Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ số 21, quẻ Thệ Hạp, Hỏa Lôi Thệ Hạp, Ly trên Chấn dưới

Thệ Hạp: Han thông. Có lợi cho việc xét xử hình ngục.

Thoán truyện nói: Trong hàm có vật thì gọi là Thệ Hạp. Thệ Hạp mà hanh thông là vì cứng mềm phân rõ, chuyển động mà sáng tỏ, sấm chớp hợp lại tạo thành vẻ rực rỡ. Mềm được trung mà tiến lên; tuy không đúng ngôi, nhưng có lợi cho việc xét xử hình ngục.

Tượng truyện nói: Sấm và chớp là Thệ Hạp. Các bậc tiên vương noi theo đó để làm rõ hình phạt và chấn chỉnh pháp luật.

Sơ đồ quẻ 21: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 21 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Thệ Hạp
Thệ Hạp. Han thông. Có lợi cho việc xét xử hình ngục.
Tượng truyện nói: Sấm và chớp là Thệ Hạp. Các bậc tiên vương noi theo đó để làm rõ hình phạt và chấn chỉnh pháp luật.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Thệ Hạp: Thông thái. Có lợi cho việc tranh tụng và xét xử hình ngục.
Tượng truyện nói: Quẻ dưới là Chấn, tượng sấm; quẻ trên là Ly, tượng chớp. Sấm chớp giao hợp là quái tượng của Thệ Hạp. Tiên vương quan sát quái tượng này, noi theo uy lực đáng sợ của sấm và ánh sáng soi thấu nơi u tối của chớp, suy nghĩ cách trị chính nghiêm minh, làm rõ hình phạt và chỉnh sửa pháp luật.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Thệ Hạp có Ly trên Chấn dưới, là quẻ thế hệ thứ năm thuộc cung Tốn. Thệ Hạp nghĩa là cắn hợp, tượng trưng cho việc phải nghiền nát vật cản rồi mới có thể thông qua. Quẻ này có lợi cho việc kiện tụng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cắn vỡ xương cứng, thái độ cứng rắn; sự việc gặp nhiều trở ngại, cần tích cực tìm cách giải quyết.
Người được quẻ này thì sự việc không toại lòng, tranh chấp khó tránh, mọi việc đều bị cản trở. Nên giữ quy củ, không để lợi lộc dụ dỗ thì có thể bảo toàn bình an.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận may mới bắt đầu chuyển động, danh tiếng sẽ tăng vọt.
Tài vận: Mua bán đều thành công, hàng hóa tiêu thụ thuận lợi.
Gia trạch: Cẩn thận hỏa hoạn; hôn nhân hòa hợp lâu bền.
Thân thể: Phải đề phòng uất nhiệt; đồ thất lạc khó bảo toàn.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị quái, Chấn ở dưới, Ly ở trên. Ly là quẻ âm, Chấn là quẻ dương. Âm dương giao nhau, nghiền nát vật cứng, ví như thi ân và dùng uy cùng lúc, kết hợp khoan dung với nghiêm khắc, cương nhu tương tế. Thệ Hạp là hai hàm trên dưới cắn khớp và nhai.
Đại tượng: Giữa môi trên và môi dưới có vật cản, phải cắn đứt mới khép lại được; vì vậy mọi việc đều bị ngăn trở, nhất thiết phải loại bỏ trở ngại mới thành công.
Vận thế: Mọi việc bị ngăn trở, tranh chấp khó tránh. Nên giữ quy củ, không bị lợi lộc dụ dỗ thì vấn đề có thể giải quyết.
Sự nghiệp: Khó khăn và trở lực vô cùng lớn. Cần dùng ý chí kiên cường, hành động quyết đoán và thái độ công bằng, vô tư để vượt qua mọi vận rủi, giành lấy sự chuyển biến tốt đẹp. Để sớm thoát nguy, khi cần có thể dùng biện pháp cứng rắn, thậm chí nhờ đến pháp luật.
Kinh doanh: Đang ở vào thời kỳ bất lợi. Cần giữ đầu óc tỉnh táo, nhìn rõ tình thế, tìm kiếm cơ hội, không bị lợi nhỏ trước mắt cám dỗ, không kiếm tiền bất chính. Hãy nghiêm túc lắng nghe lời khuyên, tuân thủ pháp luật, làm việc công bằng, không vì tình riêng mà thiên vị, càng phải cảnh giác không vi phạm luật hình sự.
Cầu danh: Nỗ lực của bản thân vẫn chưa được người khác biết đến, không thể nóng vội cầu thành công. Hãy xem thất bại là sự thử thách đối với mình, kiên trì không ngừng thì nhất định sẽ thành công.
Hôn nhân, tình cảm: Ban đầu không thuận lợi, cần tinh thần kiên cường mới đạt kết quả như ý; không được để cảm xúc cá nhân chi phối việc gia đình.
Quyết định: Suốt đời không bằng phẳng, sẽ gặp thất bại và gian nan; nhưng nên xem đó là sự thử thách bản thân, nghiêm túc tổng kết kinh nghiệm và bài học, dùng ý chí càng kiên cường cùng sự bền bỉ không khuất phục để tiếp tục tiến lên. Qua rèn luyện, mọi mặt sẽ tiến bộ lớn, cuối cùng bước vào cảnh giới sáng sủa và đạt thành tựu trọng đại.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ hai mươi mốt


Quái tượng quẻ Thệ Hạp và ý nghĩa tượng trưng của Hỏa Lôi Thệ Hạp
Hỏa Lôi Thệ Hạp là quẻ dị quái chồng lên nhau, quẻ dưới là Chấn, quẻ trên là Ly. Ly là âm, Chấn là dương. Âm dương giao nhau, nghiền nát vật cứng, ví như thi ân và dùng uy đồng thời, kết hợp khoan dung với nghiêm khắc, cương nhu tương tế.
Thệ Hạp: “Thệ” nghĩa là cắn. “Hạp” đồng nghĩa với “hợp”. Thệ Hạp là hai hàm trên dưới cắn khớp và nhai; khép miệng để cắn giữ vật trong miệng không buông hoặc ăn nó đi.
Xét theo hình quẻ Hỏa Lôi Thệ Hạp, Sơ Cửu và Thượng Cửu giống môi trên môi dưới của người; Lục Nhị, Lục Tam và Lục Ngũ giống hai hàng răng trên dưới; còn Cửu Tứ giống vật nằm trong miệng, bị răng trên dưới cắn giữ, như người đã vào ngục thì không thể chạy thoát, vì vậy cũng tượng trưng cho nhà tù.
Phân tích hình quẻ từ góc độ nhà tù, Sơ Cửu và Thượng Cửu giống những bức tường ngục dày chắc. Lục Nhị, Lục Tam và Lục Ngũ bên trong tường giống các phạm nhân yếu đuối, còn Cửu Tứ giống viên cai ngục hoặc người tuần ngục mạnh mẽ.
Tượng truyện giải thích quẻ này như sau: Sấm chớp là Thệ Hạp; các bậc tiên vương noi theo đó để làm rõ hình phạt và chấn chỉnh pháp luật.
Tượng truyện chỉ ra rằng quái tượng của quẻ Thệ Hạp là Chấn (sấm) ở dưới, Ly (lửa) ở trên, biểu hiện sấm chớp giao kích. Sấm chớp giao kích giống như cắn hợp; sấm có sức uy hiếp, chớp có thể phát sáng. Các vị đế vương thời cổ noi theo hiện tượng này, làm rõ hình pháp và chỉnh đốn pháp lệnh.
Quẻ Thệ Hạp gợi mở đạo lý cương nhu tương tế, thuộc thượng thượng quẻ. Lời đoán của Tượng truyện về quẻ này là: Vận thế trắc trở như thân chịu đói, may được người đem cơm và thức ăn đến; miệng vừa bụng no thì lòng vui mừng, ưu sầu từ đó dần dần tiêu tan.
Xét từ quái tượng, Hỏa Lôi Thệ Hạp có quẻ trên là Ly, tượng lửa và điện; quẻ dưới là Chấn, tượng gỗ và sấm. Chớp sấm đánh trúng vật khiến vật bốc cháy, đó là quái tượng của Thệ Hạp. Khi có mưa dông, một số công trình bị sét đánh có thể sụp đổ, một số động vật và con người có thể chết, rừng có thể cháy. Người xưa thấy hiện tượng tự nhiên này và cho rằng thần trời đang trừng phạt điều ác. Quân vương noi theo thần trời, cũng đánh kẻ phạm tội như sấm chớp đánh vào vật thể. Sấm chớp rất nhanh và dữ dội, vì vậy việc trấn áp tội phạm cũng phải nhanh chóng, triệt để và mạnh tay.

Quẻ 21 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Mang gông cùm che khuất ngón chân, không lỗi.
Tượng truyện nói: Mang gông cùm che khuất ngón chân là không được tiến hành.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Kéo lê hình cụ, làm trầy ngón chân nhưng không gặp tai họa lớn.
Tượng truyện nói: Kéo lê hình cụ làm trầy ngón chân là dùng hình phạt nhỏ làm lời răn lớn, khiến không tái phạm lỗi lầm.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này nên hành sự thận trọng để tránh sinh tai họa. Người làm quan sẽ bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Phải đề phòng tai họa nhỏ để tránh mối họa lớn.
Tài vận: Giao dịch thận trọng, tránh ngành gỗ.
Gia trạch: Tiến hành xây dựng, sửa sang; không nên cưới gả.
Thân thể: Bệnh ở chân mới phát, nên chữa trị sớm.

Quẻ biến của hào Sơ Cửu
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào đầu động biến thành quẻ số 35 của Chu Dịch: Hỏa Địa Tấn. Đây là quẻ dị quái, Khôn ở dưới, Ly ở trên. Ly là mặt trời và ánh sáng; Khôn là đất. Mặt trời treo cao chiếu khắp mặt đất, đất khiêm thuận, vạn vật sinh trưởng; sáng sủa, quang minh, mềm mại tiến lên trên, ví sự nghiệp ngày càng phát triển.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất quẻ Thệ Hạp, hào từ: Sơ Cửu: Mang gông cùm che khuất ngón chân, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
“Lũ” chỉ việc xuyên qua để mang. “Hiệu” là hình cụ bằng gỗ, chỉ sự ràng buộc. “Diệt” chỉ che phủ đến mức không nhìn thấy. “Chỉ” là ngón chân, ở đây chỉ việc hạn chế hoạt động. Ý nghĩa hào này là: Đeo gông chân che kín ngón chân, không có tai họa.
Xét theo quái tượng, Sơ Cửu là hào dương ở ngôi cứng, nằm tại đầu quẻ Chấn bên dưới; phía trên lại đối ứng đối nghịch với Cửu Tứ, biểu hiện hành vi dẫn đám đông gây rối, không chịu quản thúc, mưu tính bất chính. Đối với hạng tiểu nhân không tuân quy củ như vậy, cần cảnh giác và phòng ngừa.
Tượng truyện nói: “Mang gông cùm che khuất ngón chân” là không được tiến hành.
Giải thích chi tiết hào Lục Nhị của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục Nhị: Cắn thịt khiến mũi lún vào, không lỗi.
Tượng truyện nói: Cắn thịt khiến mũi lún vào là cưỡi lên cái cứng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Nhị: Ăn ngấu nghiến cá tươi thịt mềm, bị hình phạt cắt mũi nhưng không gặp đại họa.
Tượng truyện nói: Ăn ngấu nghiến cá tươi thịt mềm rồi bị cắt mũi là vì hào Lục Nhị nằm trên hào dương, giống như người hưởng phúc vượt quá phần mình.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này tiến lui đều khó, thị phi không dứt; có thể mắc bệnh ngầm hoặc tổn thương da thịt, xương cốt. Người làm quan không thuận lợi, vướng mắc nhiều.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tài sức còn nông, cần nhờ người giúp đỡ.
Tài vận: Tạm thời giữ hàng, chờ được giá rồi mới bán.
Gia trạch: Nhà cũ bất lợi; cưới gả thì dựng nên gia đình.
Thân thể: Da có bệnh, cần cẩn thận kẻo ăn sâu.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục Nhị động biến thành quẻ số 38 của Chu Dịch: Hỏa Trạch Khuê. Đây là quẻ dị quái, Đoài ở dưới, Ly ở trên. Ly là lửa, Đoài là đầm. Lửa ở trên, đầm ở dưới, đối nghịch không tương trợ. Khắc chế thì phát sinh, qua lại không rỗng không. Vạn vật có chỗ khác nhau, đã khác nhau thì tất có dị biệt, mâu thuẫn lẫn nhau. Khuê nghĩa là mâu thuẫn.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai quẻ Thệ Hạp, hào từ: Lục Nhị: Cắn thịt khiến mũi lún vào, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
“Phu” chỉ thịt mỡ còn dính da.
Ý nghĩa hào này là: Cắn ăn thịt mỡ, mũi lún vào thịt mà không có tai họa. Nghĩa kinh văn là: Cắn thịt ăn, mũi lún vào trong thịt. Lục Nhị ở địa vị đại phu, lúc ăn thịt quá tham lam đến mức mũi lún cả vào thịt. Ăn như vậy chắc chắn không văn minh, nhưng chỉ là vấn đề hình thức, không phải lỗi lớn nên không có tai họa. Vì Lục Nhị ở trên Sơ Cửu nên có hình tượng “cưỡi lên cái cứng”. Nói chung, âm cưỡi dương chỉ việc người nữ đoạt quyền của chồng. Lục Nhị ở ngôi chẵn nên đắc vị, lại ở trung, cho thấy vẫn có đạo đức. Nhưng vì cưỡi lên Sơ Cửu, sự “tham” khi ăn thịt trong hào từ thực ra ám chỉ Lục Nhị tham muốn khống chế Sơ Cửu. Nói cách khác, Lục Nhị quá muốn kiểm soát Sơ Cửu.
Xét theo quái tượng, Lục Nhị nằm trong hỗ Cấn; Cấn được tạo bởi Lục Nhị và Cửu Tứ cùng thành quẻ Cấn. Cấn có một hào dương ở ngoài, hai hào âm ở trong; hào dương là lớp da bên ngoài, hào âm là thịt mỡ dưới da. Cấn còn tượng mũi và loài vật có mõm đen. “Phu” là thịt có da, thịt mềm, thịt tươi. Vì vậy vừa cắn thì mũi lún xuống. Người ăn như vậy có dáng vẻ thô tục, thiếu tao nhã, từ đó chỉ việc làm sự việc bất chấp thủ đoạn, không chú ý phương thức.
Hào Lục Nhị là hào âm ở ngôi mềm. Tuy đắc vị, ở trung, nhưng đối ứng đối nghịch với hào quân chủ Lục Ngũ của toàn quẻ. Bất hòa với người lãnh đạo cao nhất khiến bản thân phát triển không thuận, trong lòng ôm oán khí, nên khi làm việc không quá chú ý phương thức. Tuy nhiên, vì cưỡi lên Sơ Cửu, giống như người thi hành hình phạt, nên không có tai họa.
Người được hào này có thể bất mãn với chức vụ hoặc địa vị của mình, cảm thấy bản thân không thuận lợi, đôi khi nổi nóng. Cần chú ý cách nói và cách làm. Khi người bên cạnh phạm lỗi, đừng trừng phạt quá nặng, quát mắng vô lý, chửi tục, vênh mặt trợn mắt; như vậy làm tổn hại hình ảnh của mình mà cũng không có tác dụng giáo dục. Hãy biết rằng phê bình là một nghệ thuật. Khi muốn trách ai đó, xét về hiệu quả, đôi khi đổi sang khuyên bảo sẽ tốt hơn; lời nói quan tâm dễ đi sâu vào lòng người hơn.
Giải thích chi tiết hào Lục Tam của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Cắn thịt khô, gặp độc. Có chút khó khăn, không lỗi.
Tượng truyện nói: Gặp độc là vì địa vị không đúng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Ăn thịt khô rồi trúng độc. Gặp rắc rối nhưng không quá nghiêm trọng.
Tượng truyện nói: Trúng độc là vì Lục Tam là hào âm ở ngôi dương, giống như người không xứng với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này khó thành việc, vận khí không thuận; có thể mắc bệnh tim bụng hoặc gặp nguy hiểm. Người làm quan không đủ tài sức, dễ có sai sót.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khí vận không tốt, ngược lại còn bị người ta oán trách.
Tài vận: Xử lý không thỏa đáng, ngược lại chịu tổn thất.
Gia trạch: Có chút bất an.
Thân thể: Thuốc không đúng bệnh, may mà không có trở ngại lớn.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục Tam động biến thành quẻ số 30 của Chu Dịch: Ly vi Hỏa. Đây là quẻ đồng quái chồng lên nhau, Ly ở dưới và Ly ở trên. Ly nghĩa là lệ, tức bám vào; một hào âm bám vào hai hào dương ở trên và dưới. Quẻ này tượng trưng cho lửa, bên trong rỗng, bên ngoài sáng. Ly là lửa, là sáng; mặt trời lặp đi lặp lại việc mọc và lặn, vận hành không ngừng, lấy mềm thuận làm lòng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba quẻ Thệ Hạp, hào từ: Lục Tam: Cắn thịt khô, gặp độc; có chút khó khăn, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
Thịt khô là sản phẩm chế biến từ thịt được ướp muối rồi nướng hoặc phơi nắng, khó nhai hơn thịt tươi; ở đây ví cho mức độ khó khăn của sự việc tăng lên.
Ý nghĩa hào này là: Cắn thịt khô và gặp phần có độc. Có chút khó khăn nhưng không có tai họa. Nghĩa kinh văn là: Cắn thịt khô mà trúng độc, hơi bất thuận nhưng không có tai họa. Lục Tam là hào âm ở ngôi lẻ, nên không đắc vị và cũng không đắc trung; lại là hào dưới của hỗ Khảm phía trên. Khảm tượng độc, nên có hình tượng “gặp độc”. Nhưng Lục Tam cũng là hào giữa của hỗ Cấn phía dưới; Cấn tượng gặp hiểm thì dừng, nên trúng độc không sâu, không có đại họa, chỉ có chút ưu phiền. Nói theo hiện nay, giống như ăn thịt khô bị mốc, sớm nhận ra mùi vị không đúng rồi không ăn tiếp, nên cơ thể không bị tổn hại.
Lời cảnh báo của hào này là: Theo đuổi lợi ích thực tế giống như cắn thịt khô có độc, rất nguy hiểm, nhưng nếu thận trọng thì vẫn có thể làm được.
Lục Tam tuy ở trong quẻ Cấn nhưng gần quẻ Ly phía trên hơn Lục Nhị. Ly là lửa, làm thịt khô nên tượng là thịt khô. Đồng thời, Lục Tam, Cửu Tứ và Lục Ngũ hợp thành quẻ Khảm; Khảm tượng độc, ở đây ví cho tính nguy hiểm của việc theo đuổi lợi ích thực tế
việc theo đuổi lợi ích thực tế.
Lục Tam là hào âm ở ngôi cứng, bản thân ở sai vị, giống như người không đủ tư cách thi hành hình phạt mà lại phạt người khác; quá trình thực hiện không thuận như nhai thịt khô cứng, đồng thời còn chuốc lấy phản ứng oán độc.
Người được hào này có thể đang gặp khó khăn khó giải quyết trong công việc, nên cần thận trọng để tránh bị tổn hại. Vì hào dương ở ngôi cứng có tượng vượt quyền hoặc vi phạm quy định, hãy kiểm tra xem hành vi của mình có vượt thẩm quyền, vượt giới hạn pháp luật và quyền lực hay không.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ: Cắn thịt khô còn xương, được mũi tên bằng kim loại. Có lợi cho việc giữ chính đạo trong gian nan, cát.
Tượng truyện nói: Giữ chính đạo trong gian nan thì cát, nhưng vẫn chưa đạt đến cảnh giới sáng tỏ.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Gặm xương, phát hiện mũi tên bằng kim loại trong xương. Hỏi việc khó, kết quả là cát.
Tượng truyện nói: Hỏi việc khó mà kết quả cát, nhưng hiện vẫn ở trong gian nan, chưa bước vào cảnh giới sáng tỏ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này kinh doanh ắt có lợi. Người làm quan sẽ thăng chức, người học hành sẽ thành danh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đổi cũ thúc mới, mọi việc đều cát.
Tài vận: Vốn nhỏ mà lợi lớn, tự nhiên đáng mừng.
Gia trạch: Có đạo giữ gìn gia đình; cưới gả nên cần kiệm.
Thân thể: Bệnh khó chữa, nên điều dưỡng nhiều hơn.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Cửu Tứ động biến thành quẻ số 27 của Chu Dịch: Sơn Lôi Di. Đây là quẻ dị quái, Chấn ở dưới, Cấn ở trên. Chấn là sấm, Cấn là núi. Núi ở trên, sấm ở dưới, ngoài đầy, trong rỗng. Mùa xuân vạn vật được nuôi dưỡng; thuận theo thời mà nuôi dưỡng người hiền, chăm lo cho dân. Dương thực, âm hư; cái thực nuôi người, cái hư được người nuôi. Tự nuôi sống mình bằng sức lao động.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư quẻ Thệ Hạp, hào từ: Cửu Tứ: Cắn thịt khô còn xương, được mũi tên bằng kim loại; có lợi cho việc giữ chính đạo trong gian nan, cát. Giải nghĩa hào từ
“Chỉ” ở đây chỉ thịt khô còn xương. “Kim thỉ” chỉ mũi tên bằng kim loại.
Ý nghĩa hào này là: Cắn thịt khô còn xương, nhận được mũi tên bằng kim loại. Có lợi cho việc giữ chính đạo trong gian nan, kết quả là cát.
Nghĩa kinh văn là: Ăn thịt khô trên xương, được mũi tên bằng đồng; có lợi cho việc giữ chính đạo trong gian nan, cát tường. Nghĩa Tượng truyện là: Giữ chính đạo trong gian nan vì vẫn chưa bước vào cảnh giới sáng tỏ.
Trong quẻ Thệ Hạp, Cửu Tứ tương đương với vật cứng bị cắn trong miệng, giống như xương, vì vậy hào từ đặc biệt chỉ thịt khô còn xương.
Xét theo quái tượng, Cửu Tứ là hào dương ở ngôi mềm, vừa có đặc tính cứng mạnh, dũng mãnh, vừa có phẩm chất khiêm nhường, nhu thuận, có thể nói là cương nhu tương tế. Cửu Tứ là đại thần ở gần quân chủ, nhưng người ở ngôi quân chủ là Lục Ngũ, hào âm ở ngôi vua, tài chất yếu, phụ thuộc rất nhiều vào Cửu Tứ. Phần lớn trọng trách trị nước và những việc khó phải do Cửu Tứ đảm nhiệm. Cửu Tứ nằm trong hỗ Khảm (Lục Tam, Cửu Tứ, Lục Ngũ), Khảm tượng trưng cho gian nan hiểm trở. Cửu Tứ phải dựa vào việc giữ chính đạo để vượt qua hiểm nguy; tuy khó khăn nhưng sẽ có thu hoạch bất ngờ. Thịt thời xưa có được do bắn thú, nên mũi tên bằng kim loại có thể còn cắm trong đó. Vì vậy thu hoạch bất ngờ của Cửu Tứ giống như đang ăn thịt mà lấy được mũi tên bằng kim loại.
Gợi ý của hào này là: Trong hoàn cảnh gian nan, chỉ cần lòng ngay thẳng, ý chí kiên cường và nỗ lực khắc phục khó khăn thì sẽ có thu hoạch. Dù “thịt khô còn xương” rất khó nhai, cũng không được bỏ cuộc; kiên trì làm thì sẽ đạt kết quả.
Người xưa thường ăn thịt thú săn, nên ăn phải mũi tên trong thịt vốn là chuyện bình thường. Tuy nhiên, ở đây nó chỉ sự thu hoạch bất ngờ. Nói cách khác, trong cuộc sống gian khổ vẫn giữ chính đạo thì sẽ được cát tường.
Giải thích chi tiết hào Lục Ngũ của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục Ngũ: Cắn thịt khô, được vàng. Giữ chính đạo thì nguy, nhưng không lỗi.
Tượng truyện nói: Giữ chính đạo tuy nguy nhưng không lỗi, vì địa vị thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Ngũ: Ăn thịt khô, phát hiện mũi tên bằng kim loại. Bói được điềm nguy hiểm, nhưng cuối cùng không có tai họa.
Tượng truyện nói: Bói được điềm nguy hiểm nhưng cuối cùng không có tai họa vì Lục Ngũ ở vị trí trung của quẻ trên, địa vị và hình tượng thích đáng, có thể biến nguy thành an.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này sẽ gặp vận may; người bệnh khỏi, người bị oan được minh oan, người học hành tiến thủ thành danh, người làm quan trừ được kẻ tiểu nhân.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đúng lúc vận hành, không việc gì không như ý.
Tài vận: Hàng hóa thượng phẩm tự nhiên đem lại lợi nhuận.
Gia trạch: Phương vị thích hợp.
Thân thể: Kiêng ăn thịt, cẩn thận điều dưỡng.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục Ngũ động biến thành quẻ số 25 của Chu Dịch: Thiên Lôi Vô Vọng. Đây là quẻ dị quái, Chấn ở dưới, Càn ở trên. Càn là trời, cứng và mạnh; Chấn là sấm, cứng và động. Động mà mạnh, dương cứng thịnh, lòng người phấn chấn, tất có thu hoạch; nhưng phải theo sự thuần chính, không được vọng động. Không vọng tất có được, tất đem lại phúc.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm quẻ Thệ Hạp, hào từ: Lục Ngũ: Cắn thịt khô, được vàng; giữ chính đạo thì nguy, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa hào này là: Cắn thịt khô, được vàng. Chỉ cần giữ chính đạo thì tuy có nguy hiểm nhưng không có tai họa.
Nghĩa của Tượng truyện là: Giữ chính đạo không có tai họa vì Lục Ngũ ở địa vị thích đáng.
Ngay cả thiên tử ở địa vị tôn quý như Cửu Ngũ cũng ăn thịt khô, cho thấy có thể cùng bề tôi và dân chúng trong thiên hạ sống tiết kiệm. Sống giản dị như vậy tự nhiên khiến quốc khố dồi dào, nên gọi là “được vàng”. Không ăn thịt tươi mà ăn thịt khô, đó là biểu hiện tiết kiệm. Vì sao? Thời viễn cổ, người ta coi thịt tươi là món ngon, thường bắt được con mồi là nấu ăn ngay. Về sau, khi săn được nhiều hơn mức có thể ăn, thịt còn dư. Có phần bị thối, có phần được gió hong khô vẫn ăn được. Dần dần con người nắm được kỹ thuật bảo quản thịt tươi. Một quân vương làm gương, ăn uống tiết kiệm, tự nhiên sẽ khiến dân chúng cũng tiết kiệm theo
Nhờ vậy của cải xã hội mới được tích lũy. Đây thực ra là một phương thức trị quốc cực kỳ quan trọng trong thời thịnh thế.
Hào từ: Lục Ngũ: Cắn thịt khô, được vàng; giữ chính đạo thì nguy, không lỗi. Gợi mở nhân sinh
Xét theo quái tượng, Lục Ngũ là hào mềm ở ngôi cứng, cương nhu tương tế. Lại ở vị trí trung, có thể giữ đạo trung.
Khó khăn mà nó đối mặt đã lớn hơn, không còn là “thịt mỡ” hay “thịt khô” mà là “thịt khô cứng”. Trong hoàn cảnh ấy, Lục Ngũ vẫn giữ chính đạo, khắc phục khó khăn, kiên quyết loại bỏ kẻ gian nịnh, giành được lòng tin của người khác. Lục Ngũ luôn ôm lòng cảnh giác, phòng họa từ khi chưa xảy ra; nhờ vậy tai họa tự nhiên giảm bớt, lại có thu hoạch bất ngờ.
Người được hào này nên học tinh thần của Cửu Ngũ: dù ở giữa hiểm trở, vẫn có thể vượt qua thuận lợi.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ hai mươi mốt Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng Cửu: Mang gông che lấp tai, hung.
Tượng truyện nói: Mang gông che lấp tai là khả năng nghe không sáng tỏ.
Giải thích bằng văn nói
Thượng cửu: Mang gông lớn trên vai, làm sứt tai, nguy hiểm.
Tượng truyện nói: Mang gông lớn trên vai, làm sứt tai, là vì người ấy không nghe lời can ngăn, xúc phạm hình luật.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải đề phòng tranh chấp, kiện tụng. Người đang ở hoàn cảnh bất lợi có thể mắt tai không sáng rõ, khí huyết bất thông, thậm chí nguy đến tính mạng. Người làm quan phải đề phòng lời gièm pha của kẻ tiểu nhân, kẻo bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Xử thế mềm mỏng, có thể giữ được bình an.
Tài vận: Có lợi thì nên dừng, sẽ không bị tổn thất lớn.
Gia trạch: Phải đề phòng sự cố bất ngờ.
Sức khỏe: Bệnh về mắt và tai; nên chăm sóc vùng đầu.

Quẻ biến của hào Thượng Cửu
"周易第21卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào thượng cửu biến thành quẻ 51 của Chu Dịch: Chấn vi Lôi. Quẻ này do cùng một quái chồng lên nhau, Chấn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là sấm; hai Chấn chồng lên nhau tạo tiếng vang rất lớn, có thể xua tan khí trệ và làm thông suốt. Ngày thường nên ở yên mà nghĩ đến nguy hiểm, giữ lòng kính sợ, không dám lơ là; gặp biến cố bất ngờ cũng có thể bình thản như thường, vẫn nói cười tự nhiên.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Thệ Hạp, hào từ: Thượng cửu: Gông che kín tai, hung. Giải nghĩa hào từ.
Hà nghĩa là “mang, gánh”. Hiệu là dụng cụ hình phạt bằng gỗ, chỉ sự trói buộc. Diệt nghĩa là che lấp.
Ý nghĩa của hào này là: Mang gông nặng, che lấp đôi tai, có điều nguy hiểm.
Ý nghĩa kinh văn là: Đeo gông che kín tai, thật nguy hiểm.
Thượng cửu vác chiếc gông nặng trên vai. Việc này nhằm phô bày cho mọi người thấy, để họ lấy đó làm gương mà không phạm pháp như người này. Chỉ trọng phạm mới phải đeo gông. Mục đích chính là cảnh cáo người đời sau, chứ không phải khiến phạm nhân sửa đổi, bởi loại phạm nhân này sau khi bị bêu trước công chúng thì đáng lẽ phải bị chém đầu, nên mới nguy hiểm. Vì sao Thượng cửu lại rơi vào kết cục như vậy? Tượng truyện đưa ra đáp án: “Tai không sáng, mắt không tỏ.” Nghĩa là người này không nghe được lời phải, cũng không nhìn rõ, nên mới dẫn đến kết cục hiện nay. Vì sao mắt không tỏ? Vì ông ta không thấy tình thế trước mắt. Tình thế lúc ấy đang trừng trị người xấu và việc xấu, thưởng cho người tốt và việc tốt, vậy mà ông ta vẫn tiếp tục hoạt động tội lỗi, khiến tội lỗi ngày càng lớn, đi đến tình cảnh hôm nay. Tuy có tai mà chẳng dùng được bao nhiêu. Vì ngoan cố không chịu thay đổi, cuối cùng phạm trọng tội, bị đeo gông, giải đi thị chúng, đưa đến Ngọ Môn xử trảm, trở thành điển hình răn dân chúng tuân thủ pháp luật.
Thượng cửu: Gông che kín tai, hung. Gợi mở cho cuộc đời.
Tượng truyện nói: “Gông che kín tai” nghĩa là tai không sáng, không biết lắng nghe.
Điều này chỉ rõ vì sao từ “đeo gông ở chân” của Sơ cửu lại chuyển thành “mang gông”, gông từ chân lên vai; mức độ nghiêm trọng đã đến cực điểm. Đó là “tai không sáng”, vì không nghe lời khuyên, không thể bỏ ác theo thiện, quá đỗi kém sáng suốt, nên phải chịu hình phạt nặng nề như vậy.
Xét từ quái tượng, Thượng cửu ở cuối quái Ly, lại nằm trên quái Khảm hỗ (Lục tam, Cửu tứ, Lục ngũ). Ly tượng mắt, Khảm tượng tai, do đó có thể thấy tai mắt bị che lấp. Tự mình không sáng tai tỏ mắt, không nghe lời khuyên, nên hình cụ mới ở trên vai.
Người được hào này, nếu khi làm việc có bạn bè đến khuyên can mà bạn không nghe lời khuyên chân thành của họ, cứ khăng khăng làm theo ý mình, thực hiện việc không chắc chắn, thì chẳng bao lâu sẽ rơi vào cảnh khốn đốn cả trong lẫn ngoài.