Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch Kinh Dịch quẻ 32: quẻ Hằng, Lôi Phong Hằng, Chấn trên Tốn dưới

Hằng: hanh thông, không lỗi, lợi về giữ chính. Có nơi để đi thì có lợi.

Thoán truyện nói: Hằng là lâu dài. Cứng tiến lên trên, mềm ở dưới. Sấm và gió tương trợ, thuận mà động, cứng mềm đều ứng, đó là Hằng. Hằng hanh, không lỗi, lợi về chính, vì giữ đạo được lâu dài. Đạo của trời đất bền lâu không ngừng. Có nơi để đi thì có lợi, vì hết rồi lại bắt đầu. Mặt trời mặt trăng được trời nên chiếu sáng lâu dài; bốn mùa biến hóa mà thành tựu lâu dài; thánh nhân giữ đạo lâu dài khiến thiên hạ hóa thành. Xem điều gì thường hằng thì có thể thấy được tình trạng chân thật của trời đất muôn vật!

Tượng truyện nói: Sấm và gió là Hằng. Người quân tử noi theo đó mà lập thân, giữ phương hướng không đổi.

Sơ đồ quẻ 32: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 32 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Hằng
Hằng: hanh thông, không lỗi, lợi về giữ chính. Có nơi để đi thì có lợi.
Tượng truyện nói: Sấm và gió là Hằng. Người quân tử noi theo đó mà lập thân, giữ phương hướng không đổi.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Hằng: hanh thông, không lỗi; bói hỏi việc giữ chính thì cát. Có nơi để đi thì có lợi.
Tượng từ nói: Thượng quái là Chấn, tượng sấm; hạ quái là Tốn, tượng gió. Gió sấm gột rửa, làm vũ trụ luôn mới, đó là tượng của quẻ Hằng. Người quân tử xem tượng ấy mà đứng trên đạo chính, kiên trì giữ vững, không thay đổi.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Hằng Chấn trên Tốn dưới, là quẻ thế thứ ba thuộc cung Chấn. Hằng nghĩa là kiên trì, bền định, có lòng bền bỉ; như vậy mới đạt hanh thông.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Thường hằng lâu dài, lâu bền không đổi; người quân tử vì lợi ích mà không đổi phương hướng.
Người được quẻ này phải lập thân trên đạo chính, kiên định không đổi, tiếp tục nỗ lực thì ắt hanh thông. Người thiếu nghị lực, sớm nắng chiều mưa sẽ không thành công.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cần mẫn vun bồi, không được nóng vội tiến lên.
Tài vận: Giữ nơi buôn bán, không nên thay đổi.
Gia trạch: Không đổi phương hướng; vợ chồng hòa hợp trăm năm.
Sức khỏe: Hen suyễn có đờm, vẫn dùng phương thuốc cũ.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là nam, là sấm; Tốn là nữ, là gió. Cứng ở trên, mềm ở dưới. Cứng trên mềm dưới, tạo hóa có quy luật, đôi bên hỗ trợ và nuôi dưỡng nhau. Âm dương tương ứng, hợp với tình thường, nên gọi là Hằng.
Đại tượng: Chấn là động, nên thích hợp phát triển ra ngoài; Tốn là vào, là hướng nội. Một trong một ngoài, mỗi bên ở đúng vị trí của mình, nên có thể bền vững không đổi, ví với đạo vợ chồng.
Vận thế: Muôn việc hanh thông; bền bỉ nỗ lực, an thủ bổn phận thì cát, vọng động thì rước tai họa.
Sự nghiệp: Việc gì cũng thành nhờ Hằng; kiên trì bền bỉ ắt có hiệu quả. Hằng là nền tảng thành công. Vì vậy phải có động cơ thuần chính, giữ tĩnh chứ không nóng động, không vội cầu thành, cũng không cố chấp giữ con đường chết; nên xuất phát từ thực tế bản thân. Tối kỵ là người ta nói sao mình nói vậy, tốt nhất là tùy thời ứng biến. Như thế mọi việc thuận lợi và thành công.
Kinh doanh: Hành động mạnh dạn, đi đâu cũng có lợi. Chú ý tình hình thị trường và hoàn cảnh xung quanh. Có thể thay đổi chiến lược kinh doanh theo thời thế, nhưng không được đổi lẽ thường và chính đạo; kiên trì với hướng đã lựa chọn cẩn trọng, chớ chạy theo trào lưu. Kỵ không tự lượng sức mà mạo hiểm cưỡng cầu.
Cầu danh: Có đầu có cuối, đầu tốt cuối tốt, đứng trên đạo chính, kiên trì không ngừng; trong học tập càng phải nâng cao tu dưỡng, ắt có thể thành công.
Hôn nhân tình cảm: Việc tốt lắm khi gặp trắc trở, nhưng không được thấy mới nới cũ; hãy hòa thuận chung sống, chớ cố chấp ý riêng.
Quyết sách: Tiến từng bước, đừng kỳ vọng quá cao ngay từ đầu, nhưng cũng không vì thế mà từ bỏ theo đuổi. Hãy thực tế, xuất phát từ tình hình thực tế, đừng viển vông, càng không được tự lượng sai mà mạo hiểm tiến gấp, chớ thay đổi thất thường. Tin rằng vũ trụ luôn mới, không ngừng sửa đổi nhận thức và bổ sung nội dung mới.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ ba mươi hai

Tượng quẻ Hằng và ý nghĩa biểu tượng của quẻ Lôi Phong Hằng
Quẻ Hằng là quẻ dị chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là nam, là sấm; Tốn là nữ, là gió. Cứng ở trên, mềm ở dưới. Cứng trên mềm dưới, tạo hóa có quy luật, đôi bên hỗ trợ nhau. Âm dương tương ứng, hợp với tình thường, nên gọi là Hằng.
Quẻ Hằng đứng sau quẻ Hàm. Tự quái nói: “Đạo vợ chồng không thể không lâu dài, nên tiếp theo là Hằng. Hằng là lâu dài.” Quẻ Hàm mô tả sự cảm ứng nam nữ rồi mở rộng đến đạo vợ chồng; sau khi tình cảm được khơi lên nhanh chóng, điều cần nghĩ đến tiếp theo là duy trì lâu dài, vì thế xuất hiện quẻ Hằng.
Tượng giải thích quẻ Hằng như sau: Sấm và gió là Hằng; người quân tử lập thân, giữ phương hướng không đổi. Tượng quẻ Hằng là Tốn, gió, ở dưới và Chấn, sấm, ở trên; đó là hình ảnh gió sấm giao nhau, thường xuyên hỗ trợ nhau và hoạt động không ngừng, nên tượng trưng cho lâu dài. Người quân tử noi theo hiện tượng ấy, dựng nên phẩm cách của mình và giữ vững đạo chính lâu dài không đổi.
Xét theo tượng quẻ, thượng quái của quẻ Hằng là Chấn, tượng sấm và con trai trưởng; hạ quái là Tốn, tượng gió và con gái trưởng. Sấm động thì gió theo, đây là hình ảnh lớn nhất về sự luôn theo nhau trong tự nhiên, cũng là điều ai cũng nhìn thấy. Hễ sấm vang thì gió thổi tiếp; người xưa dùng hiện tượng tự nhiên ấy để nói đạo lý âm dương theo nhau, rồi suy ra vợ chồng cũng nên hòa thuận mãi mãi như sấm với gió. Quẻ Hàm trước đó là thiếu nam và thiếu nữ; quẻ này biến thành trưởng nam và trưởng nữ, ngụ ý nam nữ từ tình yêu tuổi trẻ đã trưởng thành thành quan hệ vợ chồng lâu bền. Trong quẻ Hằng, nội quái là Tốn, ngoại quái là Chấn, biểu thị mô hình người vợ lo việc trong, người chồng lo việc ngoài.

Quẻ 32 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ cửu của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục. Đào sâu cái Hằng, bói hỏi thì hung, không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Cái hung của việc đào sâu cái Hằng là vì ngay từ đầu đã cầu sự sâu xa quá mức.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Đào sâu mãi không ngừng; bói hỏi thì nguy, không có gì lợi.
Tượng từ nói: Đào sâu mãi không ngừng mà thành nguy hiểm vì cố cầu quá sâu ắt gặp tai họa sụp đổ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này nhân tình xa cách, tiền đồ mờ mịt; tĩnh thủ có thể tránh họa. Người làm quan khó được cấp trên trọng dụng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: An phận biết đủ; cầu vinh lại chuốc nhục.
Tài vận: Có lãi thì bán, chớ tham chờ giá cao.
Gia trạch: Hoa lệ khó bền; chớ cầu kết giao với người quyền thế.
Sức khỏe: Chấn thương do vận động, vì hành động quá vội.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ lục động, biến thành quẻ 34 của Chu Dịch: Đại Tráng, Lôi Thiên Đại Tráng. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Càn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là sấm, Càn là trời. Cái cứng của Càn được Chấn làm cho vận động. Trời vang sấm, mây sấm cuồn cuộn, thanh thế lớn lao, dương khí thịnh vượng, muôn vật sinh trưởng. Vì cứng mạnh có lực nên gọi là Tráng; vì vừa lớn vừa mạnh nên gọi là Đại Tráng. Bốn hào dương mạnh mẽ, tích cực hành động; trên đúng dưới đúng, cột ngay thì bóng thẳng.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất của quẻ Hằng, hào từ: Sơ lục: Đào sâu cái Hằng, bói hỏi thì hung, không có gì lợi. Giải nghĩa hào từ.
“Tuấn” nghĩa là nạo vét, tức đào sâu lòng sông để khơi thông dòng nước.
Ý nghĩa của hào từ này là: Đào tận gốc, đi sâu để cầu đạo lâu bền thì ắt nguy hiểm, không có chút lợi nào.
Sơ lục là hào đầu của quẻ Hằng, tượng trưng cho việc sự vật đang ở giai đoạn khởi đầu. Sơ lục là âm nhu thất chính, ở vị thấp, ứng với Cửu tứ bên trên. Đang ở đầu đạo Hằng mà muốn cầu thành quả xa xôi, lại muốn đạt quá nhanh nên không thành. Vì vậy phải thận trọng giữ đạo chính để phòng hung hiểm. Nếu cứ cố chấp đào sâu cái Hằng, ắt không được lợi.
Cái hung hiểm do đi sâu cầu đạo lâu bền sinh ra là vì ngay khi sự việc mới bắt đầu đã theo đuổi mục tiêu quá xa.
Người được hào này có thể đang chuẩn bị bắt đầu việc gì đó. Lúc này không thích hợp theo đuổi quá sâu, cũng không nên đầu tư quá nhiều ngay một lúc. Chưa thật sự hiểu tình hình mà đã hành động theo dự tính lâu dài thì khó kiểm soát diễn biến về sau.
Quẻ Hằng cũng chỉ tình cảm vợ chồng; thượng thể là chồng, hạ thể là vợ. Theo quan điểm người xưa, vợ nên thuận theo, dưới theo trên, phụ nữ không nên chủ động. Vì vậy xét về quan hệ nam nữ hay tình cảm vợ chồng, hào này tượng cho người phụ nữ nóng lòng cầu thành, chủ động theo đuổi, thiếu lý trí tự chế và tu dưỡng, như thế là bất lợi.
Đạo lâu bền của trời đất có sự biến đổi của bốn mùa; đạo lâu bền của mặt trời mặt trăng có biến đổi đầy vơi, thịnh suy. Con người cũng nên noi theo đạo lâu bền của trời đất và nhật nguyệt, không được vì Hằng mà cho rằng không cần biến đổi.
Lâu bền là tương đối, và lâu bền có thể đem lại kết quả tốt. Hào từ lấy việc “đào sâu cái Hằng” làm ví dụ để nói rõ đạo lý này. Người xưa chọn sống bên sông nước, nên nạn lũ trở thành mối nguy tiềm ẩn trong đời sống. Vì vậy họ phải nạo vét lòng sông đúng lúc để tránh lòng sông cạn khiến nước tràn vào ruộng vườn, xóm làng. Nhưng ngày nào cũng nạo vét thì không cần thiết; làm vậy chỉ tốn sức mà không được lợi, vì nạo vét hằng ngày không làm tăng tư liệu sinh hoạt. Cho nên tuy mục đích ban đầu là tốt, kết quả vẫn có thể nguy hiểm.
Giải thích chi tiết hào Cửu nhị của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu nhị. Hối tiếc tiêu tan.
Tượng truyện nói: Cửu nhị hối tiếc tiêu tan vì có thể giữ trungได้ lâu dài.
Giải thích bằng văn nói
Cửu nhị: Không có hối tiếc.
Tượng từ nói: Hào Cửu nhị nói không hối tiếc vì có thể kiên định giữ đạo trung chính.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nếu an phận, giữ mình thì không lo. Người làm quan nên giữ thân trong sạch, hành sự thận trọng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Ổn định thế đứng, có thể tránh họa.
Tài vận: Cố chịu đựng chờ biến chuyển, sẽ có thể thu hồi vốn.
Gia trạch: Vị trí bất lợi, phải chờ mười năm.
Sức khỏe: Vẫn tương đối bình ổn.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu nhị động, biến thành quẻ 62 của Chu Dịch: Tiểu Quá, Lôi Sơn Tiểu Quá. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Cấn ở dưới và Chấn ở trên. Cấn là núi, Chấn là sấm. Sấm vang vượt qua núi, không thể không kinh sợ. Dương là lớn, âm là nhỏ; bốn hào âm bên ngoài vượt hơn hai hào dương ở giữa, nên gọi là Tiểu Quá, hơi vượt quá.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Hằng, hào từ: Cửu nhị: Hối tiếc tiêu tan. Giải nghĩa hào từ.
“Vong” nghĩa là tự nhiên biến mất.
Ý nghĩa của hào từ này là: Hối tiếc tự nhiên tiêu tan.
Xét theo tượng quẻ, Cửu nhị là hào dương ở vị trí mềm, vốn có cái hối vì thất chính. Nhưng vì an vị và ứng với trung, có thể thận trọng giữ trung đạo, lâu dài không lệch, nên xóa được nỗi hối vì thất chính.
Tượng phân tích hào này: Cửu nhị “hối tiếc tiêu tan” vì có thể giữ trung lâu dài. Điều đó chỉ ra rằng Cửu nhị có thể khiến hối tiếc tự tiêu tan vì có thể thường xuyên giữ trung, không thiên lệch.
Người được hào này nên ghi nhớ lời gợi ý của nó: khi giải quyết vấn đề phải giữ nguyên tắc không thiên lệch, như vậy không có gì đáng lo. “Người giữ đức trung chính, biết giữ mình thì tự nhiên được an.” Làm việc theo đạo chính, an phận thủ thường, mọi việc sẽ trở nên thuận lợi.
Người được hào này, nếu hiện đang hối hận về việc đã làm, thì có thể tạm rời đi một thời gian hoặc chuyển hướng chú ý; hối tiếc sẽ tự nhiên tiêu tan.
Nếu phụ nữ gieo quẻ được hào này, điều đó cho thấy tính hiếu thắng, thích tranh hơn thua, tài năng nổi bật và rất cứng rắn trước đàn ông, thường trách móc hoặc xét nét chồng quá mức. Có phần trái nghịch, thiếu cung kính. Tuy vậy, người phụ nữ vẫn trung thành với chồng, không có hành vi trái đạo đức, nên sẽ không gặp tai họa hay chuyện gì đáng hối tiếc.
Hào Cửu Nhị ở vào vị trí trung tâm của quái dưới, lại tương ứng với hào Lục Ngũ, nên sẽ không xảy ra chuyện đáng hối tiếc. Trong quẻ Hằng, Cửu Nhị có thể lâu dài giữ đạo trung dung, không quá gấp gáp cũng không quá chậm chạp, vì vậy có thể bền bỉ mà thành công, không chuốc lấy hối tiếc.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tam
Cửu Tam: Không giữ được đức hạnh lâu dài, có thể phải chịu nhục. Hỏi về việc giữ chính đạo thì gặp khó khăn.
Tượng truyện nói: Không giữ được đức hạnh thì không có nơi nào dung thân.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tam: Người không thể giữ gìn đức hạnh ắt sẽ chịu nhục. Gieo quẻ cho thấy điềm khó khăn.
Tượng từ nói: Người không giữ được đức hạnh, thay đổi thất thường, sẽ không được ai tin cậy và cuối cùng rơi vào cảnh không còn chỗ dung thân.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải đề phòng kẻ tiểu nhân phỉ báng và rắc rối do tranh chấp, kiện tụng. Người làm quan phải đề phòng bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Ba lòng hai dạ thì làm sao thành công?
Tài vận: Không có nghề nghiệp lâu dài thì khó thu được lợi.
Gia trạch: Bất lợi cho việc ở lâu; khó cùng nhau đi đến tuổi già.
Sức khỏe: Vận động không đều đặn thì làm sao khỏe mạnh?

Quẻ biến của hào Cửu Tam
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tam biến, quẻ trở thành quẻ 40 của Chu Dịch: Giải, Lôi Thủy Giải. Đây là quẻ do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Khảm ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là sấm, là động; Khảm là nước, là hiểm. Hiểm ở bên trong, động ở bên ngoài. Mùa đông khắc nghiệt khiến trời đất bế tắc; khi tĩnh lặng đạt đến cực điểm thì vận động bắt đầu. Muôn vật đổi mới, đông qua xuân tới, mọi thứ được tháo gỡ, đó gọi là Giải.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Hằng, hào từ: Cửu Tam: Không giữ được đức hạnh, có thể phải chịu nhục; hỏi về việc giữ chính đạo thì gặp khó. Giải nghĩa hào từ.
“Có thể” nghĩa là có lẽ, đôi khi hoặc thường xuyên. “Chịu” nghĩa là tiếp nhận hoặc gánh chịu. “Nhục” nghĩa là sự sỉ nhục.
Ý nghĩa của hào từ này là: Người không thể giữ đức hạnh lâu dài thường sẽ chịu nhục; nếu cứ cố chấp không thay đổi thì sẽ gặp khó khăn.
Xét từ tượng quẻ, hào Cửu Tam là hào dương ở vị trí cứng, mang hình tượng hiếu động, nóng vội và tiến lên mù quáng. Hào này chính ứng với Thượng Lục, lại nằm giữa nội quái và ngoại quái, nên dễ xuất hiện tình trạng nóng nảy, tiến bừa và không giữ được sự bền chí đến cùng. “Phàm người không có lòng bền lâu đều không thể giữ được đức.” Không thể duy trì phẩm đức tốt đẹp của mình trong thời gian dài, đôi khi sẽ chịu nhục và làm việc gì cũng khó khăn.
Xét về quan hệ vợ chồng và tình cảm nam nữ, vì quái dưới đại diện cho người nữ nên hào này chỉ người phụ nữ rất mạnh mẽ, không chỉ tính tình bộc trực, nóng nảy mà còn có vẻ không thể lâu dài giữ đạo làm vợ, vì thế sẽ bị người khác làm nhục. Nếu cứ cố chấp không hối cải thì khó có kết quả tốt.
Tượng truyện phân tích hào này rằng: “Không giữ được đức hạnh” thì không có chỗ dung thân. Điều này chỉ ra rằng “không thể lâu dài giữ phẩm đức tốt đẹp” là vì nóng vội, hành động càn quấy, không biết an phận giữ mình và thiếu lòng bền chí, nên cuối cùng rơi vào cảnh không còn nơi nương thân.
Cửu Tam: Không giữ được đức hạnh, có thể phải chịu nhục. Hỏi về việc giữ chính đạo thì gặp khó khăn.
Tượng truyện nói: Không giữ được đức hạnh thì không có nơi nào dung thân.
Ý nghĩa kinh văn là: Không thể duy trì đạo đức của mình lâu dài, có thể chịu nhục; giữ chính đạo thì gặp ưu phiền và khó khăn.
Ý nghĩa Tượng từ là: Người không thể giữ đức hạnh lâu dài thì đi đến đâu cũng không được dung nạp.
Hào Cửu Tam là hào trên cùng của quái Tốn ở quái dưới trong quẻ Hằng. Tốn có nghĩa là đi theo, thuận theo, nên tính tình của Cửu Tam đáng lẽ phải cực kỳ hòa nhã. Nhưng vì sao lại “không giữ được đức hạnh”? Thì ra Cửu Tam ở vị trí trung tâm của quái Càn hỗ ở dưới, mang hình tượng mạnh mẽ và hiếu động, đồng thời lại tương ứng với Thượng Lục. Vì vậy sự thuận theo của nó không phải là phục tùng một mực, mà là dao động trái phải: lúc thì theo người này, lúc lại theo người khác. Hành vi ấy gọi là “không giữ được đức hạnh”, vì thế khó tránh khỏi “chịu nhục” và “giữ chính đạo thì gặp khó”. Hào Cửu Tam giống như Lữ Bố thời Tam Quốc. Tuy dũng mãnh và tuấn tú, ông ta luôn bất trung với chủ, thấy ai mạnh hơn thì theo người đó. Vì vậy người đời chửi ông ta là “nô lệ ba họ”, cuối cùng chẳng ai dám thu nhận, phải chịu kết cục bị giết.
Đó chính là điều Tượng từ nói: “Không giữ được đức hạnh thì không có chỗ dung thân.”
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ: Ngoài đồng không có chim thú.
Tượng truyện nói: Ở lâu tại vị trí không phải của mình thì làm sao bắt được chim thú?
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Đi săn mà không thu được gì.
Tượng từ nói: Ở lâu trong hoàn cảnh không thích hợp thì làm sao có được thu hoạch?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này mưu tính việc gì cũng tốn sức, khó thành. Người làm quan thời vận không thuận, có thể bị thụt lùi.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không ở đúng vị trí nên chỉ uổng công vô ích.
Tài vận: Địa điểm không đúng thì làm sao có lợi?
Gia trạch: Phương vị bất lợi; vợ chồng bất hòa.
Sức khỏe: Thận trọng khi dùng thuốc.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tứ biến, quẻ trở thành quẻ 46 của Chu Dịch: Thăng, Địa Phong Thăng. Đây là quẻ do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Khôn ở trên. Khôn là đất, là thuận; Tốn là cây, là nhún nhường. Đất nuôi cây, cây dần dần lớn lên, cao hơn và trở thành gỗ hữu dụng, ví như sự nghiệp từng bước thăng tiến, tiền đồ rộng mở; vì vậy gọi là Thăng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Hằng, hào từ: Cửu Tứ: Ngoài đồng không có chim thú. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa của hào từ này là: Ra đồng săn bắn nhưng không bắt được chim thú nào.
Xét từ tượng quẻ, hào Cửu Tứ là hào dương ở vị trí mềm, nên mất vị, cứ ở lâu tại vị trí không thích hợp. Tuy có ứng với Sơ Lục, nhưng làm việc thường chỉ uổng công vô ích, giống như ra ngoài săn bắn mà chẳng thu được gì.
Tượng truyện phân tích hào này: “Ở lâu tại vị trí không phải của mình thì làm sao bắt được chim thú?”
Điều này chỉ ra rằng: Ở lâu tại nơi vốn không phải vị trí mình nên ở thì làm sao bắt được chim thú? Có thể thấy Cửu Tứ làm việc không thiết thực, giống như đi săn nhưng không chờ ở nơi con mồi xuất hiện mà lại chọn sai địa điểm; hoặc tuy đi săn nhưng tâm trí không tập trung, rốt cuộc lại rong chơi ngắm núi thưởng nước.
“Săn lâu trên núi ắt được thú, câu lâu dưới nước ắt được cá; nếu không ở đúng vị trí thì chẳng khác nào trèo cây tìm cá, chắc chắn không thu được gì.” Người được hào này có thể đã chọn sai hướng khi làm việc, dẫn đến tay trắng. Nếu cầu tài cũng khó được như nguyện.
Người gieo được hào này thì quan hệ vợ chồng không hòa hợp. Trong quẻ Hằng, quái trên đại diện cho người nam, còn Cửu Tứ ở đầu quái trên. Thời xưa, đàn ông đi săn để nuôi gia đình. Nếu ra ngoài săn mà không thu được gì thì lấy gì nuôi gia đình? Điều này cho thấy người đàn ông thiếu năng lực. Vì hào dương ở vị trí âm, mất vị và không ở trung, có thể là người có tài nhưng không gặp thời, hoặc thiếu năng lực, nghèo khổ, không thể làm tròn trách nhiệm của người đàn ông là nuôi dưỡng gia đình. Vì vậy quan hệ vợ chồng có thể dao động.
Cửu Tứ cũng là người có tính bền bỉ, nhưng vì hào dương ở vị trí chẵn, lại là hào chủ của quái Chấn ở trên, nên mang hình tượng thích động chứ không thích tĩnh. Nói cách khác, sự lâu bền của Cửu Tứ là lâu bền trong vận động. Đi săn mà đi khắp nơi thì có thể bắt thú chạy, nhưng cứ di chuyển liên tục lại không thể bắt chim. Vì sao? Vì chim sẽ hoảng sợ bay đi. Muốn bắt chim phải lặng lẽ nấp sang một bên để chim bay qua. Nếu la hét, đi lại khắp nơi thì chim sẽ không bay đến.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục Ngũ: Giữ đức hạnh lâu dài, giữ chính đạo. Người phụ nữ thì cát, người chồng thì hung.
Tượng truyện nói: Người phụ nữ giữ chính đạo thì cát, vì theo một người đàn ông cho đến cuối đời. Người chồng phải tùy việc mà định điều nghĩa; nếu lại theo người phụ nữ thì hung.
Giải thích bằng văn nói
Lục Ngũ: Hạnh kiểm nhất quán. Gieo quẻ thì phụ nữ được cát, người chồng gặp nguy.
Tượng từ nói: Hào từ cho rằng phụ nữ giữ tiết hạnh thì cát, vì điều đó phù hợp với đạo lý theo chồng trọn đời. Còn người chồng phải tùy việc mà định nghĩa, đường lối có nhiều cách; nếu dùng đức của phụ nữ để ràng buộc đàn ông thì ắt gặp nguy.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này thường chuốc lấy lời hủy báng và tổn thất. Người làm quan thường xu nịnh quyền thế mà đánh mất mình.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Mê đắm tình cảm, vì cái nhỏ mà mất cái lớn.
Tài vận: Chỉ thấy lợi nhỏ thì làm sao giàu có?
Gia trạch: Nữ mạnh, nam yếu; phụ nữ gieo quẻ thì vui mừng, đàn ông gieo quẻ thì hung.
Sức khỏe: Nam nữ có số mệnh khác nhau.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Ngũ biến, quẻ trở thành quẻ 28 của Chu Dịch: Đại Quá, Trạch Phong Đại Quá. Đây là quẻ do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là đầm, là vui; Tốn là cây, là thuận. Nước đầm nhấn chìm thuyền, thành ra sai lầm lớn. Các hào âm dương đảo ngược, dương lớn mà âm nhỏ. Hành động khác thường, mang tượng quá mức: trong cứng, ngoài mềm.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Hằng, hào từ: Lục Ngũ: Giữ đức hạnh lâu dài, giữ chính đạo; phụ nữ thì cát, người chồng thì hung. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa của hào từ này là: Giữ đức hạnh lâu dài, kiên định với chính đạo. Đối với phụ nữ thì cát, đối với đàn ông thì hung.
Với hào này, cần xét người gieo quẻ là nam hay nữ. Cả hai đều được yêu cầu đạt đến sự “bền lâu”; đối với phụ nữ, trọng tâm là hôn nhân và quan hệ vợ chồng, còn đối với đàn ông,
trọng tâm là xử lý công việc và gây dựng sự nghiệp. Vì vậy, kết quả của sự “bền lâu” ở nam và nữ là khác nhau.
Tượng truyện phân tích hào này: “Phụ nữ giữ chính đạo thì cát vì theo một người cho đến cuối đời; người chồng phải tùy việc mà định điều nghĩa, nếu theo phụ nữ thì hung.” Điều này chỉ ra rằng phụ nữ giữ đức hạnh, giữ chính đạo thì có thể được cát tường; nghĩa là trong đời người phụ nữ chỉ nên lấy một chồng và suốt đời không tái giá. Đàn ông gặp việc phải xử lý quyết đoán; nếu chỉ biết thuận theo như phụ nữ, do dự thiếu quyết đoán thì sẽ gặp nguy hiểm. Trong hoạt động xã hội, đàn ông phải tùy việc mà ứng biến, giỏi quyền biến. Nếu giống phụ nữ, lúc nào cũng vâng dạ, chỉ giữ những quy củ tập tục cũ kỹ và thiếu tinh thần khai phá, thì rất khó đạt thành tựu, thậm chí có thể không kiếm đủ tiền nuôi gia đình.
Lục Ngũ dùng đức âm nhu ở ngôi tôn quý. Tuy không đắc vị nhưng ở trung, nên có thể giữ đạo trung dung. Đối với phụ nữ, sự bền lâu của Lục Ngũ là cát, vì cùng một người đàn ông sống đến đầu bạc phù hợp với tư tưởng lễ giáo phong kiến. Nhưng vì sao đàn ông giống phụ nữ thì lại hung? Thực ra “người chồng” mà Lục Ngũ chỉ đến chính là Cửu Nhị và Cửu Tứ. Lục Ngũ có địa vị cao hơn Cửu Nhị và Cửu Tứ, nên cả hai phải nghe theo Lục Ngũ; vì thế hào từ nói chồng của Lục Ngũ gặp nguy hiểm. Sự cát tường của Lục Ngũ đến từ việc chọn một người trong Cửu Nhị và Cửu Tứ làm chồng, rồi theo một người đến trọn đời. Xét tượng quẻ, người được chọn nên là Cửu Tứ. Cũng vì thế Cửu Tứ mới “ngoài đồng không có chim thú”. Cửu Tứ tương ứng với Sơ Lục, có tượng yêu đương, nhưng do quan hệ với Lục Ngũ nên không thể tiến xa hơn với Sơ Lục, vì vậy “không có con mồi”.
Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ ba mươi hai trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục: Dao động không ngừng, hung.
Tượng truyện nói: Ở ngôi cao mà dao động không ngừng thì hoàn toàn không thành công.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Vận động lâu dài không ngừng, nguy hiểm.
Tượng từ nói: Người cai trị sớm ban lệnh, tối đã đổi, chính lệnh không nhất quán thì cuối cùng làm gì cũng không thành công.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này cầu danh cầu lợi, việc nhỏ có thể thành nhưng việc lớn thì không công. Phụ nữ bất lợi về phương diện chồng. Người làm quan sẽ rất mệt mỏi, nhiều động ít tĩnh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Công danh đã đến hồi kết, không thể hành động tùy tiện.
Tài vận: Không muốn quyết toán thì không thể nói đến lợi nhuận.
Gia trạch: Không nên thay đổi nhà cũ; tái hôn ắt hung.
Sức khỏe: Cẩn thận bảo dưỡng.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第32卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng Lục biến, quẻ trở thành quẻ 50 của Chu Dịch: Đỉnh, Hỏa Phong Đỉnh. Đây là quẻ do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Ly ở trên. Đốt củi nấu ăn, biến cái sống thành cái chín, mang nghĩa bỏ cái cũ lập cái mới. Đỉnh là vật quý nặng, có ba chân vững vàng. Nấu ăn tượng trưng cho lương thực đầy đủ, không còn khó khăn và phiền nhiễu. Trên nền tảng đó, thích hợp tiến hành cải cách và phát triển sự nghiệp.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Hằng, hào từ: Thượng Lục: Dao động không ngừng, hung.
Hào thứ sáu của quẻ Hằng, hào từ: Thượng Lục: Dao động không ngừng, hung. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa của hào từ này là: Dao động không ổn định, không thể giữ đạo bền lâu, nên gặp nguy hiểm.
Tượng truyện phân tích hào này: “Ở ngôi cao mà dao động không ngừng thì hoàn toàn không thành công.” Điều đó chỉ ra rằng tuy dao động, không thể giữ đạo bền lâu, lại còn ở địa vị cao, nên cuối cùng sẽ không làm nên việc gì và chẳng lập được công tích.
Xét từ tượng quẻ, Thượng Lục ở vị trí cao nhất của toàn quẻ, giống như người ở ngôi vị cao. Nếu người ấy liên tục thay đổi chính sách và tác phong, người khác sẽ không biết phải làm thế nào. Người được hào này nên làm việc có lòng bền chí, nhẫn nại, kiên trì từ đầu đến cuối thì mới có thu hoạch. Nếu thấy mới nới cũ, không ngừng hiếu động và không giữ được sự bền lâu, sẽ không thể làm nên việc lớn.
Xét về quan hệ vợ chồng, nếu không thể “giữ sự bền lâu”, không giữ lòng chung thủy với vợ mà lại trăng hoa bên ngoài, ý niệm không ngừng dao động, thì tình nghĩa vợ chồng khó bền lâu và kết quả ắt nguy hiểm.
Thượng Lục: Dao động không ngừng, hung.
Tượng truyện nói: Ở ngôi cao mà dao động không ngừng thì hoàn toàn không thành công.
Ý nghĩa kinh văn là: Chấn động kéo dài không dừng, rất nguy hiểm.
Ý nghĩa Tượng từ là: Thượng Lục ở vị trí cao nhất mà dao động không ngừng, không làm nên việc gì, nên gặp nguy hiểm.
Thượng Lục ở vị trí cao nhất của toàn quẻ, nhưng vì cũng là hào trên cùng của quái Chấn nên có tượng dao động dữ dội. Ở địa vị cao mà dao động không quyết thì không thể làm nên việc gì, vì vậy Thượng Lục nguy hiểm. Trong Đạo Đức Kinh có câu: “Trị nước lớn như nấu cá nhỏ.” Nghĩa là cai trị một nước lớn thì chính sách không được thay đổi thường xuyên. Nếu sáng ban lệnh, chiều đã đổi, dân chúng rất khó hiểu rốt cuộc chính sách của nhà cầm quyền là gì. Vì thời cổ đại thông tin chưa phát triển, vua một nước lớn phải cai trị như nấu cá nhỏ, tôm nhỏ; khi nấu không thể đảo đi đảo lại thường xuyên, nếu không chúng sẽ nát vụn. Cai trị nước lớn cũng phải như vậy. Thượng Lục giống như một vị vua luôn thay đổi ý định, làm sao không nguy hiểm cho được?