì chính ứng với Sơ Lục, nó cũng có tượng bị ẩm mà cong, hoặc vì phụ nữ mà thay đổi tiết tháo. May thay, Cửu Tứ ở thượng quái nên chỉ cong lên chứ không cong xuống. Đối với một ngôi nhà, xà cong lên không làm mái sập, nên tốt lành. Nhưng vì sao vẫn có nỗi lo hay điều đáng tiếc khác? Vì nó đã bị ẩm. Nghĩa mở rộng là nghe lời phụ nữ, vì phụ nữ mà đổi tiết tháo, nên có chuyện lo buồn và đáng tiếc.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ. Cây dương khô trổ hoa; bà già lấy chồng trẻ, không lỗi cũng không danh dự.
Tượng truyện nói: Cây dương khô trổ hoa, làm sao có thể lâu bền? Bà già lấy chồng trẻ, chuyện ấy cũng đáng xấu hổ thay.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Cây dương khô nở hoa, người phụ nữ già lấy người đàn ông trẻ; việc này không tốt cũng không xấu.
Tượng từ nói: Cây dương khô nở hoa, làm sao hoa có thể nở mãi không tàn? Bà già lấy người đàn ông trẻ, xét cho cùng cũng không mấy vẻ vang.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này mưu việc bất lợi, trong vui sinh lo, việc đẹp hóa xấu; tượng trước nghịch sau thuận. Người làm quan không thể giữ chức lâu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cuối đời được như ý, chỉ nên cầu bình thuận.
Tài vận: Cẩn thận vì đa tình, nếu không sẽ mất cả danh lẫn lợi.
Gia trạch: Phòng khuê không chính; nữ lớn tuổi hơn nam.
Sức khỏe: Không tốt cũng không xấu.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Ngũ động, biến thành quẻ 32 của Chu Dịch: quẻ Hằng, Lôi Phong Hằng. Đây là quẻ dị, chồng lên nhau với Tốn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là nam, là sấm; Tốn là nữ, là gió. Cương ở trên, nhu ở dưới; cương trên nhu dưới, tạo hóa có quy luật thường hằng, đôi bên cùng giúp nhau lớn mạnh. Âm dương tương ứng, là tình lẽ thường, nên gọi là Hằng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Cửu Ngũ: Cây dương khô nở hoa, bà già lấy chồng trẻ, không lỗi cũng không danh dự. Giải nghĩa hào từ
“Hoa” đồng nghĩa với “bông”. “Sinh hoa” chỉ phần trên phát triển tươi tốt.
Ý nghĩa hào từ này là: Cây dương đã khô héo lại nở hoa, người phụ nữ đã già lấy người đàn ông trẻ; không có lỗi nhưng cũng không đáng được khen.
Điều hào này gợi mở là không nên theo đuổi sự phồn vinh ngắn hạn và giả tạo.
Tượng truyện phân tích: “Cây dương khô nở hoa”, làm sao có thể lâu bền? “Bà già có chồng trẻ”, chẳng phải cũng đáng xấu hổ hay sao?
Điều này chỉ ra rằng: “Cây dương đã khô héo lại nở hoa”, hiện tượng bề ngoài làm sao có thể giữ lâu? “Người phụ nữ già lấy người đàn ông trẻ”, cuộc hôn phối như vậy khiến người ta hết sức hổ thẹn.
Cả hai đều là sự kết hợp chênh lệch tuổi tác. Ở Cửu Nhị, chồng già vợ trẻ là “không lỗi”; còn ở hào này, vợ già chồng trẻ, xét về âm dương tương trợ, cũng có thể nói là “không lỗi”. Nhưng “nở hoa” không thể lâu bền, hoa nhanh chóng tàn, nên gọi là “không danh”. Ngoài ra, người xưa cho rằng phụ nữ già không thể sinh nở, vì vậy có thái độ phủ định đối với kiểu hôn nhân này.
Cửu ngũ là ngôi vị của quân vương, chỉ người lãnh đạo một đơn vị. Là người lãnh đạo, không nên tham cầu sự hưng thịnh ngắn hạn như cây dương khô bỗng trổ hoa, mà phải tái sinh triệt để, mọc cành lá mới thì mới có thể thay đổi tình trạng suy thoái. Chẳng hạn, có lãnh đạo đơn vị vay tiền để bù đắp khoản thua lỗ của công ty nhằm xoay chuyển tình thế; đó chỉ là biện pháp ngắn hạn. Cách làm thực sự hữu hiệu là cải cách chế độ của công ty, để công ty tự tạo ra lợi nhuận; như vậy mới đạt được sự hưng thịnh chân chính và lâu dài.
Cửu ngũ: Cây dương khô trổ hoa; bà già lấy được chồng trẻ. Không lỗi, không danh dự.
Tượng truyện nói: Cây dương khô trổ hoa, làm sao có thể lâu bền? Bà già lấy chồng trẻ, cũng là điều đáng hổ thẹn.
Ý nghĩa kinh văn là: Cây dương héo úa trổ hoa, người đàn bà già có được một chàng trai trẻ làm chồng. Không có tai họa cũng không có vinh dự.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Cây dương héo úa nở hoa dương, làm sao có thể lâu dài? Người đàn bà già lấy một chàng trai trẻ làm chồng cũng là chuyện đáng hổ thẹn.
Ở đây, Cửu ngũ chỉ “sĩ phu”, còn “lão phụ” chỉ Thượng lục ở phía trên. Xét toàn thể quẻ tượng, hạ quái là Tốn, tượng cho cây cối, còn thượng quái là Đoài, tượng cho hoa, nên có hào từ “cây dương khô trổ hoa”. Cửu ngũ là hào dương kết hợp âm dương với Thượng lục là hào âm ở trên, vì vậy hình tượng “bà già được chồng trẻ” xuất hiện; tức Thượng lục, người đàn bà già, lấy Cửu ngũ làm chồng.

Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ hai mươi tám trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục: Lội qua quá sâuจน nước ngập đầu, hung, nhưng không lỗi.
Tượng truyện nói: Cái hung của việc lội quá sâu thì không thể trách cứ.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Mù quáng lội nước, nước sâu quá đầu; tuy gặp nguy hiểm nhưng cuối cùng không có tai họa.
Tượng truyện nói: Lội nước một cách mù quáng sẽ gặp nguy hiểm; sự việc đã đến mức này thì trách cứ cũng chẳng ích gì.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này không nên tiến thủ, lui về phòng giữ sẽ an toàn; có thể mắc bệnh ở mặt. Người làm quan nên đề phòng họa công lao quá lớn làm lấn át chủ, khiến bản thân nguy hiểm.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Sau khi chịu khó làm việc, sẽ giành được danh tiếng.
Tài vận: Xuất hàng phải thận trọng để tránh thua lỗ.
Gia trạch: Đề phòng lũ lụt.
Sức khỏe: Mặt phù, có thể khó chữa trị.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第28卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng lục biến, được quẻ số 44 trong Chu Dịch: Thiên Phong Cấu. Đây là quẻ dị, Tốn ở dưới và Càn ở trên. Càn là trời, Tốn là gió. Gió thổi dưới trời, lan khắp mặt đất; âm dương giao hợp, muôn vật sinh sôi. Quẻ Cấu đối lập với quẻ Quải, hai quẻ là “quẻ tổng” của nhau. Cấu nghĩa là giao cấu, âm dương gặp gỡ. Nhưng năm hào dương chỉ có một hào âm, nên không thể ở bên nhau lâu dài.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Đại Quá, hào từ: Thượng lục: Lội quá sâu đến mức nước ngập đầu, hung, không lỗi. Giải thích hào từ
Thiệp: can thiệp, khuyên ngăn. Diệt đỉnh: đối mặt với nguy hiểm chí mạng.
Ý nghĩa hào từ này là: Lội qua vùng nước quá sâu đến mức ngập đầu thì nguy hiểm, nhưng không phải là lỗi lầm.
Xét về quẻ tượng, Thượng lục ở đỉnh cao nhất của toàn quẻ. Ý nghĩa tượng trưng của quẻ Đại Quá là nước nhấn chìm thuyền gỗ, còn hào Thượng lục tượng trưng cho nước sông dâng ngập đầu. Cảnh ngộ của Thượng lục là xu thế tất yếu, không thể làm gì khác. Tuy nhiên, Thượng lục là hào âm ở vị trí âm, được đúng vị. Dù có nguy hiểm, hào này không có lỗi, không nên bị trách cứ.
Tượng truyện nói: “Cái hung của việc lội quá sâu” không thể trách cứ. Điều này chỉ ra rằng “lội qua vùng nước quá sâu sẽ gặp nguy hiểm” là việc không nên trách.
Người gieo được hào này có thể vừa đến một vị trí mới. Trước đó nhiều vấn đề đã tích tụ, nên trong công việc bạn gặp khó khăn
Bạn không làm tốt công việc, thậm chí còn làm hỏng việc. Nhưng đó là những vấn đề do người tiền nhiệm để lại, bạn không có cách nào cứu vãn; vì vậy dù làm chưa tốt cũng không ai trách bạn.
Thượng lục: Lội quá sâu đến mức nước ngập đầu, hung, không lỗi.
Tượng truyện nói: Cái hung của việc lội quá sâu thì không thể trách cứ.
Ý nghĩa kinh văn là: Lội bộ qua sông đến mức nước ngập đầu, rất nguy hiểm, nhưng không có gì đáng trách.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Lội bộ qua sông gặp nguy hiểm thì không có gì đáng trách.
Thượng lục ở vị trí cực điểm của quẻ Đại Quá, đồng thời là hào trên cùng của thượng quái Đoài. Đoài tượng cho đầm, nên có hình tượng qua sông. Quẻ tượng toàn thể chính là nước đầm ngập quá ngọn cây. Thượng lục nóng lòng qua sông, lại đang ở trong vùng đầm lớn ngập quá ngọn cây, nên mới nói “lội quá sâu đến mức nước ngập đầu”. Kết quả tất nhiên là nguy hiểm. Nhưng không thể trách, vì phải qua sông mới sống được; đã ở giữa đầm thì không thể không qua. Vì vậy, dù kết quả nguy hiểm, cũng không có chỗ nào đáng trách.