☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 1 Càn là Trời. Càn: lớn lao hanh thông, lợi về chính bền.
䷀
Càn là Trời. Càn: lớn lao hanh thông, lợi về chính bền.
01 Càn là Trời
Chữ “Càn” [1] vốn viết là ?, tức chỉ ba điều kỳ diệu của quẻ này: ba hào dương thuần nối liền, hình thái viên mãn. Về sau, chữ ấy được giả tá để chỉ số ba. Bên trái theo ?, phần giữa tượng mặt trời, trên dưới tượng các tia sáng, tức hình ảnh mặt trời tỏa rạng. Tính của Càn, xét ở con người, là khí lực viên mãn, mang nghĩa cương kiện. Thuyết Quái truyện nói: “Càn là mạnh.” Tính của Trời cực kỳ cương, đức của Trời cực kỳ kiện, thể của Trời viên mãn sung thực; sự vận động mạnh mẽ tiến lên không hề gián đoạn. Vì vậy quẻ và chữ này biểu đạt những phẩm chất ấy.
Càn: lớn lao hanh thông, lợi về chính bền.
Năm chữ này do Văn vương đặt lời, gọi là lời Thoán. Càn là Trời, như phần trên đã trình bày; xét ở con người thì là vua, là cha, là chồng. Trời bao trùm đất, vua nuôi dưỡng dân, cha dưỡng dục con, chồng dẫn dắt vợ—đạo lý chỉ là một. “Nguyên hanh lợi trinh” là bốn đức của Càn. Càn mang tính dương thuần, lại gồm đủ bốn đức ấy, nên khí của Càn tràn đầy vũ trụ, không có giây phút nào gián đoạn. Đó là cái gọi là mạnh mẽ mà không ngừng nghỉ. Người biết noi theo sự kiện kiện của Càn thì tự nhiên khí lực sung thực, ngẩng lên hay cúi xuống đều không hổ thẹn. Đó chính là “khí hạo nhiên” mà Mạnh Tử nói: “cực lớn, cực cứng, phối hợp với nghĩa và Đạo, nên không gì làm nó suy nhược.” Đây là bậc thánh nhân mang đức của mệnh Trời.
“Nguyên” nghĩa là bắt đầu, lớn lao, nhân ái; không mục nát, không hư hoại, là đại đức của Trời Đất, nhờ đó vạn vật được sinh ra. Chữ Nguyên gồm bộ “nhị” và “nhân”; chữ Nhân và chữ Thiên cũng vậy. Ở Trời gọi là Nguyên, ở người gọi là Nhân, cũng như người nhân từ đem lòng yêu mình mà mở rộng đến người khác.
“Thông” nghĩa là hanh thông. Đó là ý nghĩa vạn vật bắt đầu sinh ra rồi trưởng thành và thành tựu. Ở con người, điều ấy là lễ. Con người xử thế, nếu coi trọng lễ nghĩa và nhường nhịn, thì có thể khơi dậy tình cảm yêu mến sự sống, cũng giống với lòng nhân ái rộng lớn của đức nhân.
“Lợi” nghĩa là thích đáng, tốt lành; vạn vật phát đạt và hoàn thành sự sống của mình. Ở người là Nghĩa: thấy lợi thì nghĩ đến Nghĩa. Lợi và Nghĩa dường như trái nhau, nhưng thực ra đủ để làm thành tựu lẫn nhau; lấy Nghĩa làm Lợi thì Lợi chính là Nghĩa. Chữ “Nghĩa” [2] gồm chữ Dương và chữ Ngã: ta chăn dê, mặc áo bằng lông dê, ăn thịt dê—tự nuôi mình bằng sức lao động của mình, không tham cầu vật bên ngoài. “Nghĩa” là điều thích đáng, là đạt được lợi theo chính đạo. Về chữ “Lợi”, Thuyết Văn nói: “Theo chữ Đao và chữ Hòa.” Có hòa thì mới có lợi; chữ này vốn là dạng tỉnh lược của chữ Hòa. Người xưa nói: “Lợi là sự hòa của Nghĩa.”
“Trinh” nghĩa là chính, gồm các nghĩa chính trực, thường hằng và bền chắc. Ở người là Trí: bên trong có thần minh sáng suốt, bên ngoài có tiết tháo kiên trinh không lay chuyển; nhờ đó có điều để giữ, có việc để làm, tự mình bảo toàn được kết cục tốt đẹp. Vì vậy nói: “Chính bền đủ để làm nên việc.”
“Nguyên hanh” là vật bắt đầu thông đạt. Xét theo thời tiết thì từ mùa xuân sang mùa hạ; xét theo ngày thì từ sáng sớm đến ban ngày; ở người thì từ trẻ thơ đến tráng niên; ở cỏ cây thì từ nảy mầm đến tươi tốt. “Lợi trinh” là vật thành tựu rồi lại trở về gốc. Xét theo thời tiết thì từ mùa thu sang mùa đông; xét theo ngày thì từ ánh chiều đến buổi tối; ở người thì từ tráng niên đến tuổi già; ở cỏ cây thì từ kết quả đến rụng xuống. Người làm vua phải lấy Trời Càn làm khuôn mẫu; vì vậy đạo trị thiên hạ không gì lớn hơn dùng lòng Nhân để nuôi dưỡng muôn vật. Vua có thể thể hiện lòng Nhân thì trong thiên hạ không ai không được thấm nhuần đức ấy. Văn Ngôn truyện nói: “Quân tử thể hiện lòng Nhân, đủ để làm bậc trưởng của người khác.” Hơn nữa, tượng và nghĩa của các hào trong quẻ này không chỉ dành riêng cho bậc quân thượng; từ người nam người nữ bình thường trở xuống, ai làm cha, làm chồng cũng đều có tượng, nghĩa và công dụng của quẻ tương tự, nên suy rộng theo loại. Hai chữ “Nguyên hanh” chuyên nói về toàn thể đức tính của Càn; hai chữ “Lợi trinh” còn hàm chứa ý giáo huấn, răn dạy của bậc thánh. Vì sao? “Trinh” là chính, “Lợi” là thích đáng; quý ở chỗ làm điều thích đáng và giữ điều chính đáng. Suy từ việc người, nhất thiết phải có tính cương kiện, tiến thủ. Nhưng nếu tự cậy vào dũng khí, sự quyết đoán và quả cảm của mình mà khinh người yếu, lấn át người nhu hòa, lừa người ngu dốt, thì chính mình sẽ rơi vào lỗi lầm. Chỉ có chính trực mới có thể khắc phục và giữ được đến cùng. Vì vậy lời răn được nhấn mạnh là “Lợi trinh”.
Thoán truyện nói: “Lớn lao thay, Nguyên của Càn! Vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, nên nó thống lĩnh Trời. Mây vận hành, mưa ban xuống, muôn loài đều thành hình. Ánh sáng lớn soi rõ đầu cuối; sáu vị tùy thời mà thành. Đúng thời cưỡi sáu rồng để điều khiển Trời. Đạo Càn biến hóa, khiến mỗi vật chính đáng với tính và mệnh của mình; bảo tồn và hòa hợp đại hòa. Vì vậy chính bền thì có lợi. Đứng đầu muôn vật mà xuất hiện, khiến muôn nước đều được yên ổn.”
Sáu mươi bốn quẻ bắt đầu từ Càn và kết thúc ở Vị Tế. Trong quẻ Vị Tế, tính của lửa Ly đi lên, tính của nước Khảm đi xuống, tạo thành tượng nước lửa không giao nhau. Cương nhu đều sai vị, việc còn chưa thành, nên gọi là Vị Tế. Vị Tế không phải là không thể thành, mà là còn chờ điều kiện để thành. Sáu mươi bốn quẻ tuần hoàn không dứt; vì vậy tận cùng của Vị Tế chính là trở lại làm điểm khởi đầu của Càn Thiên. Càn là mặt trời; nơi ánh sáng dương chiếu đến, vạn vật sinh trưởng. Bởi vậy cỗ xe đất Khôn nhận được ánh chiếu, hơi nước bốc lên thành mây, rồi giáng xuống thành mưa; lạnh nóng, khô ẩm và bốn mùa tuần hoàn không ngừng trong chốc lát. Tinh khí ngưng tụ, muôn vật thành hình; tất cả đều bắt đầu từ công đức của một khí Càn Nguyên. Vì vậy Khổng Tử ca ngợi: “Lớn lao thay, Nguyên của Càn! Vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, nên nó thống lĩnh Trời. Mây vận hành, mưa ban xuống, muôn loài đều thành hình.” “Càn Nguyên” bao gồm cả âm và dương. Mọi vật ắt có đầu và cũng ắt có cuối. Nay dùng các vị trí của sáu hào [3] để biểu thị đạo lý ấy: hào đầu là sinh, là bắt đầu; hào trên cùng là chết, là kết thúc. Mỗi vật theo tính của mình, không lỡ thời và mệnh, gọi là “ánh sáng lớn soi rõ đầu cuối; sáu vị tùy thời mà thành.” Công năng khiến vạn vật có khởi đầu là công của Càn Nguyên, nhưng Càn Nguyên cũng không tự nhận công; tất phải khiến sáu người con là Sấm, Gió, Nước, Lửa, Núi và Đầm cùng hỗ trợ nhau mà thành. Sáu con cũng có thể tiếp nối ý Trời, thi hành điều Trời muốn mà không trái Đạo. Trời dùng đạo của người cha để điều khiển sáu con, gọi là “đúng thời cưỡi sáu rồng để điều khiển Trời.” Càn, Khôn và sáu con đồng lòng thi hành đạo biến hóa; công dụng trong đó vô cùng, nhưng phần lượng đều có định. Càn, Khôn và sáu con mỗi bên hoàn thành mệnh của mình, sinh sinh biến hóa, gọi là “Đạo Càn biến hóa, khiến mỗi vật chính đáng với tính và mệnh của mình.” Tám quái đồng lòng, nhờ đó bảo tồn và hòa hợp sự tạo hóa này, gọi là “bảo tồn và hòa hợp đại hòa.” “Vì vậy chính bền thì có lợi” nghĩa là sự thịnh suy của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, bốn mùa và vạn vật đều vận chuyển không sai, không trái chu kỳ, không nghịch thứ tự, giữ được nguyên khí thường tồn, nên vừa lợi vừa chính bền. Bậc thánh thể theo Trời, lập chuẩn tắc tối cao, dùng một người thống trị muôn việc; đó gọi là “đứng đầu muôn vật mà xuất hiện.” Trong một thời gian, muôn vật được tắm gội trong sự giáo hóa của thánh nhân, lại sinh trưởng phồn thịnh, mỗi vật đều có chỗ của mình. Sách nói: “Dân tóc đen được biến hóa, bấy giờ hòa thuận.” Sự hòa hợp của muôn nước có thể thấy rõ ở đây. Công đức của thánh nhân và vương đạo đều được bao quát trọn vẹn trong một đức của Càn Nguyên.
Thoán truyện này, từ câu “Lớn lao thay” đến “thống lĩnh trời”, chuyên nói về đức tính và bản thể thuần dương của Càn thiên; từ “mây vận hành” đến “hình thể lưu chuyển”, chuyên nói về công dụng kỳ diệu của trời đất, nơi âm dương hòa hợp, giao cảm với nhau; từ “đạo Càn” đến “tính mệnh”, chuyên nói về công đức của sự biến hóa âm dương. Đến câu “giữ gìn và bảo toàn đại hòa”, lời giải được mở rộng sang đạo làm người, từ đó mới thấy rõ năng lực giáo huấn, răn dạy và khuyên người hướng thiện; vì vậy, đại nghĩa của tam tài trời, đất và người được đầy đủ. Nói chung, con người noi theo trời. Đạo của trời lấy sự công minh, sáng suốt, chính trực và chính đại làm chủ, thì đạo làm vua, làm cha, làm chồng cũng nên lấy sự công minh, sáng suốt, chính trực và chính đại làm chuẩn.
Quẻ này thuần dương ở trên, tự nhiên có tượng bậc quân vương ngự trị muôn nước. Bậc Thánh thiên tử thể theo đức Càn mà trị vì, ban bố giáo hóa, tuyên dương chính sách sáng suốt, tiến cử người hiền lương và trao chức vụ cho họ; lại tôn kính những người có đức như rồng, tôn làm sư phó, cho tham dự việc chính sự, như vua Thang đối với Y Doãn, vua Văn đối với Thái Công. Nhờ vậy, mọi chức vụ đều hưng thịnh, phong tục tốt đẹp lan truyền, lệnh lành được thi hành; đó gọi là “giữ gìn và làm trọn nền thái hòa”. Vua ra lệnh thì bề tôi thi hành, trên xướng thì dưới hòa; vua tôi đồng đức, trên dưới thông suốt chí hướng. Bậc quân tử giữ đức thuần dương, gặp đúng thời thái bình sáng tỏ trọn vẹn; dù có kẻ bất thiện, chúng cũng ẩn trong Khôn của nội quái, không dám lại lộ đầu. Vì thế bốn biển yên ổn, quốc gia an khang, muôn dân đều được tắm gội trong lòng nhân sâu dày và ân trạch rộng lớn, không một ngày nào không được ở đúng chỗ của mình. Khi ấy vật sản dồi dào, nước giàu dân thịnh, binh mạnh lương đủ; muôn dân dâng trọn lòng yêu nước, các nước chung quanh cũng cảm phục mà quy hướng về nền giáo hóa ấy. Mọi người vui vẻ hân hoan, cùng hưởng thái bình. Đó là thời của Càn.
Xưa kia, Thiên hoàng Nintoku đích thân xem xét nỗi khổ của dân chúng, rồi ban chiếu cho trăm quan rằng: “Thiên tử giống như mặt trời chiếu soi đất đai bên dưới, làm cho muôn vật sinh trưởng, nên thay trời mà thi hành giáo hóa. Thiên tử là con của trời, kính cẩn tiếp nhận chí của trời để thực hiện đối với dân chúng bên dưới. Vì vậy, trẫm xem trăm họ như con, trăm họ xem trẫm như cha. Nay trẫm được tôn làm thiên tử, phúc lộc vô cùng; nhưng nếu trong dân chúng còn có người chưa được ở đúng chỗ của mình, như những người góa vợ, góa chồng, mồ côi, không con, nghèo khổ không nơi kêu cứu; người con hiếu thảo không có thuốc chữa bệnh cho cha mẹ; người gặp tai họa nước lửa mà không thể nuôi dưỡng vợ con; hoặc người mắc bệnh mà không có thuốc men, thì trẫm há có thể nhẫn tâm ngồi yên mà lạnh lùng nhìn sao? Các khanh trăm quan đều là những người lớn tuổi và có đức nhất trong các con của trẫm. Các khanh vốn phải thương xót đàn em, cùng một lòng với trẫm. Từ nay trong ba năm, miễn thuế cả thiên hạ, cứu nỗi khổ của muôn dân. Các khanh hãy cùng thể hiện ý này. Như lời nói rằng, chỉ cần một người không được ở đúng chỗ, đó là lỗi của trẫm. Trẫm thực không chịu nổi nỗi lo đói khát; mong các khanh trong ba năm cùng trẫm chia sẻ gian khổ này, thực hành chính sách cứu đói.” Trăm quan kính cẩn vâng mệnh, ai nấy đều cảm kích trước ân đức sâu dày của quân vương. Vì thế phong khí xã hội đổi thay hẳn: từ người quyền quý ở trên đến dân hèn mọn ở dưới, phong trào cứu giúp người nghèo, thương xót kẻ khốn cùng đều thịnh hành. Người có tiền của dư dật thì cứu tế dân nghèo; người cho thuê ruộng thì không thu tô; người cho thuê nhà thì không thu tiền nhà; mọi người chỉ lấy lòng bác ái làm vinh dự. Bởi vậy, muôn dân không ai không được hưởng ân trạch của nhà vua, chẳng khác nào đại hạn gặp mưa lành. Sau ba năm, Thiên hoàng lên lầu, từ xa trông thấy khói bếp bay lên, vui mừng ngâm bài ngự chế “Nhà cao”. Cho đến ngày nay, mỗi khi truy tụng chiếu văn và ngâm hát ca dao, không ai không xúc động tưởng nhớ thánh đức.
Quả thật, trong thời đại lấy Càn mà ngự trị thiên hạ, phong tục đồng nhất, đạo lý quy về một mối, vua sáng tôi hiền cùng chúc mừng lẫn nhau, không còn gì ngăn cách. Nhưng vận khí thay đổi theo vòng xoay; thịnh cực tất suy. Có khi long ẩn mà không được dùng, có khi long bay quá cao mà sinh hối tiếc. Sự lên xuống của thời vận, lý tiêu trưởng của âm dương, xưa nay đều như nhau. Vì vậy, người quân tử ở đời, nếu phân biệt được thời của sáu hào và nghiền ngẫm lời hào, thì có thể biết thiên mệnh thuận hay nghịch với mình. Phàm ai gieo được quẻ này, nên noi theo vòng tuần hoàn của mặt trời, không tạm ngừng dù chỉ chốc lát; mọi việc động tĩnh đều phải lấy Càn làm phép. Người ấy có lượng rộng, kiến thức vượt trội, mang tượng rồng bay lên được sức, đúng là lúc nên tiến tới mà hành động. Tuy nhiên, sự thông suốt hay bế tắc, tiến hay lui của vận khí đều có điều thích đáng riêng. Hào đầu tuy thấy tài đức như rồng, nhưng thời cơ chưa gặp, chưa thể tiến lên gánh vác công việc. Hào hai là lúc có thể tiến đã đến, lại ứng với cửu ngũ; hào hai và hào năm đều dùng đức dương mà ứng nhau, nhưng vẫn chưa phải sự thân mật tương giao của âm dương. Hào ba càng gần ngôi trên mà vẫn ở dưới, phải chật vật siêng năng, khá nhọc lòng suy nghĩ. Đến hào bốn, vận thịnh của hào năm sắp tới; phải xét tình thế trên dưới, cân nhắc cơ hội tiến lui, chờ thời mà hành động, nhưng vẫn chưa quyết. Hào năm được vận khí lớn lao, mọi công lao đều được khảo xét và hoàn thành, đúng lúc cưỡi thời mà được ngôi. Hào trên, vận khí của Càn đã qua, nên mau lui để khỏi hối tiếc. Câu “lợi kiến đại nhân” của cửu nhị bắt nguồn từ chí hướng kiên định không lay chuyển của sơ cửu; cửu tam không lỗi là do cửu nhị thận trọng, không tự khoe; cửu tứ không lỗi là do cửu tam luôn siêng năng cảnh giác; cửu ngũ “lợi kiến đại nhân” là do cửu tứ biết nghi ngờ và xét đoán cẩn thận. Vì vậy, tích lũy công lao và bồi đắp hạnh kiểm là việc của con người, còn thành tựu đức hạnh và phát huy tài năng lại tùy thuộc trời. Đến cửu ngũ, tinh thần của long ẩn đã cạn, mọi lo lắng nghi ngờ đều tiêu tan; không suy nghĩ, không tạo tác, chỉ còn niềm vui “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khi ấy, không cần đợi đến thượng cửu mới biết nỗi hối tiếc của con rồng bay quá cao. Đó chính là lẽ không thể trái, số không thể trốn, và cơ hội không thể không dự liệu trước.
Tượng truyện nói: “Sự vận hành của trời mạnh mẽ không ngừng; người quân tử theo đó mà tự cường, không nghỉ.”
“Sự vận hành của trời mạnh mẽ” là một câu dùng để quyết định đức của toàn quẻ Càn. “Hành” nghĩa là vận hành, lưu chuyển, hành động, đi tới và đạo. Ý nói đạo trời vận hành như mặt trời ngày ngày chuyển động, tuần hoàn không ngừng, không dừng lại một khắc nào. Người quân tử thể theo sự cương kiện của trời, để thiên lý lưu hành trọn vẹn, không xen vào một chút dục vọng riêng nào, tự cường không nghỉ, đủ sức đảm đương mọi sự nghiệp trong thiên hạ. Tuy nhiên, tự cường không có nghĩa là hung hăng tiến tới mà không biết dừng, hay tùy tiện sử dụng sức mạnh cứng rắn. Nghiền ngẫm các lời “long ẩn”, “long bay quá cao” và câu “không có đầu” trong dụng cửu, thì có thể hiểu được ý nghĩa ấy.
【Dự đoán】
○ Người được quẻ này phải cương kiện khi đối diện công việc, tự cường không nghỉ, giống như sự vận hành của trời. Đồng thời phải bao hàm bốn đức “nguyên, hanh, lợi, trinh”. Càn có ý ban đức mà không tính lợi.
○ Phụ nữ: Gieo được quẻ này, âm ở ngôi dương, e rằng cứng mạnh quá mức trung. Nên thận trọng.
○ Thời tiết: Trong các hào hai, ba, bốn, năm, nếu có hào biến thì nhất định trời sẽ quang.
○ Mua bán: Bất lợi cho mua nhưng có lợi cho bán.
○ Họa phúc: Tích thiện thì để lại phúc, tích bất thiện thì để lại họa; e rằng quả báo không ở đời này mà ở hậu duệ.
○ Người thường: Có nguy cơ tự nâng mình lên cao mà không biết những việc thiết thực nhỏ nhặt.
○ Người hiền: Biết thiên mệnh mà một mình đi theo đạo này, nhưng e rằng các thế lực âm thầm ẩn náu, kẻ tiểu nhân cấu kết gièm pha.
Chữ “Càn” [1] vốn viết là ?, tức chỉ ba điều kỳ diệu của quẻ này: ba hào dương thuần nối liền, hình thái viên mãn. Về sau, chữ ấy được giả tá để chỉ số ba. Bên trái theo ?, phần giữa tượng mặt trời, trên dưới tượng các tia sáng, tức hình ảnh mặt trời tỏa rạng. Tính của Càn, xét ở con người, là khí lực viên mãn, mang nghĩa cương kiện. Thuyết Quái truyện nói: “Càn là mạnh.” Tính của Trời cực kỳ cương, đức của Trời cực kỳ kiện, thể của Trời viên mãn sung thực; sự vận động mạnh mẽ tiến lên không hề gián đoạn. Vì vậy quẻ và chữ này biểu đạt những phẩm chất ấy.
Càn: lớn lao hanh thông, lợi về chính bền.
Năm chữ này do Văn vương đặt lời, gọi là lời Thoán. Càn là Trời, như phần trên đã trình bày; xét ở con người thì là vua, là cha, là chồng. Trời bao trùm đất, vua nuôi dưỡng dân, cha dưỡng dục con, chồng dẫn dắt vợ—đạo lý chỉ là một. “Nguyên hanh lợi trinh” là bốn đức của Càn. Càn mang tính dương thuần, lại gồm đủ bốn đức ấy, nên khí của Càn tràn đầy vũ trụ, không có giây phút nào gián đoạn. Đó là cái gọi là mạnh mẽ mà không ngừng nghỉ. Người biết noi theo sự kiện kiện của Càn thì tự nhiên khí lực sung thực, ngẩng lên hay cúi xuống đều không hổ thẹn. Đó chính là “khí hạo nhiên” mà Mạnh Tử nói: “cực lớn, cực cứng, phối hợp với nghĩa và Đạo, nên không gì làm nó suy nhược.” Đây là bậc thánh nhân mang đức của mệnh Trời.
“Nguyên” nghĩa là bắt đầu, lớn lao, nhân ái; không mục nát, không hư hoại, là đại đức của Trời Đất, nhờ đó vạn vật được sinh ra. Chữ Nguyên gồm bộ “nhị” và “nhân”; chữ Nhân và chữ Thiên cũng vậy. Ở Trời gọi là Nguyên, ở người gọi là Nhân, cũng như người nhân từ đem lòng yêu mình mà mở rộng đến người khác.
“Thông” nghĩa là hanh thông. Đó là ý nghĩa vạn vật bắt đầu sinh ra rồi trưởng thành và thành tựu. Ở con người, điều ấy là lễ. Con người xử thế, nếu coi trọng lễ nghĩa và nhường nhịn, thì có thể khơi dậy tình cảm yêu mến sự sống, cũng giống với lòng nhân ái rộng lớn của đức nhân.
“Lợi” nghĩa là thích đáng, tốt lành; vạn vật phát đạt và hoàn thành sự sống của mình. Ở người là Nghĩa: thấy lợi thì nghĩ đến Nghĩa. Lợi và Nghĩa dường như trái nhau, nhưng thực ra đủ để làm thành tựu lẫn nhau; lấy Nghĩa làm Lợi thì Lợi chính là Nghĩa. Chữ “Nghĩa” [2] gồm chữ Dương và chữ Ngã: ta chăn dê, mặc áo bằng lông dê, ăn thịt dê—tự nuôi mình bằng sức lao động của mình, không tham cầu vật bên ngoài. “Nghĩa” là điều thích đáng, là đạt được lợi theo chính đạo. Về chữ “Lợi”, Thuyết Văn nói: “Theo chữ Đao và chữ Hòa.” Có hòa thì mới có lợi; chữ này vốn là dạng tỉnh lược của chữ Hòa. Người xưa nói: “Lợi là sự hòa của Nghĩa.”
“Trinh” nghĩa là chính, gồm các nghĩa chính trực, thường hằng và bền chắc. Ở người là Trí: bên trong có thần minh sáng suốt, bên ngoài có tiết tháo kiên trinh không lay chuyển; nhờ đó có điều để giữ, có việc để làm, tự mình bảo toàn được kết cục tốt đẹp. Vì vậy nói: “Chính bền đủ để làm nên việc.”
“Nguyên hanh” là vật bắt đầu thông đạt. Xét theo thời tiết thì từ mùa xuân sang mùa hạ; xét theo ngày thì từ sáng sớm đến ban ngày; ở người thì từ trẻ thơ đến tráng niên; ở cỏ cây thì từ nảy mầm đến tươi tốt. “Lợi trinh” là vật thành tựu rồi lại trở về gốc. Xét theo thời tiết thì từ mùa thu sang mùa đông; xét theo ngày thì từ ánh chiều đến buổi tối; ở người thì từ tráng niên đến tuổi già; ở cỏ cây thì từ kết quả đến rụng xuống. Người làm vua phải lấy Trời Càn làm khuôn mẫu; vì vậy đạo trị thiên hạ không gì lớn hơn dùng lòng Nhân để nuôi dưỡng muôn vật. Vua có thể thể hiện lòng Nhân thì trong thiên hạ không ai không được thấm nhuần đức ấy. Văn Ngôn truyện nói: “Quân tử thể hiện lòng Nhân, đủ để làm bậc trưởng của người khác.” Hơn nữa, tượng và nghĩa của các hào trong quẻ này không chỉ dành riêng cho bậc quân thượng; từ người nam người nữ bình thường trở xuống, ai làm cha, làm chồng cũng đều có tượng, nghĩa và công dụng của quẻ tương tự, nên suy rộng theo loại. Hai chữ “Nguyên hanh” chuyên nói về toàn thể đức tính của Càn; hai chữ “Lợi trinh” còn hàm chứa ý giáo huấn, răn dạy của bậc thánh. Vì sao? “Trinh” là chính, “Lợi” là thích đáng; quý ở chỗ làm điều thích đáng và giữ điều chính đáng. Suy từ việc người, nhất thiết phải có tính cương kiện, tiến thủ. Nhưng nếu tự cậy vào dũng khí, sự quyết đoán và quả cảm của mình mà khinh người yếu, lấn át người nhu hòa, lừa người ngu dốt, thì chính mình sẽ rơi vào lỗi lầm. Chỉ có chính trực mới có thể khắc phục và giữ được đến cùng. Vì vậy lời răn được nhấn mạnh là “Lợi trinh”.
Thoán truyện nói: “Lớn lao thay, Nguyên của Càn! Vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, nên nó thống lĩnh Trời. Mây vận hành, mưa ban xuống, muôn loài đều thành hình. Ánh sáng lớn soi rõ đầu cuối; sáu vị tùy thời mà thành. Đúng thời cưỡi sáu rồng để điều khiển Trời. Đạo Càn biến hóa, khiến mỗi vật chính đáng với tính và mệnh của mình; bảo tồn và hòa hợp đại hòa. Vì vậy chính bền thì có lợi. Đứng đầu muôn vật mà xuất hiện, khiến muôn nước đều được yên ổn.”
Sáu mươi bốn quẻ bắt đầu từ Càn và kết thúc ở Vị Tế. Trong quẻ Vị Tế, tính của lửa Ly đi lên, tính của nước Khảm đi xuống, tạo thành tượng nước lửa không giao nhau. Cương nhu đều sai vị, việc còn chưa thành, nên gọi là Vị Tế. Vị Tế không phải là không thể thành, mà là còn chờ điều kiện để thành. Sáu mươi bốn quẻ tuần hoàn không dứt; vì vậy tận cùng của Vị Tế chính là trở lại làm điểm khởi đầu của Càn Thiên. Càn là mặt trời; nơi ánh sáng dương chiếu đến, vạn vật sinh trưởng. Bởi vậy cỗ xe đất Khôn nhận được ánh chiếu, hơi nước bốc lên thành mây, rồi giáng xuống thành mưa; lạnh nóng, khô ẩm và bốn mùa tuần hoàn không ngừng trong chốc lát. Tinh khí ngưng tụ, muôn vật thành hình; tất cả đều bắt đầu từ công đức của một khí Càn Nguyên. Vì vậy Khổng Tử ca ngợi: “Lớn lao thay, Nguyên của Càn! Vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, nên nó thống lĩnh Trời. Mây vận hành, mưa ban xuống, muôn loài đều thành hình.” “Càn Nguyên” bao gồm cả âm và dương. Mọi vật ắt có đầu và cũng ắt có cuối. Nay dùng các vị trí của sáu hào [3] để biểu thị đạo lý ấy: hào đầu là sinh, là bắt đầu; hào trên cùng là chết, là kết thúc. Mỗi vật theo tính của mình, không lỡ thời và mệnh, gọi là “ánh sáng lớn soi rõ đầu cuối; sáu vị tùy thời mà thành.” Công năng khiến vạn vật có khởi đầu là công của Càn Nguyên, nhưng Càn Nguyên cũng không tự nhận công; tất phải khiến sáu người con là Sấm, Gió, Nước, Lửa, Núi và Đầm cùng hỗ trợ nhau mà thành. Sáu con cũng có thể tiếp nối ý Trời, thi hành điều Trời muốn mà không trái Đạo. Trời dùng đạo của người cha để điều khiển sáu con, gọi là “đúng thời cưỡi sáu rồng để điều khiển Trời.” Càn, Khôn và sáu con đồng lòng thi hành đạo biến hóa; công dụng trong đó vô cùng, nhưng phần lượng đều có định. Càn, Khôn và sáu con mỗi bên hoàn thành mệnh của mình, sinh sinh biến hóa, gọi là “Đạo Càn biến hóa, khiến mỗi vật chính đáng với tính và mệnh của mình.” Tám quái đồng lòng, nhờ đó bảo tồn và hòa hợp sự tạo hóa này, gọi là “bảo tồn và hòa hợp đại hòa.” “Vì vậy chính bền thì có lợi” nghĩa là sự thịnh suy của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, bốn mùa và vạn vật đều vận chuyển không sai, không trái chu kỳ, không nghịch thứ tự, giữ được nguyên khí thường tồn, nên vừa lợi vừa chính bền. Bậc thánh thể theo Trời, lập chuẩn tắc tối cao, dùng một người thống trị muôn việc; đó gọi là “đứng đầu muôn vật mà xuất hiện.” Trong một thời gian, muôn vật được tắm gội trong sự giáo hóa của thánh nhân, lại sinh trưởng phồn thịnh, mỗi vật đều có chỗ của mình. Sách nói: “Dân tóc đen được biến hóa, bấy giờ hòa thuận.” Sự hòa hợp của muôn nước có thể thấy rõ ở đây. Công đức của thánh nhân và vương đạo đều được bao quát trọn vẹn trong một đức của Càn Nguyên.
Thoán truyện này, từ câu “Lớn lao thay” đến “thống lĩnh trời”, chuyên nói về đức tính và bản thể thuần dương của Càn thiên; từ “mây vận hành” đến “hình thể lưu chuyển”, chuyên nói về công dụng kỳ diệu của trời đất, nơi âm dương hòa hợp, giao cảm với nhau; từ “đạo Càn” đến “tính mệnh”, chuyên nói về công đức của sự biến hóa âm dương. Đến câu “giữ gìn và bảo toàn đại hòa”, lời giải được mở rộng sang đạo làm người, từ đó mới thấy rõ năng lực giáo huấn, răn dạy và khuyên người hướng thiện; vì vậy, đại nghĩa của tam tài trời, đất và người được đầy đủ. Nói chung, con người noi theo trời. Đạo của trời lấy sự công minh, sáng suốt, chính trực và chính đại làm chủ, thì đạo làm vua, làm cha, làm chồng cũng nên lấy sự công minh, sáng suốt, chính trực và chính đại làm chuẩn.
Quẻ này thuần dương ở trên, tự nhiên có tượng bậc quân vương ngự trị muôn nước. Bậc Thánh thiên tử thể theo đức Càn mà trị vì, ban bố giáo hóa, tuyên dương chính sách sáng suốt, tiến cử người hiền lương và trao chức vụ cho họ; lại tôn kính những người có đức như rồng, tôn làm sư phó, cho tham dự việc chính sự, như vua Thang đối với Y Doãn, vua Văn đối với Thái Công. Nhờ vậy, mọi chức vụ đều hưng thịnh, phong tục tốt đẹp lan truyền, lệnh lành được thi hành; đó gọi là “giữ gìn và làm trọn nền thái hòa”. Vua ra lệnh thì bề tôi thi hành, trên xướng thì dưới hòa; vua tôi đồng đức, trên dưới thông suốt chí hướng. Bậc quân tử giữ đức thuần dương, gặp đúng thời thái bình sáng tỏ trọn vẹn; dù có kẻ bất thiện, chúng cũng ẩn trong Khôn của nội quái, không dám lại lộ đầu. Vì thế bốn biển yên ổn, quốc gia an khang, muôn dân đều được tắm gội trong lòng nhân sâu dày và ân trạch rộng lớn, không một ngày nào không được ở đúng chỗ của mình. Khi ấy vật sản dồi dào, nước giàu dân thịnh, binh mạnh lương đủ; muôn dân dâng trọn lòng yêu nước, các nước chung quanh cũng cảm phục mà quy hướng về nền giáo hóa ấy. Mọi người vui vẻ hân hoan, cùng hưởng thái bình. Đó là thời của Càn.
Xưa kia, Thiên hoàng Nintoku đích thân xem xét nỗi khổ của dân chúng, rồi ban chiếu cho trăm quan rằng: “Thiên tử giống như mặt trời chiếu soi đất đai bên dưới, làm cho muôn vật sinh trưởng, nên thay trời mà thi hành giáo hóa. Thiên tử là con của trời, kính cẩn tiếp nhận chí của trời để thực hiện đối với dân chúng bên dưới. Vì vậy, trẫm xem trăm họ như con, trăm họ xem trẫm như cha. Nay trẫm được tôn làm thiên tử, phúc lộc vô cùng; nhưng nếu trong dân chúng còn có người chưa được ở đúng chỗ của mình, như những người góa vợ, góa chồng, mồ côi, không con, nghèo khổ không nơi kêu cứu; người con hiếu thảo không có thuốc chữa bệnh cho cha mẹ; người gặp tai họa nước lửa mà không thể nuôi dưỡng vợ con; hoặc người mắc bệnh mà không có thuốc men, thì trẫm há có thể nhẫn tâm ngồi yên mà lạnh lùng nhìn sao? Các khanh trăm quan đều là những người lớn tuổi và có đức nhất trong các con của trẫm. Các khanh vốn phải thương xót đàn em, cùng một lòng với trẫm. Từ nay trong ba năm, miễn thuế cả thiên hạ, cứu nỗi khổ của muôn dân. Các khanh hãy cùng thể hiện ý này. Như lời nói rằng, chỉ cần một người không được ở đúng chỗ, đó là lỗi của trẫm. Trẫm thực không chịu nổi nỗi lo đói khát; mong các khanh trong ba năm cùng trẫm chia sẻ gian khổ này, thực hành chính sách cứu đói.” Trăm quan kính cẩn vâng mệnh, ai nấy đều cảm kích trước ân đức sâu dày của quân vương. Vì thế phong khí xã hội đổi thay hẳn: từ người quyền quý ở trên đến dân hèn mọn ở dưới, phong trào cứu giúp người nghèo, thương xót kẻ khốn cùng đều thịnh hành. Người có tiền của dư dật thì cứu tế dân nghèo; người cho thuê ruộng thì không thu tô; người cho thuê nhà thì không thu tiền nhà; mọi người chỉ lấy lòng bác ái làm vinh dự. Bởi vậy, muôn dân không ai không được hưởng ân trạch của nhà vua, chẳng khác nào đại hạn gặp mưa lành. Sau ba năm, Thiên hoàng lên lầu, từ xa trông thấy khói bếp bay lên, vui mừng ngâm bài ngự chế “Nhà cao”. Cho đến ngày nay, mỗi khi truy tụng chiếu văn và ngâm hát ca dao, không ai không xúc động tưởng nhớ thánh đức.
Quả thật, trong thời đại lấy Càn mà ngự trị thiên hạ, phong tục đồng nhất, đạo lý quy về một mối, vua sáng tôi hiền cùng chúc mừng lẫn nhau, không còn gì ngăn cách. Nhưng vận khí thay đổi theo vòng xoay; thịnh cực tất suy. Có khi long ẩn mà không được dùng, có khi long bay quá cao mà sinh hối tiếc. Sự lên xuống của thời vận, lý tiêu trưởng của âm dương, xưa nay đều như nhau. Vì vậy, người quân tử ở đời, nếu phân biệt được thời của sáu hào và nghiền ngẫm lời hào, thì có thể biết thiên mệnh thuận hay nghịch với mình. Phàm ai gieo được quẻ này, nên noi theo vòng tuần hoàn của mặt trời, không tạm ngừng dù chỉ chốc lát; mọi việc động tĩnh đều phải lấy Càn làm phép. Người ấy có lượng rộng, kiến thức vượt trội, mang tượng rồng bay lên được sức, đúng là lúc nên tiến tới mà hành động. Tuy nhiên, sự thông suốt hay bế tắc, tiến hay lui của vận khí đều có điều thích đáng riêng. Hào đầu tuy thấy tài đức như rồng, nhưng thời cơ chưa gặp, chưa thể tiến lên gánh vác công việc. Hào hai là lúc có thể tiến đã đến, lại ứng với cửu ngũ; hào hai và hào năm đều dùng đức dương mà ứng nhau, nhưng vẫn chưa phải sự thân mật tương giao của âm dương. Hào ba càng gần ngôi trên mà vẫn ở dưới, phải chật vật siêng năng, khá nhọc lòng suy nghĩ. Đến hào bốn, vận thịnh của hào năm sắp tới; phải xét tình thế trên dưới, cân nhắc cơ hội tiến lui, chờ thời mà hành động, nhưng vẫn chưa quyết. Hào năm được vận khí lớn lao, mọi công lao đều được khảo xét và hoàn thành, đúng lúc cưỡi thời mà được ngôi. Hào trên, vận khí của Càn đã qua, nên mau lui để khỏi hối tiếc. Câu “lợi kiến đại nhân” của cửu nhị bắt nguồn từ chí hướng kiên định không lay chuyển của sơ cửu; cửu tam không lỗi là do cửu nhị thận trọng, không tự khoe; cửu tứ không lỗi là do cửu tam luôn siêng năng cảnh giác; cửu ngũ “lợi kiến đại nhân” là do cửu tứ biết nghi ngờ và xét đoán cẩn thận. Vì vậy, tích lũy công lao và bồi đắp hạnh kiểm là việc của con người, còn thành tựu đức hạnh và phát huy tài năng lại tùy thuộc trời. Đến cửu ngũ, tinh thần của long ẩn đã cạn, mọi lo lắng nghi ngờ đều tiêu tan; không suy nghĩ, không tạo tác, chỉ còn niềm vui “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khi ấy, không cần đợi đến thượng cửu mới biết nỗi hối tiếc của con rồng bay quá cao. Đó chính là lẽ không thể trái, số không thể trốn, và cơ hội không thể không dự liệu trước.
Tượng truyện nói: “Sự vận hành của trời mạnh mẽ không ngừng; người quân tử theo đó mà tự cường, không nghỉ.”
“Sự vận hành của trời mạnh mẽ” là một câu dùng để quyết định đức của toàn quẻ Càn. “Hành” nghĩa là vận hành, lưu chuyển, hành động, đi tới và đạo. Ý nói đạo trời vận hành như mặt trời ngày ngày chuyển động, tuần hoàn không ngừng, không dừng lại một khắc nào. Người quân tử thể theo sự cương kiện của trời, để thiên lý lưu hành trọn vẹn, không xen vào một chút dục vọng riêng nào, tự cường không nghỉ, đủ sức đảm đương mọi sự nghiệp trong thiên hạ. Tuy nhiên, tự cường không có nghĩa là hung hăng tiến tới mà không biết dừng, hay tùy tiện sử dụng sức mạnh cứng rắn. Nghiền ngẫm các lời “long ẩn”, “long bay quá cao” và câu “không có đầu” trong dụng cửu, thì có thể hiểu được ý nghĩa ấy.
【Dự đoán】
○ Người được quẻ này phải cương kiện khi đối diện công việc, tự cường không nghỉ, giống như sự vận hành của trời. Đồng thời phải bao hàm bốn đức “nguyên, hanh, lợi, trinh”. Càn có ý ban đức mà không tính lợi.
○ Phụ nữ: Gieo được quẻ này, âm ở ngôi dương, e rằng cứng mạnh quá mức trung. Nên thận trọng.
○ Thời tiết: Trong các hào hai, ba, bốn, năm, nếu có hào biến thì nhất định trời sẽ quang.
○ Mua bán: Bất lợi cho mua nhưng có lợi cho bán.
○ Họa phúc: Tích thiện thì để lại phúc, tích bất thiện thì để lại họa; e rằng quả báo không ở đời này mà ở hậu duệ.
○ Người thường: Có nguy cơ tự nâng mình lên cao mà không biết những việc thiết thực nhỏ nhặt.
○ Người hiền: Biết thiên mệnh mà một mình đi theo đạo này, nhưng e rằng các thế lực âm thầm ẩn náu, kẻ tiểu nhân cấu kết gièm pha.
Sơ cửu: Rồng ẩn, chớ dùng.
Sơ cửu: Rồng ẩn, chớ dùng.
Tượng truyện nói: “Rồng ẩn chớ dùng, vì dương ở bên dưới.”
Sơ cửu lấy dương ở ngôi dương. Rồng là loài vật thần linh, công năng không thể dò lường; có thể lớn, có thể nhỏ, có thể bay, có thể ẩn, biết tùy thời mà biến hóa. Hào lấy rồng làm tượng để ví người có đức sáng suốt và tài ứng biến. Bốn chữ “long ẩn chớ dùng” là lời hào do Chu Công đặt ra; các đoạn dưới cũng theo lệ ấy. “Ẩn” nghĩa là giấu mình. Hào này ở vị trí thấp nhất trong thời thuần Càn, chưa thể vội dùng, giống như rồng chưa gặp thời vận, ẩn trong vực sâu, nên gọi là “long ẩn chớ dùng”. Người gieo được hào này chưa gặp thời; dù có tài đức cũng chưa thể tiến ra làm việc. Nhưng rồng ẩn không phải ẩn mãi; “chớ dùng” không có nghĩa là rốt cuộc không được dùng. Rồng có năng lực thần diệu; khi chưa gặp thời thì ngủ đông không bay, ẩn mình không hiện, lặng lẽ nuôi dưỡng tinh thần. Người quân tử cũng chờ thời mà hành động, làm cho tài năng được phát huy đúng mức. Trong lúc “chớ dùng”, hãy giấu tài, chứa đức; không cố tiến để chuốc họa, cũng không do dự đến mức bỏ lỡ cơ hội. Hãy vui theo trời, biết mệnh, giống như thần long ẩn mình chờ lúc vươn ra. Khí của trời đất có lúc lên lúc xuống; đạo của người quân tử có lúc hành động, có lúc ẩn tàng. Khổng Tử nói: “Bị bỏ thì ẩn mình”, chính là nắm được ý chỉ của quẻ này. Nếu gieo quẻ này cho việc nhỏ, nên dùng phụ nữ để hoàn thành, vì khi hào này biến sẽ thành quẻ Cấu[4], mà quẻ Cấu nói “người nữ mạnh mẽ”.
【Dự đoán】
○ Hỏi chiến trận: Càn tượng trưng cho võ nhân, có tượng chiến tranh. Ở hào đầu, khí dương mới bắt đầu vận động dưới Hoàng tuyền, vẫn còn ẩn phục, nên nói “long ẩn”. Về quân sự, uy lệnh vừa mới phát ra, đại quân chưa tập hợp, nên án binh chờ đợi. Tốt.
○ Hỏi kinh doanh: Rồng ẩn thì nói “chớ dùng”; dù là mối buôn bán tốt, chỉ nên giữ nguyên vị thế, chưa thể hành động đột ngột.
○ Hỏi công danh: Rồng vốn là vật bay lên và phát đạt, nhưng hào đầu nói là ẩn, tức chưa gặp hội gió mây. Vì vậy nói rằng vị ở bên dưới.
○ Hỏi hôn nhân: Sơ hào của Càn biến thành quẻ Cấu. Quẻ Cấu nói “người nữ mạnh, chớ cưới người nữ”, nên cần lấy đó làm lời răn.
○ Hỏi gia trạch: Chấn tượng trưng cho rồng, Chấn ở phương đông, tức phía đông nhà. Ắt có vực nước bị bít tắc, không thông thoát, nên sửa chữa và đào thông.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ hai mươi hai, một vị hiển đạt gieo hỏi vận khí, được quẻ Càn biến sang quẻ Cấu[5].
Lời đoán nói: Càn là quẻ thuần dương, đủ bốn đức “nguyên, hanh, lợi, trinh”, cương kiện, đôn hậu và chân thực; sáu ngôi đều không trái thời, sự lên xuống không cố định, tùy thời mà ứng dụng. Ở thì ẩn là long ẩn, xuất hiện thì cưỡi rồng bay; tĩnh thì chuyên nhất, động thì ngay thẳng. Sơ cửu nói “long ẩn chớ dùng”, vì dương ở ngôi dương, vị của nó ẩn và ở dưới. Tuy có đức của rồng nhưng chưa gặp thời cơ bay vút, nên phải theo phép ẩn mà không dùng. Văn ngôn truyện ca ngợi rằng: “Đó là người có đức của rồng mà ẩn mình; không đổi theo đời, không cầu thành danh, lánh đời mà không buồn bực, vui thì làm, lo thì tránh; kiên định, không thể lay chuyển. Đó là long ẩn.” Lại nói: “Ẩn nghĩa là giấu mình chưa hiện, hành động mà chưa thành tựu; vì vậy người quân tử chưa được dùng.” Nay ông gieo được quẻ và hào này, đúng vào buổi đầu của công cuộc Duy tân. Nhờ công lao quân sự, ông đã được thăng chức trung tướng lục quân, lại tinh thông cả kinh điển Nho giáo và Phật giáo. Có thể nói học vấn của ông quán thông trời người, đạo gồm cả văn lẫn võ, kiến thức cao sáng, học vấn sâu xa, thật là người đương thời không ai sánh kịp. Nay nên lui về chưa dùng, đúng lúc noi theo đức rồng mà ẩn mình. Tài năng văn võ kiêm toàn của ông có thể ví với Gia Cát Lượng, Ngọa Long, có mưu lược xoay chuyển Càn Khôn. Nhưng e rằng chỉ dùng sự cương cường của dương sẽ khiến ông lấn át người khác, lời bàn quá thẳng, làm cho nghi ngờ và gièm pha cùng kéo đến, rồi không được triều đình dung nạp. Tuy nhiên, “chớ dùng” trong quẻ này không có nghĩa là vĩnh viễn không được dùng. Theo tượng của rồng, lỡ thời thì ẩn, gặp thời thì bay. Ông nên giấu ánh sáng, che màu sắc, “lánh đời mà không buồn bực”, chờ thời cơ đến. Hào này biến thành quẻ Tốn. Tốn nghĩa là gió, thuận theo và đi vào; theo tục ngữ là “đi vào lòng người”. Nếu ông có thể lấy cương trực phối hợp với mềm thuận, khiến người ta cảm thấy như đang ngồi trong làn gió xuân nhờ có ông, thì trên dưới đều vui lòng quy phục, danh vọng và tiếng tăm ngày càng tăng, tự nhiên có tượng rồng bay lên. Tuy vận khí năm nay chưa hanh thông, nhưng sang năm hào sẽ tiến đến cửu nhị, đúng vào thời “rồng hiện nơi đồng ruộng, lợi kiến đại nhân”; hãy mở mắt chờ sự thăng đạt, biến hóa và việc ban bố ân đức rộng khắp.
Tượng truyện nói: “Rồng ẩn chớ dùng, vì dương ở bên dưới.”
Sơ cửu lấy dương ở ngôi dương. Rồng là loài vật thần linh, công năng không thể dò lường; có thể lớn, có thể nhỏ, có thể bay, có thể ẩn, biết tùy thời mà biến hóa. Hào lấy rồng làm tượng để ví người có đức sáng suốt và tài ứng biến. Bốn chữ “long ẩn chớ dùng” là lời hào do Chu Công đặt ra; các đoạn dưới cũng theo lệ ấy. “Ẩn” nghĩa là giấu mình. Hào này ở vị trí thấp nhất trong thời thuần Càn, chưa thể vội dùng, giống như rồng chưa gặp thời vận, ẩn trong vực sâu, nên gọi là “long ẩn chớ dùng”. Người gieo được hào này chưa gặp thời; dù có tài đức cũng chưa thể tiến ra làm việc. Nhưng rồng ẩn không phải ẩn mãi; “chớ dùng” không có nghĩa là rốt cuộc không được dùng. Rồng có năng lực thần diệu; khi chưa gặp thời thì ngủ đông không bay, ẩn mình không hiện, lặng lẽ nuôi dưỡng tinh thần. Người quân tử cũng chờ thời mà hành động, làm cho tài năng được phát huy đúng mức. Trong lúc “chớ dùng”, hãy giấu tài, chứa đức; không cố tiến để chuốc họa, cũng không do dự đến mức bỏ lỡ cơ hội. Hãy vui theo trời, biết mệnh, giống như thần long ẩn mình chờ lúc vươn ra. Khí của trời đất có lúc lên lúc xuống; đạo của người quân tử có lúc hành động, có lúc ẩn tàng. Khổng Tử nói: “Bị bỏ thì ẩn mình”, chính là nắm được ý chỉ của quẻ này. Nếu gieo quẻ này cho việc nhỏ, nên dùng phụ nữ để hoàn thành, vì khi hào này biến sẽ thành quẻ Cấu[4], mà quẻ Cấu nói “người nữ mạnh mẽ”.
【Dự đoán】
○ Hỏi chiến trận: Càn tượng trưng cho võ nhân, có tượng chiến tranh. Ở hào đầu, khí dương mới bắt đầu vận động dưới Hoàng tuyền, vẫn còn ẩn phục, nên nói “long ẩn”. Về quân sự, uy lệnh vừa mới phát ra, đại quân chưa tập hợp, nên án binh chờ đợi. Tốt.
○ Hỏi kinh doanh: Rồng ẩn thì nói “chớ dùng”; dù là mối buôn bán tốt, chỉ nên giữ nguyên vị thế, chưa thể hành động đột ngột.
○ Hỏi công danh: Rồng vốn là vật bay lên và phát đạt, nhưng hào đầu nói là ẩn, tức chưa gặp hội gió mây. Vì vậy nói rằng vị ở bên dưới.
○ Hỏi hôn nhân: Sơ hào của Càn biến thành quẻ Cấu. Quẻ Cấu nói “người nữ mạnh, chớ cưới người nữ”, nên cần lấy đó làm lời răn.
○ Hỏi gia trạch: Chấn tượng trưng cho rồng, Chấn ở phương đông, tức phía đông nhà. Ắt có vực nước bị bít tắc, không thông thoát, nên sửa chữa và đào thông.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ hai mươi hai, một vị hiển đạt gieo hỏi vận khí, được quẻ Càn biến sang quẻ Cấu[5].
Lời đoán nói: Càn là quẻ thuần dương, đủ bốn đức “nguyên, hanh, lợi, trinh”, cương kiện, đôn hậu và chân thực; sáu ngôi đều không trái thời, sự lên xuống không cố định, tùy thời mà ứng dụng. Ở thì ẩn là long ẩn, xuất hiện thì cưỡi rồng bay; tĩnh thì chuyên nhất, động thì ngay thẳng. Sơ cửu nói “long ẩn chớ dùng”, vì dương ở ngôi dương, vị của nó ẩn và ở dưới. Tuy có đức của rồng nhưng chưa gặp thời cơ bay vút, nên phải theo phép ẩn mà không dùng. Văn ngôn truyện ca ngợi rằng: “Đó là người có đức của rồng mà ẩn mình; không đổi theo đời, không cầu thành danh, lánh đời mà không buồn bực, vui thì làm, lo thì tránh; kiên định, không thể lay chuyển. Đó là long ẩn.” Lại nói: “Ẩn nghĩa là giấu mình chưa hiện, hành động mà chưa thành tựu; vì vậy người quân tử chưa được dùng.” Nay ông gieo được quẻ và hào này, đúng vào buổi đầu của công cuộc Duy tân. Nhờ công lao quân sự, ông đã được thăng chức trung tướng lục quân, lại tinh thông cả kinh điển Nho giáo và Phật giáo. Có thể nói học vấn của ông quán thông trời người, đạo gồm cả văn lẫn võ, kiến thức cao sáng, học vấn sâu xa, thật là người đương thời không ai sánh kịp. Nay nên lui về chưa dùng, đúng lúc noi theo đức rồng mà ẩn mình. Tài năng văn võ kiêm toàn của ông có thể ví với Gia Cát Lượng, Ngọa Long, có mưu lược xoay chuyển Càn Khôn. Nhưng e rằng chỉ dùng sự cương cường của dương sẽ khiến ông lấn át người khác, lời bàn quá thẳng, làm cho nghi ngờ và gièm pha cùng kéo đến, rồi không được triều đình dung nạp. Tuy nhiên, “chớ dùng” trong quẻ này không có nghĩa là vĩnh viễn không được dùng. Theo tượng của rồng, lỡ thời thì ẩn, gặp thời thì bay. Ông nên giấu ánh sáng, che màu sắc, “lánh đời mà không buồn bực”, chờ thời cơ đến. Hào này biến thành quẻ Tốn. Tốn nghĩa là gió, thuận theo và đi vào; theo tục ngữ là “đi vào lòng người”. Nếu ông có thể lấy cương trực phối hợp với mềm thuận, khiến người ta cảm thấy như đang ngồi trong làn gió xuân nhờ có ông, thì trên dưới đều vui lòng quy phục, danh vọng và tiếng tăm ngày càng tăng, tự nhiên có tượng rồng bay lên. Tuy vận khí năm nay chưa hanh thông, nhưng sang năm hào sẽ tiến đến cửu nhị, đúng vào thời “rồng hiện nơi đồng ruộng, lợi kiến đại nhân”; hãy mở mắt chờ sự thăng đạt, biến hóa và việc ban bố ân đức rộng khắp.
Cửu nhị: Rồng hiện nơi đồng ruộng, lợi kiến đại nhân.
Cửu nhị: Rồng hiện[6] nơi đồng ruộng, lợi kiến đại nhân.
Tượng truyện nói: “Rồng hiện nơi đồng ruộng, đức được ban bố khắp nơi.”
Hào này là dương ở ngôi thứ hai, nên gọi là cửu nhị. Khí dương hiển lộ, có nghĩa rồng ra khỏi vực sâu và xuất hiện trên mặt đất. Đối với bậc thánh nhân, ẩn không phải là ẩn mãi, mà là cơ hội tạm khuất rồi sẽ vươn lên. “Ở đồng ruộng” nghĩa là có đức nhưng vẫn chưa ở đúng ngôi vị. “Đại nhân” được gọi như vậy vì có đức của người quân chủ. Khi hào này biến, nó thành quẻ Ly. Ly là tượng văn minh, quẻ biến là quẻ Đồng nhân, nghĩa là người văn minh hòa đồng với người khác; vì vậy nói “lợi kiến đại nhân”. Cương kiện là đức tính bẩm sinh; văn minh là thành tựu của học vấn; trung là ở đúng chỗ; chính là được đúng ngôi vị. Tuy có đức nhưng vẫn không tự cho là đủ, muốn gặp đại nhân ở cửu ngũ, mong nhờ đó tiến thêm về kiến thức, cùng nhau góp sức hoàn thành sự nghiệp thiên hạ. Đây là lúc đức rồng lần đầu xuất hiện trong đời, lập thân và hiển danh. Ngôi năm là vị trí của vua, ngôi hai là vị trí của bề tôi. Trong quẻ này, hai và năm đều là dương cương, tương ứng với nhau, hẳn có nguyên do. Thể của Càn là thuần dương viên mãn; thời của nó là dương cương ngày càng tiến; còn hai hào ở ngôi hai và ngôi năm đều đủ đức cương trung. Người đồng đức giúp đỡ nhau, đó là trường hợp hai hào cương ứng nhau. Người ở ngôi cửu ngũ dùng minh đức cai trị các bậc hiền tài; bề tôi ở cửu nhị tiếp nhận ý vua, đem sức bay vút hiến cho quốc gia. Cả hai cùng noi đức trời để trị nước, vì chí hướng tương đồng nên hai hào dương ứng nhau như vậy. Đại nhân ở trên và dưới hợp chí cứu đời, thì sự giáo hóa bằng đức của họ lan đến đâu cũng không có giới hạn. Hào này còn hàm chứa ý nghĩa tinh diệu của Tam tài: “rồng hiện” là được thời của trời; “ở đồng ruộng” là được lợi của đất; “lợi kiến đại nhân” là được sự hòa hợp của con người.
【Dự đoán】
○ Hỏi chiến trận: Rồng vốn là vật linh thiêng. Hào đầu nói “ẩn”, nghĩa là phục binh; hào hai nói “hiện”, nghĩa là lộ ra và xuất hiện. “Ở đồng ruộng” thì ắt phải bày trận nơi đồng nội rộng thoáng. Truyện nói “đức được ban bố khắp nơi”, vậy hẳn là chiến thắng rồi ban thưởng.
○ Hỏi kinh doanh: Hào nói “rồng hiện nơi đồng ruộng”, biết rằng hàng hóa phần lớn là gạo, lúa mì, tơ lụa, bông vải và các loại tương tự. “Hiện” nghĩa là giá cả bắt đầu chuyển động và tăng lên; “lợi kiến đại nhân” nghĩa là sẽ có người trong quan trường ra mua.
○ Hỏi công danh: Người ẩn cư nơi đồng ruộng sẽ thừa thời mà tiến ra được dùng, lại được quý nhân giúp đỡ, nên nói “lợi kiến đại nhân”.
○ Hỏi hôn nhân: Hào hai và hào năm tương ứng, hào năm ở ngôi tôn quý, nhà trai ắt cao quý. Nói “rồng hiện”, ắt là chàng trai trẻ mới tiến thân. Đại cát.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai, lại chủ về quý hiển.
【Ví dụ】Vào đầu thời Minh Trị, tôi tự gieo hỏi phương hướng của bản thân và được quẻ Càn biến sang Đồng nhân.
Lời đoán rằng: Quẻ Càn là quẻ thuần dương, cả sáu hào đều lấy rồng làm hình tượng; đó là thời đại hiền tài cùng có mặt nơi triều đình. Từ khi họ Tokugawa cai trị đất nước ta đến nay đã gần ba trăm năm. Khi những tệ nạn tích tụ đạt đến cực điểm, vận thế đổi thay, khiến chúng ta được chứng kiến sự nghiệp duy tân lớn lao ngày nay. Tuy do sự thịnh suy của khí vận, nhưng trên thực tế, đó là nhờ các bậc đại nhân mang đức của rồng, mỗi người đều phát huy tài năng và sức lực để phò tá triều đình, làm nên sự nghiệp trung hưng vĩ đại này. Vì vậy, chính trị ngày nay là thời đại Càn là Trời. Trước kia tôi từng mắc tội và chịu cảnh lao ngục bảy năm, sau được phóng thích. Từ đó tôi gắng gượng làm lụng giữa bao khó khăn, trong bốn năm kiếm được hơn mười vạn lạng vàng. Tôi không dám tự cho đó hoàn toàn là nhờ năng lực của mình; được gặp đúng thời vận và có thể gây dựng tài sản cũng là điều may mắn. Tuy nhiên, tụ tán, ly hợp là lẽ không thể tránh khỏi. Nếu chỉ biết tích tụ mà không biết phân tán thì sẽ thành kẻ giữ của; dù để lại cho con cháu, thường cũng chỉ giúp chúng thêm kiêu căng xa xỉ, làm sao giữ được lâu? Tôi cho rằng những bậc quân tử đang tại vị ngày nay, trước kia từng tôn kính vương thất và phế bỏ chế độ phiên, đều là những người đã từ muôn lần chết mà tìm được một đường sống. Suốt ba mươi năm qua, họ bận rộn việc nước, không dám có lúc nào nhàn rỗi, cần mẫn góp sức cho quốc sự. Tôi tuy bất tài, há lại dám tiếp tục đắm mình trong an nhàn, chỉ mong được giàu có hay sao? Nay gieo quẻ được lời của hào Cửu nhị: “Rồng hiện ra nơi đồng ruộng”, nói về việc trước kia tôi thoát khỏi cảnh giam cầm u tối, lại được thấy ánh mặt trời và có thể chấn hưng gia nghiệp. “Có lợi khi gặp đại nhân” nói về việc tôi từng gieo quẻ hỏi đại kế quốc gia, nhờ đó được giao tiếp với các bậc đại nhân đang nắm quyền và được nghe ý kiến của họ. Nhiều lần sứ thần từ nước ngoài trở về triều đã nghỉ lại tại dinh thự của tôi; nhờ vậy tôi biết được tình hình hải ngoại. Tất cả những điều ấy đều đủ để sửa chữa sự cố lậu và hẹp hòi của tôi, mở mang tri thức, đem lại lợi ích thật không nhỏ. Vì thế tôi noi theo ý nghĩa quẻ Đồng Nhân (lời đoán về quẻ Đồng Nhân được chép trong phần phụ lục của quẻ ấy), sáng lập bốn ngành kinh doanh lớn là đường sắt, khí đốt, trường học và tàu bưu chính. Căn nguyên của chúng thực sự bắt đầu từ đây. Về bản chất, quẻ Càn biểu hiện sức mạnh của sự vận hành nơi Trời và tượng tự cường không ngừng. Con người nếu có thể cứng cỏi mạnh mẽ, không một thoáng lười nhác hay lơ là, chỉ cần chuyên cần không ngơi nghỉ thì ngày thành công ắt sẽ tự đến.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ hai mươi bảy, hỏi kết quả cuộc chiến tranh giữa nước ta và nhà Thanh sẽ ra sao, gieo được quẻ Càn biến Đồng Nhân.
Lời đoán nói: Càn là tượng hai quẻ Càn tiếp nối nhau; xét về việc người, đó là tượng những bậc đại nhân cương kiện, thuần túy gặp nhau. Nay hai nước giao chiến, nước kia lo sợ nội loạn phát sinh, ắt sẽ phái Thủ tướng Lý Hồng Chương sang phía đông để kết minh với Thủ tướng Ito của ta. Đó là ý câu “Rồng hiện ở ruộng, lợi gặp đại nhân”. Càn thuần dương, là quẻ của tháng tư. Việc hòa nghị sẽ thành vào tháng tư năm sau chăng? Bèn đem lời đoán này trình lên Thủ tướng Ito.
Tháng tư năm thứ hai mươi tám, Lý Hồng Chương quả nhiên đến Shimonoseki thuộc Nagato của ta, hội kiến Thủ tướng Ito, và hòa nghị rốt cuộc thành công. Trước đó, vào năm Minh Trị thứ mười bảy, Bá tước Ito vâng mệnh vua được phái sang nhà Thanh; ông gieo được hào Ngũ quẻ Càn. Sau khi sang Thanh, ông hội kiến họ Lý rồi bình an trở về. Nay được hào Nhị, tôi biết họ Lý nhất định sẽ đến. Thiên mệnh không thể trái là như thế; há có thể không kính sợ sao?
Tượng truyện nói: “Rồng hiện nơi đồng ruộng, đức được ban bố khắp nơi.”
Hào này là dương ở ngôi thứ hai, nên gọi là cửu nhị. Khí dương hiển lộ, có nghĩa rồng ra khỏi vực sâu và xuất hiện trên mặt đất. Đối với bậc thánh nhân, ẩn không phải là ẩn mãi, mà là cơ hội tạm khuất rồi sẽ vươn lên. “Ở đồng ruộng” nghĩa là có đức nhưng vẫn chưa ở đúng ngôi vị. “Đại nhân” được gọi như vậy vì có đức của người quân chủ. Khi hào này biến, nó thành quẻ Ly. Ly là tượng văn minh, quẻ biến là quẻ Đồng nhân, nghĩa là người văn minh hòa đồng với người khác; vì vậy nói “lợi kiến đại nhân”. Cương kiện là đức tính bẩm sinh; văn minh là thành tựu của học vấn; trung là ở đúng chỗ; chính là được đúng ngôi vị. Tuy có đức nhưng vẫn không tự cho là đủ, muốn gặp đại nhân ở cửu ngũ, mong nhờ đó tiến thêm về kiến thức, cùng nhau góp sức hoàn thành sự nghiệp thiên hạ. Đây là lúc đức rồng lần đầu xuất hiện trong đời, lập thân và hiển danh. Ngôi năm là vị trí của vua, ngôi hai là vị trí của bề tôi. Trong quẻ này, hai và năm đều là dương cương, tương ứng với nhau, hẳn có nguyên do. Thể của Càn là thuần dương viên mãn; thời của nó là dương cương ngày càng tiến; còn hai hào ở ngôi hai và ngôi năm đều đủ đức cương trung. Người đồng đức giúp đỡ nhau, đó là trường hợp hai hào cương ứng nhau. Người ở ngôi cửu ngũ dùng minh đức cai trị các bậc hiền tài; bề tôi ở cửu nhị tiếp nhận ý vua, đem sức bay vút hiến cho quốc gia. Cả hai cùng noi đức trời để trị nước, vì chí hướng tương đồng nên hai hào dương ứng nhau như vậy. Đại nhân ở trên và dưới hợp chí cứu đời, thì sự giáo hóa bằng đức của họ lan đến đâu cũng không có giới hạn. Hào này còn hàm chứa ý nghĩa tinh diệu của Tam tài: “rồng hiện” là được thời của trời; “ở đồng ruộng” là được lợi của đất; “lợi kiến đại nhân” là được sự hòa hợp của con người.
【Dự đoán】
○ Hỏi chiến trận: Rồng vốn là vật linh thiêng. Hào đầu nói “ẩn”, nghĩa là phục binh; hào hai nói “hiện”, nghĩa là lộ ra và xuất hiện. “Ở đồng ruộng” thì ắt phải bày trận nơi đồng nội rộng thoáng. Truyện nói “đức được ban bố khắp nơi”, vậy hẳn là chiến thắng rồi ban thưởng.
○ Hỏi kinh doanh: Hào nói “rồng hiện nơi đồng ruộng”, biết rằng hàng hóa phần lớn là gạo, lúa mì, tơ lụa, bông vải và các loại tương tự. “Hiện” nghĩa là giá cả bắt đầu chuyển động và tăng lên; “lợi kiến đại nhân” nghĩa là sẽ có người trong quan trường ra mua.
○ Hỏi công danh: Người ẩn cư nơi đồng ruộng sẽ thừa thời mà tiến ra được dùng, lại được quý nhân giúp đỡ, nên nói “lợi kiến đại nhân”.
○ Hỏi hôn nhân: Hào hai và hào năm tương ứng, hào năm ở ngôi tôn quý, nhà trai ắt cao quý. Nói “rồng hiện”, ắt là chàng trai trẻ mới tiến thân. Đại cát.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai, lại chủ về quý hiển.
【Ví dụ】Vào đầu thời Minh Trị, tôi tự gieo hỏi phương hướng của bản thân và được quẻ Càn biến sang Đồng nhân.
Lời đoán rằng: Quẻ Càn là quẻ thuần dương, cả sáu hào đều lấy rồng làm hình tượng; đó là thời đại hiền tài cùng có mặt nơi triều đình. Từ khi họ Tokugawa cai trị đất nước ta đến nay đã gần ba trăm năm. Khi những tệ nạn tích tụ đạt đến cực điểm, vận thế đổi thay, khiến chúng ta được chứng kiến sự nghiệp duy tân lớn lao ngày nay. Tuy do sự thịnh suy của khí vận, nhưng trên thực tế, đó là nhờ các bậc đại nhân mang đức của rồng, mỗi người đều phát huy tài năng và sức lực để phò tá triều đình, làm nên sự nghiệp trung hưng vĩ đại này. Vì vậy, chính trị ngày nay là thời đại Càn là Trời. Trước kia tôi từng mắc tội và chịu cảnh lao ngục bảy năm, sau được phóng thích. Từ đó tôi gắng gượng làm lụng giữa bao khó khăn, trong bốn năm kiếm được hơn mười vạn lạng vàng. Tôi không dám tự cho đó hoàn toàn là nhờ năng lực của mình; được gặp đúng thời vận và có thể gây dựng tài sản cũng là điều may mắn. Tuy nhiên, tụ tán, ly hợp là lẽ không thể tránh khỏi. Nếu chỉ biết tích tụ mà không biết phân tán thì sẽ thành kẻ giữ của; dù để lại cho con cháu, thường cũng chỉ giúp chúng thêm kiêu căng xa xỉ, làm sao giữ được lâu? Tôi cho rằng những bậc quân tử đang tại vị ngày nay, trước kia từng tôn kính vương thất và phế bỏ chế độ phiên, đều là những người đã từ muôn lần chết mà tìm được một đường sống. Suốt ba mươi năm qua, họ bận rộn việc nước, không dám có lúc nào nhàn rỗi, cần mẫn góp sức cho quốc sự. Tôi tuy bất tài, há lại dám tiếp tục đắm mình trong an nhàn, chỉ mong được giàu có hay sao? Nay gieo quẻ được lời của hào Cửu nhị: “Rồng hiện ra nơi đồng ruộng”, nói về việc trước kia tôi thoát khỏi cảnh giam cầm u tối, lại được thấy ánh mặt trời và có thể chấn hưng gia nghiệp. “Có lợi khi gặp đại nhân” nói về việc tôi từng gieo quẻ hỏi đại kế quốc gia, nhờ đó được giao tiếp với các bậc đại nhân đang nắm quyền và được nghe ý kiến của họ. Nhiều lần sứ thần từ nước ngoài trở về triều đã nghỉ lại tại dinh thự của tôi; nhờ vậy tôi biết được tình hình hải ngoại. Tất cả những điều ấy đều đủ để sửa chữa sự cố lậu và hẹp hòi của tôi, mở mang tri thức, đem lại lợi ích thật không nhỏ. Vì thế tôi noi theo ý nghĩa quẻ Đồng Nhân (lời đoán về quẻ Đồng Nhân được chép trong phần phụ lục của quẻ ấy), sáng lập bốn ngành kinh doanh lớn là đường sắt, khí đốt, trường học và tàu bưu chính. Căn nguyên của chúng thực sự bắt đầu từ đây. Về bản chất, quẻ Càn biểu hiện sức mạnh của sự vận hành nơi Trời và tượng tự cường không ngừng. Con người nếu có thể cứng cỏi mạnh mẽ, không một thoáng lười nhác hay lơ là, chỉ cần chuyên cần không ngơi nghỉ thì ngày thành công ắt sẽ tự đến.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ hai mươi bảy, hỏi kết quả cuộc chiến tranh giữa nước ta và nhà Thanh sẽ ra sao, gieo được quẻ Càn biến Đồng Nhân.
Lời đoán nói: Càn là tượng hai quẻ Càn tiếp nối nhau; xét về việc người, đó là tượng những bậc đại nhân cương kiện, thuần túy gặp nhau. Nay hai nước giao chiến, nước kia lo sợ nội loạn phát sinh, ắt sẽ phái Thủ tướng Lý Hồng Chương sang phía đông để kết minh với Thủ tướng Ito của ta. Đó là ý câu “Rồng hiện ở ruộng, lợi gặp đại nhân”. Càn thuần dương, là quẻ của tháng tư. Việc hòa nghị sẽ thành vào tháng tư năm sau chăng? Bèn đem lời đoán này trình lên Thủ tướng Ito.
Tháng tư năm thứ hai mươi tám, Lý Hồng Chương quả nhiên đến Shimonoseki thuộc Nagato của ta, hội kiến Thủ tướng Ito, và hòa nghị rốt cuộc thành công. Trước đó, vào năm Minh Trị thứ mười bảy, Bá tước Ito vâng mệnh vua được phái sang nhà Thanh; ông gieo được hào Ngũ quẻ Càn. Sau khi sang Thanh, ông hội kiến họ Lý rồi bình an trở về. Nay được hào Nhị, tôi biết họ Lý nhất định sẽ đến. Thiên mệnh không thể trái là như thế; há có thể không kính sợ sao?
Cửu Tam: Người quân tử suốt ngày cương kiện, siêng năng; đến tối vẫn cảnh giác như đối diện nguy hiểm, thì không lỗi.
Hào Cửu tam: Người quân tử siêng năng mạnh mẽ suốt ngày, đến tối vẫn cảnh giác như đang ở trong tình thế nguy hiểm, không có lỗi.[7][8]
Tượng truyện nói: “Suốt ngày cương kiện, siêng năng” nghĩa là nhiều lần noi theo Đạo.
Cửu Tam lấy dương ở ngôi dương, nên tài năng mạnh mà chí hướng cũng mạnh, có tính cương kiện. Nhưng nó không ở trung vị, lại ở trên cùng nội quái, phụng sự ngoại quái mà cai quản bên dưới; trách nhiệm lớn, gánh nặng nề. Nếu trái ý người trên thì ắt bị khiển trách; nếu không hiểu lòng người dưới thì ắt bị quần chúng oán hận. Chỗ giao giữa trên và dưới là nơi họa phúc gặp nhau, là nơi quyết định thành bại. Địa vị của Cửu Tam đúng vào lúc phải lo sợ nguy hiểm; chỉ “suốt ngày cương kiện, siêng năng”, thận trọng và kính sợ, mới có thể tránh lỗi. Trong sáu hào, hào Ba ứng với tam tài và làm ngôi Người. Hào này lấy đức Càn ở địa vị đứng đầu nhân đạo trong sáu mươi tư quẻ, nên là tượng người quân tử. Vì vậy không gọi là đại nhân mà gọi là “quân tử”. Rồng “ẩn” của hào Sơ, rồng “hiện” của hào Nhị, rồng “nhảy” của hào Tứ và rồng “bay” của hào Ngũ đều chờ ở hào này. Do đó phải tu dưỡng đức mình, siêng lo sự nghiệp, “suốt ngày cương kiện, siêng năng”, như đứng trước nơi nguy hiểm; thận trọng kính sợ, tu ở thân và thi hành trong công việc. Nếu hiểu được chí hướng của người dưới, suy xét biến hóa trong thiên hạ, thì dù ở địa vị nguy hiểm vẫn xử lý thích đáng, có thể biến nguy thành an. Vì vậy nói “nguy hiểm mà không lỗi”. “Lặp đi lặp lại theo Đạo” nghĩa là nhiều lần tự răn, nhiều lần thực hành. Hào này biến thành quẻ Lý; Lục Tam của Lý nói “giẫm lên đuôi hổ”, qua đó thấy được địa vị nguy hiểm. Hào Ba là chỗ cuối ngày nên nói “buổi tối”. Hào này biến thì ngoại quái thành Đoài; Đoài là phương tây, mặt trời ở phương tây chính là tượng buổi tối.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Là việc nguy hiểm. Hào nói “suốt ngày cương kiện, siêng năng; đến tối cảnh giác như đối diện nguy hiểm”, tức là người gặp việc biết lo sợ thận trọng. Vì vậy tuy nguy hiểm nhưng không lỗi.
○ Hỏi về công danh: Cửu Tam ở chỗ cuối hạ quái, địa vị còn thấp, công danh chưa hiển đạt, nên gọi là quân tử. Ở nơi lo nguy nên phải cương kiện, siêng năng và cảnh giác; như vậy có thể tránh lỗi.
○ Hỏi về buôn bán: Ở ngôi không trung, lại bước vào cái hiểm của tính cương, xét việc giao dịch ắt là ở nơi nguy hiểm; cần phòng bị ngày đêm thì mới thoát hiểm và thu lợi.
○ Hỏi về gia trạch: Xét tượng hào, phải thận trọng giữ mình, siêng năng tiết kiệm để bảo toàn gia đình, như vậy sẽ không có tai họa.
○ Hỏi về hôn nhân: Hào Ba lấy hào Sáu làm hào ứng. Ngôi Ba thấp, ngôi Sáu cao; ở ngôi cao thì khó tránh kiêu căng rồi sinh hối hận. Vì vậy không nên kết thân hôn với nhà quyền quý.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai. Lúc sinh e có đôi chút nguy hiểm, nhưng cuối cùng không lỗi.
【Ví dụ】Một tháng nào đó trong năm Minh Trị thứ mười sáu, tôi đến yết kiến khanh Matsukata, Bộ trưởng Tài chính. Khanh nói: “Từ đầu xuân năm nay, tuyết rơi dày, mưa dầm kéo dài, khí hậu rất khác thường. Ta thầm lo ngũ cốc năm nay không được mùa. Xin ông gieo quẻ xem lành dữ.” Gieo được quẻ Càn biến Lý.
Lời đoán nói: Càn là quẻ thuần dương, nên nói Càn vi Thiên, vì Càn là trời. Nó lấy mặt trời làm tượng, hơn nữa cả sáu hào đều là dương, không có một hào âm nào. Lời quẻ nói “suốt ngày cương kiện, siêng năng”; Càn Càn cũng có nghĩa là khô khan liên tục, tức nghĩa hạn hán và thần hạn. Nay Cửu Tam biến, hỗ quái hiện mặt trời của Ly[9]. Toàn quẻ không có tượng nước mưa, nên biết năm nay ắt sẽ hạn. “Đến tối cảnh giác như đối diện nguy hiểm” nghĩa là nóng bức đến đêm vẫn không dứt. Tuy dân chúng rất lo sợ hạn lâu, nhưng ngũ cốc lại chín tốt, nên nói “nguy hiểm mà không lỗi”. Hơn nữa, hào Nhị nói “Rồng hiện ở ruộng”, là tượng lúa ngoài đồng được mùa. Nay hào Ba biến thành Ly, thấy lửa Ly soi sáng khắp mặt ruộng; dù hạn hán cũng không thành tai họa, vì thế không lỗi.
Khanh nói: “Việc lời đoán có ứng nghiệm hay không hãy tạm gác sang một bên; nhưng xét về lối đoán sống động, quả có thể gọi là lời đoán của bậc lão luyện thành thục.”
Cửu Tứ: Hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực sâu; không lỗi.
Cửu Tứ: Hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực sâu; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực sâu” nghĩa là tiến lên thì không lỗi.
Cửu Tứ lấy dương ở ngôi âm, lại gần ngôi vua. Cái tình của dương là muốn tiến, cái chí của âm là muốn lui, nên còn nghi ngờ chưa quyết. Nhưng khí dương đang tiến, rồng vừa nhảy ắt có tượng bay lên trời. “Hoặc” là lời nghi ngờ chưa định; “hoặc nhảy” nghĩa là sắp tiến mà chưa tiến; “ở trong vực” nghĩa là muốn tiến rồi lại lui. Vực là nơi trống không, phía trên thông khí với trời, lại có nước. Rồng được nước thì dễ vọt lên; khác với hào Nhị nói “ở ruộng”. Ở đây tuy nhảy một lần rồi lại ở trong vực, nhưng biết cuối cùng ắt sẽ nhảy lên trời, nên nói “không lỗi”. Tượng truyện thêm chữ “tiến”, càng cho thấy tiến theo thời thì nhất định không lỗi. Người biết xét thời thế nên hay không nên, xem lòng người hướng về hay chống lại, đợi thời mà xuất hiện, thấy có thể thì hành động; tiến không tham địa vị, lui không mua danh, sẽ nắm được cơ hội của sự việc và tránh nỗi nhục làm mất thân. “Không lỗi” cũng là lời khuyên người ta đừng để lỡ thời cơ. Hào Tứ ở chỗ vượt từ nội quái sang ngoại quái, nên có ý tiến. Hào này biến thì ngoại quái thành Tốn. Thuyết Quái truyện nói: “Tốn là lúc lui, là không quyết”, nên có tượng do dự.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Xét tượng hào, tiến quân ắt gặp vực nước ngăn cách, nên chuẩn bị thuyền bè. Hoặc bên vực có quân địch mai phục, cần sớm phòng bị, như vậy sẽ không lỗi.
○ Hỏi về buôn bán: Hào nói “hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực”. Nếu vận chuyển hàng hải sản, e gặp hiểm nguy sóng gió; hoặc giá hàng có thể tăng vọt nhất thời. Hào nói “không lỗi”, nên có thể bảo toàn, không bị hại.
○ Hỏi về công danh: Có tượng một phen mà thành danh, đại cát.
○ Hỏi về gia trạch: Vực là nước, nhảy là bay vọt lên; ắt có tượng gia đạo một thời chấn hưng.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Trường hợp】Tháng Hai năm Minh Trị thứ hai mươi bốn, môn nhân Thanh Thủy Thuần Trực đến báo rằng: “Trong cuộc bầu cử nghị sĩ đại diện khu vực thứ mười lăm của phủ, hai ông Cưu Sơn và Giác Điền đã dựng cờ đối nhau, cuộc cạnh tranh vẫn chưa phân định.” Từ lâu tôi đã biết ông Cưu Sơn, nên xin gieo quẻ hỏi thắng bại của ông. Gieo được quẻ Đồng Nhân biến thành quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Cả sáu hào của quẻ này đều lấy rồng làm tượng; đó là lúc quần long tụ hội. Hào này dương khí thịnh, tiến lên ứng cử thì vốn có thể chắc chắn đắc cử. Nhưng đây là hào dương ở ngôi âm: dương chủ tiến, âm chủ thoái, cho thấy rõ tiến thoái chưa định, đang tiến lại quay lui. Hơn nữa, thượng quái biến thành Tốn; Tốn là nghi ngờ, không quyết, tiến thoái. Hào Tứ thuộc ngôi âm, biến thì hỗ quái chứa ánh sáng của Ly. Hào Sơ Cửu là hào ứng có tượng vực sâu, cho thấy người này học vấn uyên thâm, đức tính cương cường, nhưng lòng còn do dự, cũng chưa từng hy vọng chắc chắn sẽ đắc cử. Xét kỹ lời hào, “hoặc nhảy vọt” quả không thể không ứng với việc ông ta ra tranh cử; nhưng “ở trong vực” e rằng lần này ông ta nhất định không được chọn. Người kia lặng lẽ ra về.
Về sau quả nhiên sự việc diễn ra đúng như lời đoán này.
【Ví dụ】Vào tiết Đông chí năm thứ hai mươi tám, tôi gieo quẻ hỏi vận khí ngoại giao của nước ta trong năm sau, được quẻ Càn biến Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Quẻ Càn biểu thị khí dương tuần hoàn không dứt, không gián đoạn dù chỉ trong một hơi thở; đó là thời kỳ cương kiện thuần toàn. Nay nước ta đang giao chiến với nhà Thanh, các nước Âu Mỹ đều chú ý theo dõi. Từ đây về sau, các nước ấy ắt sẽ dò xét hành động của ta, cùng nhau nghi kỵ và ghét bỏ; đó là thế tất yếu. Vì vậy nước ta càng phải xét kỹ tình hình đôi bên, cân nhắc thời thế trong ngoài, khiến họ dứt ý dòm ngó, bồi đắp tình hòa hiếu. Tích lũy thế lực, thận trọng xét cơ hội, chính là lúc này. Lời hào nói “hoặc nhảy vọt”, nói “ở trong vực”, cho thấy ta phải noi theo sự biến hóa của thần long, khi tiến khi lui, biến hóa khôn lường; như thế mới không lỗi.
Tượng truyện nói: “Hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực sâu” nghĩa là tiến lên thì không lỗi.
Cửu Tứ lấy dương ở ngôi âm, lại gần ngôi vua. Cái tình của dương là muốn tiến, cái chí của âm là muốn lui, nên còn nghi ngờ chưa quyết. Nhưng khí dương đang tiến, rồng vừa nhảy ắt có tượng bay lên trời. “Hoặc” là lời nghi ngờ chưa định; “hoặc nhảy” nghĩa là sắp tiến mà chưa tiến; “ở trong vực” nghĩa là muốn tiến rồi lại lui. Vực là nơi trống không, phía trên thông khí với trời, lại có nước. Rồng được nước thì dễ vọt lên; khác với hào Nhị nói “ở ruộng”. Ở đây tuy nhảy một lần rồi lại ở trong vực, nhưng biết cuối cùng ắt sẽ nhảy lên trời, nên nói “không lỗi”. Tượng truyện thêm chữ “tiến”, càng cho thấy tiến theo thời thì nhất định không lỗi. Người biết xét thời thế nên hay không nên, xem lòng người hướng về hay chống lại, đợi thời mà xuất hiện, thấy có thể thì hành động; tiến không tham địa vị, lui không mua danh, sẽ nắm được cơ hội của sự việc và tránh nỗi nhục làm mất thân. “Không lỗi” cũng là lời khuyên người ta đừng để lỡ thời cơ. Hào Tứ ở chỗ vượt từ nội quái sang ngoại quái, nên có ý tiến. Hào này biến thì ngoại quái thành Tốn. Thuyết Quái truyện nói: “Tốn là lúc lui, là không quyết”, nên có tượng do dự.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Xét tượng hào, tiến quân ắt gặp vực nước ngăn cách, nên chuẩn bị thuyền bè. Hoặc bên vực có quân địch mai phục, cần sớm phòng bị, như vậy sẽ không lỗi.
○ Hỏi về buôn bán: Hào nói “hoặc nhảy vọt, hoặc ở trong vực”. Nếu vận chuyển hàng hải sản, e gặp hiểm nguy sóng gió; hoặc giá hàng có thể tăng vọt nhất thời. Hào nói “không lỗi”, nên có thể bảo toàn, không bị hại.
○ Hỏi về công danh: Có tượng một phen mà thành danh, đại cát.
○ Hỏi về gia trạch: Vực là nước, nhảy là bay vọt lên; ắt có tượng gia đạo một thời chấn hưng.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Trường hợp】Tháng Hai năm Minh Trị thứ hai mươi bốn, môn nhân Thanh Thủy Thuần Trực đến báo rằng: “Trong cuộc bầu cử nghị sĩ đại diện khu vực thứ mười lăm của phủ, hai ông Cưu Sơn và Giác Điền đã dựng cờ đối nhau, cuộc cạnh tranh vẫn chưa phân định.” Từ lâu tôi đã biết ông Cưu Sơn, nên xin gieo quẻ hỏi thắng bại của ông. Gieo được quẻ Đồng Nhân biến thành quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Cả sáu hào của quẻ này đều lấy rồng làm tượng; đó là lúc quần long tụ hội. Hào này dương khí thịnh, tiến lên ứng cử thì vốn có thể chắc chắn đắc cử. Nhưng đây là hào dương ở ngôi âm: dương chủ tiến, âm chủ thoái, cho thấy rõ tiến thoái chưa định, đang tiến lại quay lui. Hơn nữa, thượng quái biến thành Tốn; Tốn là nghi ngờ, không quyết, tiến thoái. Hào Tứ thuộc ngôi âm, biến thì hỗ quái chứa ánh sáng của Ly. Hào Sơ Cửu là hào ứng có tượng vực sâu, cho thấy người này học vấn uyên thâm, đức tính cương cường, nhưng lòng còn do dự, cũng chưa từng hy vọng chắc chắn sẽ đắc cử. Xét kỹ lời hào, “hoặc nhảy vọt” quả không thể không ứng với việc ông ta ra tranh cử; nhưng “ở trong vực” e rằng lần này ông ta nhất định không được chọn. Người kia lặng lẽ ra về.
Về sau quả nhiên sự việc diễn ra đúng như lời đoán này.
【Ví dụ】Vào tiết Đông chí năm thứ hai mươi tám, tôi gieo quẻ hỏi vận khí ngoại giao của nước ta trong năm sau, được quẻ Càn biến Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Quẻ Càn biểu thị khí dương tuần hoàn không dứt, không gián đoạn dù chỉ trong một hơi thở; đó là thời kỳ cương kiện thuần toàn. Nay nước ta đang giao chiến với nhà Thanh, các nước Âu Mỹ đều chú ý theo dõi. Từ đây về sau, các nước ấy ắt sẽ dò xét hành động của ta, cùng nhau nghi kỵ và ghét bỏ; đó là thế tất yếu. Vì vậy nước ta càng phải xét kỹ tình hình đôi bên, cân nhắc thời thế trong ngoài, khiến họ dứt ý dòm ngó, bồi đắp tình hòa hiếu. Tích lũy thế lực, thận trọng xét cơ hội, chính là lúc này. Lời hào nói “hoặc nhảy vọt”, nói “ở trong vực”, cho thấy ta phải noi theo sự biến hóa của thần long, khi tiến khi lui, biến hóa khôn lường; như thế mới không lỗi.
Cửu Ngũ: Rồng bay ở trên trời; lợi gặp đại nhân.
Cửu Ngũ: Rồng bay ở trên trời; lợi gặp đại nhân.
Tượng truyện nói: “Rồng bay ở trên trời” nghĩa là đại nhân kiến tạo sự nghiệp.
Hào Ngũ cương kiện, trung chính, ở ngôi tôn quý. Ở dưới, nó lấy cùng một đức mà ứng với bề tôi Cửu Nhị; gặp đại nhân và giúp việc trị hóa của người, tức là có đức của thánh nhân, ở ngôi thiên tử, ân trạch thấm đến dân chúng. Người xưa nói “đại bảo gọi là ngôi vị”; tuy có đức mà không có vị thì không thể làm lợi cho thiên hạ. “Rồng bay ở trên trời” nghĩa là rồng bay lên trời, mây vận hành, mưa ban xuống, sự biến hóa thần diệu làm ân trạch lan đến muôn vật. Thánh nhân ở ngôi thì thiên hạ được hưởng ân, vạn vật được thành tựu sự sống, nên lấy đó làm tượng. Đại nhân là người “đem đức hợp với trời đất, đem sự sáng hợp với mặt trời mặt trăng, đem trật tự hợp với bốn mùa, đem cát hung hợp với quỷ thần”. Có đủ đức của rồng, bay lên ở ngôi trời, được vạn vật ngước nhìn, nên thiên hạ lấy việc được thấy người ấy làm điều có lợi. Tượng truyện nói “Rồng bay ở trên trời, đại nhân kiến tạo”. “Kiến tạo” là làm nên, như câu “thánh nhân làm ra thì vạn vật đều ngắm nhìn”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Cửu Ngũ ở ngôi tôn quý, ắt là thiên tử đích thân xuất chinh, vương sư phạt kẻ có tội. Vì vậy nói “đại nhân kiến tạo”.
○ Hỏi về buôn bán: Cửu Ngũ ứng với giờ Thân; phía trên là sao Tất[10], kèm tinh tú Hàm Trì[11]. Hàm Trì là nơi ở của Thanh Long, cũng gọi là Ngũ Xa, chủ về lúa, kê, đậu và mạch. Xét ra việc buôn bán nhất định thuộc loại ngũ cốc. “Rồng bay” cho biết giá hàng sẽ tăng vọt; “lợi gặp đại nhân” cho biết việc vận chuyển buôn bán có thể do chính phủ sai khiến.
○ Hỏi về công danh: Có điềm thẳng đường lên tận mây xanh, công danh tiến đạt nhanh chóng.
○ Hỏi về bệnh tật: Có tượng được trời gọi lên, không tốt.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, chủ về quý hiển.
【Ví dụ】Ngày hai mươi tám tháng hai năm Minh Trị thứ mười tám, Bá tước Ito phụng mệnh sang nhà Thanh, khởi hành từ cảng Yokohama để bàn việc với triều đình Thanh về sự kiện Triều Tiên năm trước. Tôi hỏi kết cục sẽ ra sao, gieo được quẻ Càn biến Đại Súc. Trước lúc lên đường, tôi định trình cho Bá tước, nhưng có quá nhiều người cản đường nên rốt cuộc không thể trình; bèn sai người mang đến Thiên Tân.
Lời đoán nói: Đại nhân ở hào Ngũ ứng hợp về vị trí với đại nhân ở hào Nhị. Kinh Dịch lấy âm dương tương ứng làm lệ; ở đây hào Nhị và hào Ngũ đều là hào dương. Đại nhân nước ta sẽ gặp đại nhân nhà Thanh để bàn việc, ắt có thể suy tính sâu xa, nhìn xa trông rộng, khiến hai nước hòa bình. Hơn nữa, mặt trái của hào Ngũ quẻ này là hào Ngũ quẻ Khôn, lời hào nói “Áo dưới màu vàng, đại cát”. Điều đó bao hàm nỗi lo của đại nhân đôi bên đối với an nguy của người da vàng và sự nâng đỡ lẫn nhau. Đại nhân hai nước lưu tâm đến việc này chính là phúc của nhân dân hai nước.
Đại tượng của Càn nói: “Người quân tử nhờ đó tự cường không nghỉ.” Phàm ai gieo được quẻ này phải biết sự vận hành của mặt trời không dừng dù chỉ một khoảnh khắc. Vì thế lấy tiến làm đầu thì có thể giành thắng lợi. Nay nước ta phái sứ thần trước, nên thế chủ động ở ta. Ta tiến lên bàn việc, noi theo sự vận hành cương kiện của Càn; vì vậy thắng lợi ở phía ta, ắt sẽ đạt kết quả tốt.
Bấy giờ, thương nhân Yokohama là Tachikawa Isohyo sang Thiên Tân vì công việc, bèn nhờ thư ký Ito ghi lại lời đoán này và trình lên Bá tước Ito. Khi ấy, ý kiến về quốc sự không hòa hợp, Bá tước Ito đang chuẩn bị hành trang hồi triều. Tình cờ xem được lời đoán này, ông rất xúc động, liền mở lại cuộc nghị bàn quyết định giữa hòa và chiến. Sau cùng, sự việc diễn ra đúng như nghị quyết, ông trở về mà không làm nhục sứ mệnh.
【Ví dụ】Tháng mười hai năm Minh Trị thứ 19, đoán vận khí của Cục Đường sắt trong năm sau, được quẻ Càn biến thành quẻ Đại Hữu, bèn trình lên ông Inoue Masaru, Cục trưởng Cục Đường sắt.
Lời đoán nói: Quẻ Càn có ba hào dương nối liền, là quẻ thuần dương; hào thứ năm lại ở vị dương, đức quẻ không gì thịnh hơn thế. Vận khí của Cục trưởng Cục Đường sắt có thể gọi là cực thịnh. Hào này được cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa, đủ thấy người đời đang chú ý đến đường sắt. Sự sinh sôi của sản vật, giao thông vận chuyển, việc phòng hộ quân sự và sự đi lại của nhân dân đều được hưởng lợi; vận thịnh ấy quả thật không gì sánh được. “Rồng bay ở trên trời” ví như xe hơi chạy nhanh như bay. Xe hơi lưu hành không phân biệt sang hèn, ngay cả bậc đại nhân tôn quý cũng cùng lên xe, nên nói “có lợi khi gặp bậc đại nhân”. Trước đây, vào năm Minh Trị thứ 14, tôi từng đoán về Quốc hội tương lai và dự liệu rằng sau hai mươi năm đường sắt sẽ thịnh hành. Nay được quẻ này, quả nhiên hoàn toàn phù hợp; sự phát triển lớn mạnh của ngành đường sắt sau này có thể kỳ vọng mà chờ đợi.
Tượng truyện nói: “Rồng bay ở trên trời” nghĩa là đại nhân kiến tạo sự nghiệp.
Hào Ngũ cương kiện, trung chính, ở ngôi tôn quý. Ở dưới, nó lấy cùng một đức mà ứng với bề tôi Cửu Nhị; gặp đại nhân và giúp việc trị hóa của người, tức là có đức của thánh nhân, ở ngôi thiên tử, ân trạch thấm đến dân chúng. Người xưa nói “đại bảo gọi là ngôi vị”; tuy có đức mà không có vị thì không thể làm lợi cho thiên hạ. “Rồng bay ở trên trời” nghĩa là rồng bay lên trời, mây vận hành, mưa ban xuống, sự biến hóa thần diệu làm ân trạch lan đến muôn vật. Thánh nhân ở ngôi thì thiên hạ được hưởng ân, vạn vật được thành tựu sự sống, nên lấy đó làm tượng. Đại nhân là người “đem đức hợp với trời đất, đem sự sáng hợp với mặt trời mặt trăng, đem trật tự hợp với bốn mùa, đem cát hung hợp với quỷ thần”. Có đủ đức của rồng, bay lên ở ngôi trời, được vạn vật ngước nhìn, nên thiên hạ lấy việc được thấy người ấy làm điều có lợi. Tượng truyện nói “Rồng bay ở trên trời, đại nhân kiến tạo”. “Kiến tạo” là làm nên, như câu “thánh nhân làm ra thì vạn vật đều ngắm nhìn”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Cửu Ngũ ở ngôi tôn quý, ắt là thiên tử đích thân xuất chinh, vương sư phạt kẻ có tội. Vì vậy nói “đại nhân kiến tạo”.
○ Hỏi về buôn bán: Cửu Ngũ ứng với giờ Thân; phía trên là sao Tất[10], kèm tinh tú Hàm Trì[11]. Hàm Trì là nơi ở của Thanh Long, cũng gọi là Ngũ Xa, chủ về lúa, kê, đậu và mạch. Xét ra việc buôn bán nhất định thuộc loại ngũ cốc. “Rồng bay” cho biết giá hàng sẽ tăng vọt; “lợi gặp đại nhân” cho biết việc vận chuyển buôn bán có thể do chính phủ sai khiến.
○ Hỏi về công danh: Có điềm thẳng đường lên tận mây xanh, công danh tiến đạt nhanh chóng.
○ Hỏi về bệnh tật: Có tượng được trời gọi lên, không tốt.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, chủ về quý hiển.
【Ví dụ】Ngày hai mươi tám tháng hai năm Minh Trị thứ mười tám, Bá tước Ito phụng mệnh sang nhà Thanh, khởi hành từ cảng Yokohama để bàn việc với triều đình Thanh về sự kiện Triều Tiên năm trước. Tôi hỏi kết cục sẽ ra sao, gieo được quẻ Càn biến Đại Súc. Trước lúc lên đường, tôi định trình cho Bá tước, nhưng có quá nhiều người cản đường nên rốt cuộc không thể trình; bèn sai người mang đến Thiên Tân.
Lời đoán nói: Đại nhân ở hào Ngũ ứng hợp về vị trí với đại nhân ở hào Nhị. Kinh Dịch lấy âm dương tương ứng làm lệ; ở đây hào Nhị và hào Ngũ đều là hào dương. Đại nhân nước ta sẽ gặp đại nhân nhà Thanh để bàn việc, ắt có thể suy tính sâu xa, nhìn xa trông rộng, khiến hai nước hòa bình. Hơn nữa, mặt trái của hào Ngũ quẻ này là hào Ngũ quẻ Khôn, lời hào nói “Áo dưới màu vàng, đại cát”. Điều đó bao hàm nỗi lo của đại nhân đôi bên đối với an nguy của người da vàng và sự nâng đỡ lẫn nhau. Đại nhân hai nước lưu tâm đến việc này chính là phúc của nhân dân hai nước.
Đại tượng của Càn nói: “Người quân tử nhờ đó tự cường không nghỉ.” Phàm ai gieo được quẻ này phải biết sự vận hành của mặt trời không dừng dù chỉ một khoảnh khắc. Vì thế lấy tiến làm đầu thì có thể giành thắng lợi. Nay nước ta phái sứ thần trước, nên thế chủ động ở ta. Ta tiến lên bàn việc, noi theo sự vận hành cương kiện của Càn; vì vậy thắng lợi ở phía ta, ắt sẽ đạt kết quả tốt.
Bấy giờ, thương nhân Yokohama là Tachikawa Isohyo sang Thiên Tân vì công việc, bèn nhờ thư ký Ito ghi lại lời đoán này và trình lên Bá tước Ito. Khi ấy, ý kiến về quốc sự không hòa hợp, Bá tước Ito đang chuẩn bị hành trang hồi triều. Tình cờ xem được lời đoán này, ông rất xúc động, liền mở lại cuộc nghị bàn quyết định giữa hòa và chiến. Sau cùng, sự việc diễn ra đúng như nghị quyết, ông trở về mà không làm nhục sứ mệnh.
【Ví dụ】Tháng mười hai năm Minh Trị thứ 19, đoán vận khí của Cục Đường sắt trong năm sau, được quẻ Càn biến thành quẻ Đại Hữu, bèn trình lên ông Inoue Masaru, Cục trưởng Cục Đường sắt.
Lời đoán nói: Quẻ Càn có ba hào dương nối liền, là quẻ thuần dương; hào thứ năm lại ở vị dương, đức quẻ không gì thịnh hơn thế. Vận khí của Cục trưởng Cục Đường sắt có thể gọi là cực thịnh. Hào này được cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa, đủ thấy người đời đang chú ý đến đường sắt. Sự sinh sôi của sản vật, giao thông vận chuyển, việc phòng hộ quân sự và sự đi lại của nhân dân đều được hưởng lợi; vận thịnh ấy quả thật không gì sánh được. “Rồng bay ở trên trời” ví như xe hơi chạy nhanh như bay. Xe hơi lưu hành không phân biệt sang hèn, ngay cả bậc đại nhân tôn quý cũng cùng lên xe, nên nói “có lợi khi gặp bậc đại nhân”. Trước đây, vào năm Minh Trị thứ 14, tôi từng đoán về Quốc hội tương lai và dự liệu rằng sau hai mươi năm đường sắt sẽ thịnh hành. Nay được quẻ này, quả nhiên hoàn toàn phù hợp; sự phát triển lớn mạnh của ngành đường sắt sau này có thể kỳ vọng mà chờ đợi.
Hào thượng cửu: Rồng vươn quá cao, có điều hối tiếc.
Hào thượng cửu: Rồng vươn quá cao, có điều hối tiếc.
Tượng truyện nói: Rồng vươn quá cao thì có điều hối tiếc; đầy tràn rồi không thể lâu bền.
Hào thượng là hào dương ở chỗ cực điểm của quẻ Càn. Đã đến cực điểm thì thành quá mức; rồng bay quá cao nên gọi là “kháng”, vì ở cao mà chuốc nguy nên nói “có hối tiếc”. Quẻ này nói rồng lúc đầu “tiềm”, kế đó “hiện”, giữa chừng “dược”, cuối cùng “phi”. Đã bay thì đã đến thời toàn thịnh; vượt quá đó nên trở lại tiềm ẩn. Như vậy không những tránh được cái hối tiếc của hiện tại mà còn có thể hy vọng ngày sau lại bay lên. Cũng như bề tôi khi ở đến cực điểm của thế lực và địa vị, phải biết ý lui tránh; có thế mới giữ được phú quý lâu dài. Nếu chỉ biết tiến mà không biết lui thì ít ai không mắc lỗi, bởi vậy nói “đầy tràn không thể lâu bền”. Hào này biến thành quẻ Quải; Quải nghĩa là quyết đoán. Mặt trời đến giữa trưa thì ngả, trăng tròn thì khuyết, đó là lẽ tất nhiên của trời. Vì vậy, lúc này nên nhân điều hối tiếc mà nghĩ cách sửa đổi, thấy thời cơ thì lui, như thế mới đạt được điều đúng. Việc Nghiêu, Thuấn nhường ngôi, Phạm Lãi và Trương Lương thành công rồi lui thân, đều là những trường hợp không đi đến cực điểm mà kết thúc tốt đẹp.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào thượng cửu ở cực điểm của quẻ Càn, dương đạt đến cực điểm ở trên nên gọi là “kháng”. Đã kháng thì vì thắng mà kiêu, do đó “có hối tiếc”. Vì vậy Truyện nói “đầy tràn không thể lâu bền”, nghĩa là không thể duy trì lâu dài.
○ Hỏi về kinh doanh: “Kháng” là quá mức. Trong đạo mua bán, không thể cầu lợi quá đầy; quá đầy ắt sẽ hao hụt, nên nói “không thể lâu bền”.
○ Hỏi về công danh: Vị trí của hào thượng cửu đã đến cực điểm, nên quay lại mà tự lui. Nếu không ắt sẽ đầy rồi chịu tổn thất.
○ Hỏi về nhà cửa: Hẳn là nền nhà quá cao; quá cao thì nguy hiểm, cũng đáng sợ.
○ Hỏi về bệnh tật: Đây là chứng dương khí bốc lên như rồng.[12] Truyện nói “đầy tràn không thể lâu bền”, nên biết rằng sinh mệnh có thể chỉ còn trong sớm tối. Đáng nguy.
○ Hỏi về hôn nhân: Không lợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, nhưng e rằng không nuôi được.
【Ví dụ】Hằng năm vào tiết Đông chí, tôi đoán việc tiến lui của các bậc hiền tài trong triều, cùng vận khí năm sau của thân thuộc, tri kỷ và những người khác, rồi gửi kết quả cho chính người ấy, lấy đó làm lệ. Năm Minh Trị thứ 19, tôi đoán vận khí năm sau của một vị quý hiển nào đó, được quẻ Càn biến thành quẻ Quải.
Lời đoán nói: Càn là chí đại, chí cương, chí kiện, là quẻ thuần dương. Ứng vào con người thì là ở địa vị cao, nhận tước vị hiển đạt, thanh danh vang dội; đúng lúc nên thành công rồi lui thân. Nay ngài được quẻ này, ví như rồng bay lên trời, vượt cao khỏi tầng mây, trái lại không thể ban mưa rưới ân, nên nói “rồng vươn quá cao thì có hối tiếc”. Ngài là người anh hùng, hiểu biết thông đạt, lão luyện việc đời. Công danh trước kia rực rỡ, nhưng vận thịnh nay đã qua; chỉ nên khẩn trương lui khi dòng nước đang mạnh, cứu cái thế quá cao trước mắt, để mong ngày khác lại bay lên. Từ chức, khước từ vinh dự, thuận thời mà tu dưỡng, giữ mình kín đáo, như thế sẽ không lỗi. Quả nhiên kết quả diễn ra đúng như lời đoán này.
Tượng truyện nói: Rồng vươn quá cao thì có điều hối tiếc; đầy tràn rồi không thể lâu bền.
Hào thượng là hào dương ở chỗ cực điểm của quẻ Càn. Đã đến cực điểm thì thành quá mức; rồng bay quá cao nên gọi là “kháng”, vì ở cao mà chuốc nguy nên nói “có hối tiếc”. Quẻ này nói rồng lúc đầu “tiềm”, kế đó “hiện”, giữa chừng “dược”, cuối cùng “phi”. Đã bay thì đã đến thời toàn thịnh; vượt quá đó nên trở lại tiềm ẩn. Như vậy không những tránh được cái hối tiếc của hiện tại mà còn có thể hy vọng ngày sau lại bay lên. Cũng như bề tôi khi ở đến cực điểm của thế lực và địa vị, phải biết ý lui tránh; có thế mới giữ được phú quý lâu dài. Nếu chỉ biết tiến mà không biết lui thì ít ai không mắc lỗi, bởi vậy nói “đầy tràn không thể lâu bền”. Hào này biến thành quẻ Quải; Quải nghĩa là quyết đoán. Mặt trời đến giữa trưa thì ngả, trăng tròn thì khuyết, đó là lẽ tất nhiên của trời. Vì vậy, lúc này nên nhân điều hối tiếc mà nghĩ cách sửa đổi, thấy thời cơ thì lui, như thế mới đạt được điều đúng. Việc Nghiêu, Thuấn nhường ngôi, Phạm Lãi và Trương Lương thành công rồi lui thân, đều là những trường hợp không đi đến cực điểm mà kết thúc tốt đẹp.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào thượng cửu ở cực điểm của quẻ Càn, dương đạt đến cực điểm ở trên nên gọi là “kháng”. Đã kháng thì vì thắng mà kiêu, do đó “có hối tiếc”. Vì vậy Truyện nói “đầy tràn không thể lâu bền”, nghĩa là không thể duy trì lâu dài.
○ Hỏi về kinh doanh: “Kháng” là quá mức. Trong đạo mua bán, không thể cầu lợi quá đầy; quá đầy ắt sẽ hao hụt, nên nói “không thể lâu bền”.
○ Hỏi về công danh: Vị trí của hào thượng cửu đã đến cực điểm, nên quay lại mà tự lui. Nếu không ắt sẽ đầy rồi chịu tổn thất.
○ Hỏi về nhà cửa: Hẳn là nền nhà quá cao; quá cao thì nguy hiểm, cũng đáng sợ.
○ Hỏi về bệnh tật: Đây là chứng dương khí bốc lên như rồng.[12] Truyện nói “đầy tràn không thể lâu bền”, nên biết rằng sinh mệnh có thể chỉ còn trong sớm tối. Đáng nguy.
○ Hỏi về hôn nhân: Không lợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, nhưng e rằng không nuôi được.
【Ví dụ】Hằng năm vào tiết Đông chí, tôi đoán việc tiến lui của các bậc hiền tài trong triều, cùng vận khí năm sau của thân thuộc, tri kỷ và những người khác, rồi gửi kết quả cho chính người ấy, lấy đó làm lệ. Năm Minh Trị thứ 19, tôi đoán vận khí năm sau của một vị quý hiển nào đó, được quẻ Càn biến thành quẻ Quải.
Lời đoán nói: Càn là chí đại, chí cương, chí kiện, là quẻ thuần dương. Ứng vào con người thì là ở địa vị cao, nhận tước vị hiển đạt, thanh danh vang dội; đúng lúc nên thành công rồi lui thân. Nay ngài được quẻ này, ví như rồng bay lên trời, vượt cao khỏi tầng mây, trái lại không thể ban mưa rưới ân, nên nói “rồng vươn quá cao thì có hối tiếc”. Ngài là người anh hùng, hiểu biết thông đạt, lão luyện việc đời. Công danh trước kia rực rỡ, nhưng vận thịnh nay đã qua; chỉ nên khẩn trương lui khi dòng nước đang mạnh, cứu cái thế quá cao trước mắt, để mong ngày khác lại bay lên. Từ chức, khước từ vinh dự, thuận thời mà tu dưỡng, giữ mình kín đáo, như thế sẽ không lỗi. Quả nhiên kết quả diễn ra đúng như lời đoán này.
Dụng Cửu: Thấy cả đàn rồng không có đầu đàn, cát.
Dùng hào cửu: Thấy một đàn rồng không có đầu, tốt lành.
Tượng truyện nói: Dùng hào cửu; đức của trời không thể đứng làm đầu.
“Dùng hào cửu” nói về sự biến đổi của các hào dương trong sáu mươi bốn quẻ, biểu thị phép dùng cái dương cương, cũng là thông lệ chung của một trăm chín mươi hai hào dương trong Kinh Dịch. “Dùng” là tượng biến động; “cửu” là số cuối của dương. Quẻ Càn toàn là dương, dương đến cực thì biến, nên nói “dùng hào cửu”. “Thấy” là vì sáu hào của Càn đều lấy hình tượng rồng: “tiềm”, “dược”, “phi”, hiện rõ ràng nên gọi là “thấy”. “Đầu” là phía trên; Kinh Dịch lấy Càn làm đầu, nên “không đầu” nói rằng không có gì vượt lên trên nó. Quẻ được biến thì tốt. Quẻ Càn thuần dương không có hào biến, nên sáu hào chưa từng nói chữ “tốt”; còn dùng hào cửu thì đang động và sắp biến, nên nói tốt. Tượng truyện nói “đức trời”: quẻ Càn thuần dương, không thân với âm nhu, hợp nhất không chia thành một đức riêng nào; đó cũng là ý nghĩa Càn là trời. “Không thể làm đầu” nghĩa là không có gì đáng tôn hơn nữa. Càn có sáu rồng, mỗi rồng đều có thế làm mây rải mưa. Ứng vào người thì là các bậc hiền tài hội tụ, đồng lòng phò tá, giúp sửa sang quốc gia và làm rạng danh công nghiệp. Mỗi người nên khiêm nhường, nhu thuận, không khoe khoang, không tự kể công. Nếu lại tranh tài đấu trí, giành nhau khoe công đầu, đó là tượng hung. Kinh Dịch nói “một đàn rồng không có đầu thì tốt” chính là để răn điều ấy. Tượng truyện nói: “Dùng hào cửu, đức trời không thể đứng làm đầu.” Nhất thiết phải hiểu đức sâu của Thuấn đã được tiếng tốt truyền xa: ông thích hỏi han, xét việc gần gũi, hạ mình ở dưới người khác. Được như vậy mới gọi là tột bậc.
Tượng truyện nói: Dùng hào cửu; đức của trời không thể đứng làm đầu.
“Dùng hào cửu” nói về sự biến đổi của các hào dương trong sáu mươi bốn quẻ, biểu thị phép dùng cái dương cương, cũng là thông lệ chung của một trăm chín mươi hai hào dương trong Kinh Dịch. “Dùng” là tượng biến động; “cửu” là số cuối của dương. Quẻ Càn toàn là dương, dương đến cực thì biến, nên nói “dùng hào cửu”. “Thấy” là vì sáu hào của Càn đều lấy hình tượng rồng: “tiềm”, “dược”, “phi”, hiện rõ ràng nên gọi là “thấy”. “Đầu” là phía trên; Kinh Dịch lấy Càn làm đầu, nên “không đầu” nói rằng không có gì vượt lên trên nó. Quẻ được biến thì tốt. Quẻ Càn thuần dương không có hào biến, nên sáu hào chưa từng nói chữ “tốt”; còn dùng hào cửu thì đang động và sắp biến, nên nói tốt. Tượng truyện nói “đức trời”: quẻ Càn thuần dương, không thân với âm nhu, hợp nhất không chia thành một đức riêng nào; đó cũng là ý nghĩa Càn là trời. “Không thể làm đầu” nghĩa là không có gì đáng tôn hơn nữa. Càn có sáu rồng, mỗi rồng đều có thế làm mây rải mưa. Ứng vào người thì là các bậc hiền tài hội tụ, đồng lòng phò tá, giúp sửa sang quốc gia và làm rạng danh công nghiệp. Mỗi người nên khiêm nhường, nhu thuận, không khoe khoang, không tự kể công. Nếu lại tranh tài đấu trí, giành nhau khoe công đầu, đó là tượng hung. Kinh Dịch nói “một đàn rồng không có đầu thì tốt” chính là để răn điều ấy. Tượng truyện nói: “Dùng hào cửu, đức trời không thể đứng làm đầu.” Nhất thiết phải hiểu đức sâu của Thuấn đã được tiếng tốt truyền xa: ông thích hỏi han, xét việc gần gũi, hạ mình ở dưới người khác. Được như vậy mới gọi là tột bậc.