☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 5 Thủy Thiên Nhu, Nhu: Có lòng thành tín, sáng sủa hanh thông, giữ chính thì tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn.
䷄
Thủy Thiên Nhu, Nhu: Có lòng thành tín, sáng sủa hanh thông, giữ chính thì tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn.
Nhu: Có lòng thành tín, sáng sủa hanh thông, giữ chính thì tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn.
05 Thủy Thiên Nhu
Chữ “Nhu[31]” trong cổ văn viết là , vốn theo chữ “trời”, không phải chữ “nhi”; đó là chữ tượng hình mô tả trời của đơn quái dưới Càn và mây của đơn quái trên Khảm. Đại Tượng nói: “Mây ở trên trời là Nhu”, chính là ý này. Âm đọc là nhu, lấy bộ vũ làm bộ nghĩa và phần nhu làm thanh phù; chữ này có nghĩa là chờ đợi. Xem chi tiết ở phần Thoán truyện bên dưới.
Nhu: Có lòng thành tín[32], sáng sủa hanh thông, giữ chính thì tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn.
▲ Kim văn: Nhu
Cửu ngũ lấy dương mà mắc giữa âm, chờ ba hào dương tiến lên; ba hào dương cũng muốn tiến mà chưa tiến, vì vậy có lòng thành tín đồng tâm. Tuy bóng tối của thời kỳ đầu chưa tiêu tan, nhưng dương của Càn đang lên, tự nhiên sẽ sáng rõ hanh thông; giữ chính an ổn thì tốt lành. Không gì hiểm nguy bằng sông lớn. Trên dưới cùng tin nhau, dương tăng trưởng âm suy yếu; tiến lên vượt qua thì ắt có lợi, chỉ cần chờ đúng thời. Khảm và Càn đều thực ở bên trong nên gọi là “tín”; hỗ quái Ly là ánh sáng và thuyền; nước Khảm là sông, sức mạnh của Càn đối diện với nó, nên nói “lợi cho việc vượt qua”.
Thoán truyện nói: Nhu là chờ đợi, phía trước có hiểm nguy. Cương kiện mà không hãm, đạo nghĩa của nó không đến nỗi khốn cùng. “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành”: ở ngôi vị của trời, giữ chính và được trung. “Lợi cho việc vượt sông lớn”: tiến tới thì có công.
Quẻ này là hơi nước bốc lên thành mây; mây bay lên trời thì có thể đứng chờ mưa lớn sắp đến, nên gọi là Nhu. Lại nữa, Càn là người cha già ở bên trong, Khảm là con trai giữa ở bên ngoài, tượng tựa lầu chờ con trở về. Càn biểu thị tiến lên, Khảm biểu thị sông; muốn tiến mà gặp nước lũ lớn thì phải đợi nước rút rồi mới tiến. Đó đều là nghĩa của “Nhu”. Tượng của Nhu không chỉ một, nhưng không gì cấp thiết bằng ăn uống. Ngoại quái Khảm là ăn uống, hỗ quái Đoài là miệng; vì vậy Cửu ngũ nói “chờ nơi rượu thức ăn”, Tượng truyện nói “Nhu, người quân tử dùng việc ăn uống yến lạc”. Muôn vật phải nhờ mưa móc mới sinh trưởng, con người phải nhờ ăn uống để nuôi sống thân mình; đó là nghĩa của Nhu.
Đem quẻ này xét về nhân sự, nội quái là bản thân, có tài lực cương kiện và muốn tiến; ngoại quái là đối phương, bày kế hiểm để ngăn ta. Tiến lên ắt rơi vào hiểm, không thể hành động vọng động, chỉ nên chờ thời; hoặc chờ gian kế của đối phương bại lộ, hoặc chờ vận khí của mình hanh thông. Khi ấy tiến lên mưu việc mới không còn nỗi lo hiểm trở. Thế nhưng người đời thường phù phiếm, nóng nảy, không chờ thời cơ mà phó mặc khí thế tiến thẳng; vì vậy chẳng ai không tự sa vào tai họa. Hạ quái của quẻ này là Càn, “cương kiện mà không hãm”, nên “nghĩa của nó không khốn cùng”. Đến thời Cửu ngũ, hiểm nguy được giải tỏa, đạt chí càng dễ, tự nhiên có thể hoàn thành việc lớn. Vì thế nói: “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành; ở ngôi trời, chính và trung. Lợi cho việc vượt sông lớn; tiến tới thì có công.” Trong Dịch, nói “sáng” hay “sáng lớn” đều chỉ sự quang minh chính đại và có thể thành công. Trong sáu mươi tư quẻ, có bảy quẻ nói “lợi cho việc vượt sông lớn”, Nhu đứng đầu. Từ xưa người ta chế thuyền và mái chèo để vượt sông, nhưng khi gió sóng dữ dội, nhiều người không thể nhẫn nại chờ đợi nên bị lật thuyền chết đuối. Vì thế quẻ Nhu nêu lời răn này trước tiên. Chính vì biết chờ nên mới “lợi cho việc vượt sông lớn”. Tục ngữ nói “người đi gấp phải đi đường vòng”, chính là ý này. Nói chung làm việc không nên chỉ lo chuyện trước mắt. So với tiến quá nhanh rồi hối hận, chẳng thà chậm lại để thành công trọn vẹn? Dù lớn là cầu công danh để giúp nước cứu đời, nhỏ là mưu cầu tài sản để chấn hưng gia nghiệp, đều phải chờ thời rồi mới hành động. Vì thế nói “tiến tới thì có công”.
Đem quẻ này xét về quốc gia, hạ quái Càn là nhân dân, mang tài lực cương kiện, muốn tiến lên tham gia việc chính trị; thượng quái Khảm là chính phủ, ngăn dân chúng tiến quá gấp và chỉ cho họ pháp luật. Nhân dân sợ rơi vào hiểm nguy nên không dám tiến, phải đợi lưới pháp luật nới lỏng phần nào mới có thể mưu tiến. Chính phủ ở trên biết dân ở dưới đang chờ ơn huệ, thương họ lâm cảnh khó khăn, bèn ban bố sự cứu trợ như mưa móc để phục hồi dân sinh: hoặc giảm thuế, lo áo cơm, khai khẩn ruộng hoang để canh tác, hoặc phát gạo thóc cứu đói. Vì thế Hệ Từ nói: “Nhu là đạo ăn uống.” Nhân dân ở dưới có đức hành động mạnh mẽ, không phải không nghĩ đến việc tiến lên mưu việc nước, nhưng vì thời vận chưa thông nên đành lui về ở ẩn để giữ chí. Trên dưới cùng giữ đạo Nhu thì có thể đạt hạnh phúc. Đó là ý “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn”.
Xét toàn quẻ, Sơ cửu đi sau hai hào dương, có chí tiến nhưng lo gặp hiểm khó nên không dám tiến nhẹ nhàng. Cửu nhị là chủ của ba hào dương, vốn có thể tiến, nhưng vì hiểm của Khảm ở trước, sợ tiến sẽ mắc lỗi, nên ung dung chờ thời, đúng như câu “người quân tử ở trong Dịch mà chờ mệnh”. Cửu tam chồng cứng mà không trung, một mình tiến qua hiểm Khảm nên gây thành tai họa; chỉ cần kính cẩn thận trọng thì vẫn có thể không thất bại. Lục tứ ở gần Cửu ngũ, tuy có thể hết lòng trung thành nhưng thiếu tài năng phò tá cứu giúp, bị ba hào dương bên dưới nghi ngờ; khó tránh bị thương, chỉ vừa đủ bảo toàn thân mạng. Cửu ngũ giữ đức cương kiện trung chính để chờ mệnh trời, thực hiện trọn đạo Nhu, nên tốt lành. Thượng lục ở cuối các hào, sự hãm hiểm đã đến cực điểm, không còn gì để chờ. Tuy có điều bất ngờ xảy đến, “kính trọng nó thì cuối cùng tốt lành”. Do đó biết rằng trong thời Nhu, ai biết nhẫn nại, giữ sự kính cẩn đều có thể tránh họa. Ý nghĩa của thời chờ đợi thật lớn lao biết bao!
Tượng truyện nói: Mây ở trên trời là Nhu. Người quân tử nhờ đó mà ăn uống, yến lạc.
Khảm ở trên, Càn ở dưới; khí âm dương chưa giao nhau nên không thành mưa. Mây ở trên trời tuy có điềm mưa, nhưng có thể tan đi rồi trời lại quang; cũng như người quân tử nuôi dưỡng tài đức, tuy muốn xuất thế để cứu giúp đời, nhưng phong vân chưa gặp nhau nên chưa thể ban rải ân trạch. Nếu oán trời trách người, vin vào vinh hoa để cầu tiến, đó là việc kẻ tiểu nhân không biết thời mệnh làm ra. “Ăn uống” không phải là xa xỉ, say sưa no nê, mà như Khổng Tử ăn rau thô uống nước, Nhan Hồi chỉ có một giỏ tre và một bầu nước. “Yến lạc” không phải là đắm mình trong hưởng lạc nhàn hạ, mà như sống bên xà nhà để đủ làm khúc bi ca, hay ở cổng nước Vệ mà có thể thong thả nghỉ ngơi. Vì có thể an theo địa vị mà hành động, không mong cầu điều bên ngoài, nên gọi là “ăn uống, yến lạc”. Tôi cho rằng thương nhân nước ta, khi việc kinh doanh tại địa phương không thuận lợi, ra nước ngoài, nhọc lòng nhọc sức tự lo áo cơm; đến khi nghe tin trong nước mất mùa tai họa, lại vận chuyển buôn bán lúa gạo ở hải ngoại để cứu đói, nhờ đó thu được lợi nhuận—đó cũng là một đạo chờ thời.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Nhu là chờ đợi. Mây ở trên trời, âm dương chưa giao, chưa thể khai chiến. Càn là người quân tử, cũng là võ nhân, nên thuộc về chủ tướng. Khảm là rượu, vì thế “ăn uống yến lạc” nói rằng trước khi hành quân phải chuẩn bị lương thực quân đội.
○ Hỏi về kinh doanh: Xem lời hào, có lẽ là việc vận chuyển lương thực để buôn bán, hoặc mở quán rượu. “Mây ở trên trời” nghĩa là mây ở trên nhưng mưa chưa xuống; có lẽ vốn liếng chưa tập hợp đủ, nên gọi là Nhu.
○ Hỏi về công danh: Gió mây chưa gặp nhau, vẫn còn phải chờ đợi.
○ Hỏi về bệnh tật: Nên điều chỉnh bằng ăn uống, giữ tâm an vui tự giải khuây; lâu ngày bệnh sẽ tự khỏi.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
05 Thủy Thiên Nhu
Chữ “Nhu[31]” trong cổ văn viết là , vốn theo chữ “trời”, không phải chữ “nhi”; đó là chữ tượng hình mô tả trời của đơn quái dưới Càn và mây của đơn quái trên Khảm. Đại Tượng nói: “Mây ở trên trời là Nhu”, chính là ý này. Âm đọc là nhu, lấy bộ vũ làm bộ nghĩa và phần nhu làm thanh phù; chữ này có nghĩa là chờ đợi. Xem chi tiết ở phần Thoán truyện bên dưới.
Nhu: Có lòng thành tín[32], sáng sủa hanh thông, giữ chính thì tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn.
▲ Kim văn: Nhu
Cửu ngũ lấy dương mà mắc giữa âm, chờ ba hào dương tiến lên; ba hào dương cũng muốn tiến mà chưa tiến, vì vậy có lòng thành tín đồng tâm. Tuy bóng tối của thời kỳ đầu chưa tiêu tan, nhưng dương của Càn đang lên, tự nhiên sẽ sáng rõ hanh thông; giữ chính an ổn thì tốt lành. Không gì hiểm nguy bằng sông lớn. Trên dưới cùng tin nhau, dương tăng trưởng âm suy yếu; tiến lên vượt qua thì ắt có lợi, chỉ cần chờ đúng thời. Khảm và Càn đều thực ở bên trong nên gọi là “tín”; hỗ quái Ly là ánh sáng và thuyền; nước Khảm là sông, sức mạnh của Càn đối diện với nó, nên nói “lợi cho việc vượt qua”.
Thoán truyện nói: Nhu là chờ đợi, phía trước có hiểm nguy. Cương kiện mà không hãm, đạo nghĩa của nó không đến nỗi khốn cùng. “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành”: ở ngôi vị của trời, giữ chính và được trung. “Lợi cho việc vượt sông lớn”: tiến tới thì có công.
Quẻ này là hơi nước bốc lên thành mây; mây bay lên trời thì có thể đứng chờ mưa lớn sắp đến, nên gọi là Nhu. Lại nữa, Càn là người cha già ở bên trong, Khảm là con trai giữa ở bên ngoài, tượng tựa lầu chờ con trở về. Càn biểu thị tiến lên, Khảm biểu thị sông; muốn tiến mà gặp nước lũ lớn thì phải đợi nước rút rồi mới tiến. Đó đều là nghĩa của “Nhu”. Tượng của Nhu không chỉ một, nhưng không gì cấp thiết bằng ăn uống. Ngoại quái Khảm là ăn uống, hỗ quái Đoài là miệng; vì vậy Cửu ngũ nói “chờ nơi rượu thức ăn”, Tượng truyện nói “Nhu, người quân tử dùng việc ăn uống yến lạc”. Muôn vật phải nhờ mưa móc mới sinh trưởng, con người phải nhờ ăn uống để nuôi sống thân mình; đó là nghĩa của Nhu.
Đem quẻ này xét về nhân sự, nội quái là bản thân, có tài lực cương kiện và muốn tiến; ngoại quái là đối phương, bày kế hiểm để ngăn ta. Tiến lên ắt rơi vào hiểm, không thể hành động vọng động, chỉ nên chờ thời; hoặc chờ gian kế của đối phương bại lộ, hoặc chờ vận khí của mình hanh thông. Khi ấy tiến lên mưu việc mới không còn nỗi lo hiểm trở. Thế nhưng người đời thường phù phiếm, nóng nảy, không chờ thời cơ mà phó mặc khí thế tiến thẳng; vì vậy chẳng ai không tự sa vào tai họa. Hạ quái của quẻ này là Càn, “cương kiện mà không hãm”, nên “nghĩa của nó không khốn cùng”. Đến thời Cửu ngũ, hiểm nguy được giải tỏa, đạt chí càng dễ, tự nhiên có thể hoàn thành việc lớn. Vì thế nói: “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành; ở ngôi trời, chính và trung. Lợi cho việc vượt sông lớn; tiến tới thì có công.” Trong Dịch, nói “sáng” hay “sáng lớn” đều chỉ sự quang minh chính đại và có thể thành công. Trong sáu mươi tư quẻ, có bảy quẻ nói “lợi cho việc vượt sông lớn”, Nhu đứng đầu. Từ xưa người ta chế thuyền và mái chèo để vượt sông, nhưng khi gió sóng dữ dội, nhiều người không thể nhẫn nại chờ đợi nên bị lật thuyền chết đuối. Vì thế quẻ Nhu nêu lời răn này trước tiên. Chính vì biết chờ nên mới “lợi cho việc vượt sông lớn”. Tục ngữ nói “người đi gấp phải đi đường vòng”, chính là ý này. Nói chung làm việc không nên chỉ lo chuyện trước mắt. So với tiến quá nhanh rồi hối hận, chẳng thà chậm lại để thành công trọn vẹn? Dù lớn là cầu công danh để giúp nước cứu đời, nhỏ là mưu cầu tài sản để chấn hưng gia nghiệp, đều phải chờ thời rồi mới hành động. Vì thế nói “tiến tới thì có công”.
Đem quẻ này xét về quốc gia, hạ quái Càn là nhân dân, mang tài lực cương kiện, muốn tiến lên tham gia việc chính trị; thượng quái Khảm là chính phủ, ngăn dân chúng tiến quá gấp và chỉ cho họ pháp luật. Nhân dân sợ rơi vào hiểm nguy nên không dám tiến, phải đợi lưới pháp luật nới lỏng phần nào mới có thể mưu tiến. Chính phủ ở trên biết dân ở dưới đang chờ ơn huệ, thương họ lâm cảnh khó khăn, bèn ban bố sự cứu trợ như mưa móc để phục hồi dân sinh: hoặc giảm thuế, lo áo cơm, khai khẩn ruộng hoang để canh tác, hoặc phát gạo thóc cứu đói. Vì thế Hệ Từ nói: “Nhu là đạo ăn uống.” Nhân dân ở dưới có đức hành động mạnh mẽ, không phải không nghĩ đến việc tiến lên mưu việc nước, nhưng vì thời vận chưa thông nên đành lui về ở ẩn để giữ chí. Trên dưới cùng giữ đạo Nhu thì có thể đạt hạnh phúc. Đó là ý “Nhu có thành tín, sáng sủa hanh thông, chính bền tốt lành, lợi cho việc vượt sông lớn”.
Xét toàn quẻ, Sơ cửu đi sau hai hào dương, có chí tiến nhưng lo gặp hiểm khó nên không dám tiến nhẹ nhàng. Cửu nhị là chủ của ba hào dương, vốn có thể tiến, nhưng vì hiểm của Khảm ở trước, sợ tiến sẽ mắc lỗi, nên ung dung chờ thời, đúng như câu “người quân tử ở trong Dịch mà chờ mệnh”. Cửu tam chồng cứng mà không trung, một mình tiến qua hiểm Khảm nên gây thành tai họa; chỉ cần kính cẩn thận trọng thì vẫn có thể không thất bại. Lục tứ ở gần Cửu ngũ, tuy có thể hết lòng trung thành nhưng thiếu tài năng phò tá cứu giúp, bị ba hào dương bên dưới nghi ngờ; khó tránh bị thương, chỉ vừa đủ bảo toàn thân mạng. Cửu ngũ giữ đức cương kiện trung chính để chờ mệnh trời, thực hiện trọn đạo Nhu, nên tốt lành. Thượng lục ở cuối các hào, sự hãm hiểm đã đến cực điểm, không còn gì để chờ. Tuy có điều bất ngờ xảy đến, “kính trọng nó thì cuối cùng tốt lành”. Do đó biết rằng trong thời Nhu, ai biết nhẫn nại, giữ sự kính cẩn đều có thể tránh họa. Ý nghĩa của thời chờ đợi thật lớn lao biết bao!
Tượng truyện nói: Mây ở trên trời là Nhu. Người quân tử nhờ đó mà ăn uống, yến lạc.
Khảm ở trên, Càn ở dưới; khí âm dương chưa giao nhau nên không thành mưa. Mây ở trên trời tuy có điềm mưa, nhưng có thể tan đi rồi trời lại quang; cũng như người quân tử nuôi dưỡng tài đức, tuy muốn xuất thế để cứu giúp đời, nhưng phong vân chưa gặp nhau nên chưa thể ban rải ân trạch. Nếu oán trời trách người, vin vào vinh hoa để cầu tiến, đó là việc kẻ tiểu nhân không biết thời mệnh làm ra. “Ăn uống” không phải là xa xỉ, say sưa no nê, mà như Khổng Tử ăn rau thô uống nước, Nhan Hồi chỉ có một giỏ tre và một bầu nước. “Yến lạc” không phải là đắm mình trong hưởng lạc nhàn hạ, mà như sống bên xà nhà để đủ làm khúc bi ca, hay ở cổng nước Vệ mà có thể thong thả nghỉ ngơi. Vì có thể an theo địa vị mà hành động, không mong cầu điều bên ngoài, nên gọi là “ăn uống, yến lạc”. Tôi cho rằng thương nhân nước ta, khi việc kinh doanh tại địa phương không thuận lợi, ra nước ngoài, nhọc lòng nhọc sức tự lo áo cơm; đến khi nghe tin trong nước mất mùa tai họa, lại vận chuyển buôn bán lúa gạo ở hải ngoại để cứu đói, nhờ đó thu được lợi nhuận—đó cũng là một đạo chờ thời.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Nhu là chờ đợi. Mây ở trên trời, âm dương chưa giao, chưa thể khai chiến. Càn là người quân tử, cũng là võ nhân, nên thuộc về chủ tướng. Khảm là rượu, vì thế “ăn uống yến lạc” nói rằng trước khi hành quân phải chuẩn bị lương thực quân đội.
○ Hỏi về kinh doanh: Xem lời hào, có lẽ là việc vận chuyển lương thực để buôn bán, hoặc mở quán rượu. “Mây ở trên trời” nghĩa là mây ở trên nhưng mưa chưa xuống; có lẽ vốn liếng chưa tập hợp đủ, nên gọi là Nhu.
○ Hỏi về công danh: Gió mây chưa gặp nhau, vẫn còn phải chờ đợi.
○ Hỏi về bệnh tật: Nên điều chỉnh bằng ăn uống, giữ tâm an vui tự giải khuây; lâu ngày bệnh sẽ tự khỏi.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
Sơ cửu: Chờ ở ngoại ô. Lợi cho việc giữ bền lâu, không lỗi.
Sơ cửu: Chờ ở ngoại ô. Lợi cho việc giữ bền lâu, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Chờ ở ngoại ô” là không mạo hiểm tiến vào chỗ khó. “Lợi cho việc giữ bền lâu, không lỗi” vì chưa đánh mất lẽ thường.
“Giao” là nơi xa xôi hẻo lánh; Khảm là nước, là hiểm. “Chờ ở ngoại ô” nghĩa là đường phía trước bị nước Khảm ngăn trở, phải đợi nước sông rút xuống. Càn còn tượng kim loại, như người lữ khách mang kim loại trong mình mà giữa đường gặp nước, phải đình trệ. Ba hào của Càn đối với Khảm ở ngoại quái, tùy nơi ở xa gần mà đặt lời “ngoại ô”, “cát”, “bùn”, lấy tượng dần dần đến gần hiểm nguy. Hào này xa nước nhất, không dám tiến lên mạo hiểm, nên nói “chờ ở ngoại ô”; đó là đạo lý “nước nguy không vào, nước loạn không ở”. Tự cày ruộng nơi ngoại ô, không cầu gì ở đời, trải lâu mà không đổi tiết tháo, nên nói “lợi cho việc giữ bền lâu”. “Hằng” nghĩa là không biến đổi; “dùng hằng” là trước sau không thay đổi. Mối họa của Sơ cửu còn ở xa, nhưng biết nghĩ đến họa để phòng trước, thường giữ chính thì có thể tránh họa, nên nói “không lỗi”. Thể của hào này là Càn. Càn cương kiện, đạo của nó thường tiến lên trên. Hơn nữa, Sơ cửu chính ứng với Lục tứ; nếu vội vàng tìm đến sự ứng hợp ấy thì ắt có nguy cơ mạo hiểm. Nay ở nơi ngoại ô xa xôi để chờ thời cơ, nên Tượng truyện nói “không mạo hiểm tiến vào chỗ khó”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào nói “chờ ở ngoại ô”, vậy nhất định phải đóng quân ở ngoại ô. Khảm là hiểm, là khó; tiến lên ắt có nguy hiểm, nên Tượng truyện nói “không mạo hiểm tiến vào chỗ khó”. Hào đầu là đầu quẻ, cho biết đây là lần đầu xuất quân. Có các chữ “hằng” và “nhu”, biết rằng nên chờ lâu. Giữ hằng rồi mới tiến thì ắt không lỗi.
○ Hỏi về công danh: Quẻ thuộc hào đầu, biết là người mới bắt đầu ra đời cầu danh. Giao là nơi cỏ hoang, “chờ ở giao” nghĩa là nên lui về ở nơi thôn dã. Hằng là lâu dài; “lợi về giữ hằng” nghĩa là nên chờ lâu rồi mới có thể xuất hiện mà được lợi. Tượng truyện nói “không phạm khó mà đi”, tức không dấn vào nguy nan; “chưa mất điều thường”, tức có thể giữ lòng bền vững. Vì vậy không lỗi.
○ Hỏi về kinh doanh: Đạo buôn bán lưu động lấy sự lâu bền làm lợi. “Chờ ở giao” cho biết phía trước ắt có hiểm nguy, nên tạm chất hàng ở ngoại ô, chờ thời rồi mới vận chuyển. Tượng truyện nói “chưa mất điều thường”, biết rằng hàng hóa không bị tổn thất.
○ Hỏi về bệnh tật: “Giao” là nơi đồng nội rộng rãi, nghĩa là nên ra ngoài thôn dã, sống thanh vắng để dưỡng bệnh. “Không lỗi” tức bệnh không gây hại.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Bạn tôi là ông Soda Kinsaku đến nói: Có một công ty, ai cũng bảo lợi nhuận rất lớn, tôi đang định vào công ty ấy; xin đoán cát hung tiền đồ. Bói được quẻ Nhu biến thành quẻ Tỉnh.
Lời đoán nói: Nội quái là Càn, Càn thuần dương thuộc Kim; ngoại quái là Khảm, Khảm thuộc Thủy, có tính rời chỗ cao mà đi xuống. Khảm lại là hiểm, cho biết công ty kia đã lập mưu nguy hiểm, quyên tiền của cổ đông, khiến tất cả người gia nhập đều rơi vào hiểm cảnh. Tuy nhiên, nếu ông quan sát hành động của công ty, xét kỹ thực hư, đợi đến khi hiểm họa lắng xuống rồi mới gia nhập, đó chính là tác dụng của quẻ Nhu. Thoán truyện nói: “Nhu nghĩa là chờ; hiểm ở phía trước, nhưng cương kiện mà không sa vào.” Lời hào đầu nói “chờ ở giao”. Giao là vùng ngoài thành; may là còn cách hiểm nguy khá xa. Nếu ông không bị dụ dỗ, không sa vào kế gian, giữ sự thận trọng không thay đổi, có thể nói là biết giữ đạo thường. Sau tháng Năm, công ty ấy nhất định gặp tai họa; những người đầu cơ đều rút lui, cổ phiếu cũng giảm giá. Khi đó mua cổ phiếu và gia nhập công ty, về sau vận thế công ty nhất định sẽ hưng thịnh lớn mạnh. Tượng hào là như vậy, nên tạm thời chờ cơ hội.
Kết quả đúng như lời đoán.
Tượng truyện nói: “Chờ ở ngoại ô” là không mạo hiểm tiến vào chỗ khó. “Lợi cho việc giữ bền lâu, không lỗi” vì chưa đánh mất lẽ thường.
“Giao” là nơi xa xôi hẻo lánh; Khảm là nước, là hiểm. “Chờ ở ngoại ô” nghĩa là đường phía trước bị nước Khảm ngăn trở, phải đợi nước sông rút xuống. Càn còn tượng kim loại, như người lữ khách mang kim loại trong mình mà giữa đường gặp nước, phải đình trệ. Ba hào của Càn đối với Khảm ở ngoại quái, tùy nơi ở xa gần mà đặt lời “ngoại ô”, “cát”, “bùn”, lấy tượng dần dần đến gần hiểm nguy. Hào này xa nước nhất, không dám tiến lên mạo hiểm, nên nói “chờ ở ngoại ô”; đó là đạo lý “nước nguy không vào, nước loạn không ở”. Tự cày ruộng nơi ngoại ô, không cầu gì ở đời, trải lâu mà không đổi tiết tháo, nên nói “lợi cho việc giữ bền lâu”. “Hằng” nghĩa là không biến đổi; “dùng hằng” là trước sau không thay đổi. Mối họa của Sơ cửu còn ở xa, nhưng biết nghĩ đến họa để phòng trước, thường giữ chính thì có thể tránh họa, nên nói “không lỗi”. Thể của hào này là Càn. Càn cương kiện, đạo của nó thường tiến lên trên. Hơn nữa, Sơ cửu chính ứng với Lục tứ; nếu vội vàng tìm đến sự ứng hợp ấy thì ắt có nguy cơ mạo hiểm. Nay ở nơi ngoại ô xa xôi để chờ thời cơ, nên Tượng truyện nói “không mạo hiểm tiến vào chỗ khó”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào nói “chờ ở ngoại ô”, vậy nhất định phải đóng quân ở ngoại ô. Khảm là hiểm, là khó; tiến lên ắt có nguy hiểm, nên Tượng truyện nói “không mạo hiểm tiến vào chỗ khó”. Hào đầu là đầu quẻ, cho biết đây là lần đầu xuất quân. Có các chữ “hằng” và “nhu”, biết rằng nên chờ lâu. Giữ hằng rồi mới tiến thì ắt không lỗi.
○ Hỏi về công danh: Quẻ thuộc hào đầu, biết là người mới bắt đầu ra đời cầu danh. Giao là nơi cỏ hoang, “chờ ở giao” nghĩa là nên lui về ở nơi thôn dã. Hằng là lâu dài; “lợi về giữ hằng” nghĩa là nên chờ lâu rồi mới có thể xuất hiện mà được lợi. Tượng truyện nói “không phạm khó mà đi”, tức không dấn vào nguy nan; “chưa mất điều thường”, tức có thể giữ lòng bền vững. Vì vậy không lỗi.
○ Hỏi về kinh doanh: Đạo buôn bán lưu động lấy sự lâu bền làm lợi. “Chờ ở giao” cho biết phía trước ắt có hiểm nguy, nên tạm chất hàng ở ngoại ô, chờ thời rồi mới vận chuyển. Tượng truyện nói “chưa mất điều thường”, biết rằng hàng hóa không bị tổn thất.
○ Hỏi về bệnh tật: “Giao” là nơi đồng nội rộng rãi, nghĩa là nên ra ngoài thôn dã, sống thanh vắng để dưỡng bệnh. “Không lỗi” tức bệnh không gây hại.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Bạn tôi là ông Soda Kinsaku đến nói: Có một công ty, ai cũng bảo lợi nhuận rất lớn, tôi đang định vào công ty ấy; xin đoán cát hung tiền đồ. Bói được quẻ Nhu biến thành quẻ Tỉnh.
Lời đoán nói: Nội quái là Càn, Càn thuần dương thuộc Kim; ngoại quái là Khảm, Khảm thuộc Thủy, có tính rời chỗ cao mà đi xuống. Khảm lại là hiểm, cho biết công ty kia đã lập mưu nguy hiểm, quyên tiền của cổ đông, khiến tất cả người gia nhập đều rơi vào hiểm cảnh. Tuy nhiên, nếu ông quan sát hành động của công ty, xét kỹ thực hư, đợi đến khi hiểm họa lắng xuống rồi mới gia nhập, đó chính là tác dụng của quẻ Nhu. Thoán truyện nói: “Nhu nghĩa là chờ; hiểm ở phía trước, nhưng cương kiện mà không sa vào.” Lời hào đầu nói “chờ ở giao”. Giao là vùng ngoài thành; may là còn cách hiểm nguy khá xa. Nếu ông không bị dụ dỗ, không sa vào kế gian, giữ sự thận trọng không thay đổi, có thể nói là biết giữ đạo thường. Sau tháng Năm, công ty ấy nhất định gặp tai họa; những người đầu cơ đều rút lui, cổ phiếu cũng giảm giá. Khi đó mua cổ phiếu và gia nhập công ty, về sau vận thế công ty nhất định sẽ hưng thịnh lớn mạnh. Tượng hào là như vậy, nên tạm thời chờ cơ hội.
Kết quả đúng như lời đoán.
Hào Cửu Nhị: Chờ ở bãi cát. Có đôi lời nhỏ nhặt; cuối cùng tốt lành.
Hào Cửu Nhị: Chờ ở bãi cát. Có đôi lời nhỏ nhặt; cuối cùng tốt lành.
Thoán truyện nói: Chờ ở bãi cát là vì trong lòng rộng rãi. Tuy có đôi lời nhỏ nhặt, nhưng cuối cùng kết thúc tốt lành.
“Cát” là nơi gần nước, còn xa hiểm hơn “bùn” của Cửu Tam, nhưng gần hơn “giao” của hào đầu quẻ Tỷ. “Có đôi lời nhỏ nhặt” là có tranh luận bằng lời. Trong lời Dịch, những hoạn nạn nhỏ gọi là “có đôi lời nhỏ nhặt”. Hào hai tiến hơn Sơ Cửu một bậc, dần dần đến gần hiểm, nên có tượng “chờ ở bãi cát”. Tuy có tài cương dương đủ vượt hiểm, bên trên không có quân trưởng ứng trợ, bên trong không có đồng liêu giúp đỡ; chỉ có thể ở vào sự mềm thuận, giữ trung, ung dung xử mình—đó là cái hay của Nhu. Nhưng vì dần gần hiểm, tuy chưa đến đại họa đã có tranh luận nhỏ; nên nói “có đôi lời nhỏ nhặt”. Quẻ hỗ là Đoài. Đoài là miệng, tượng lời vui; Khảm là lưỡi, tượng lời giận. Nghĩa là đối phương nói lời giận dữ nhưng ta có thể hòa giải, nên nói “cuối cùng tốt lành”. “Diễn” nghĩa là rộng rãi; trong lòng rộng, lại biết nhẫn nại, nên cuối cùng vượt qua được. Vì vậy Tượng truyện nói: “Chờ ở bãi cát là vì trong lòng rộng rãi. Tuy có đôi lời nhỏ nhặt, nhưng cuối cùng kết thúc tốt lành.” Lời hào biến đổi rồi đi đến thành tựu gọi là “cuối cùng”, lấy khởi đầu làm gốc mà hướng đến kết thúc. “Cuối cùng tốt lành” nghĩa là trước hung sau cát. Hào này biến thành quẻ Ký Tế, lời hào nói: “Người phụ nữ đánh mất khăn che mặt; chớ đuổi theo, bảy ngày sẽ tìm lại được.” Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa cuối cùng tốt lành.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Khảm tượng cho sự ẩn phục. Xét tượng hào, nên mai phục quân ở vùng sa mạc. Có thể vì gián điệp mà xảy ra sai lầm, chịu một thất bại nhỏ, nhưng cuối cùng nhất định tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Địa chi của hào hai là Dần, phía trên ứng với bốn sao Thiên Giang. Sử gia nói: “Thiên Giang sáng động thì nước lớn chưa đủ, cầu bến không thông.” Vì vậy hàng hóa không thể vận chuyển thông suốt, nên là “chờ ở bãi cát”; cát là bờ nước. Tuy có chút khẩu thiệt nhưng không gây hại cho việc kinh doanh, nên nói “cuối cùng tốt lành”.
○ Hỏi về thời vận: Chữ “sa” gồm nước và ít, là nơi ít nước, thuyền bè không thể đi qua. “Chờ ở bãi cát” cũng như nói thời vận không thể tiến triển. Địa chi của hào hai là Dần, phía trên ứng với sao Ky. Thi Vi nói: “Ky là miệng trời, chủ việc xuất khí.” “Có đôi lời nhỏ nhặt” là lời gièm pha. Nhưng cứ chờ đợi mà đối phó, nên cuối cùng tốt lành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Bạn tôi là ông Nagai Taijiro cho một thương nhân ở Hokkaido vay tiền. Người kia quá hạn mà chưa trả, ông gửi thư thúc giục nhưng không nhận được hồi âm, nên muốn tự mình đến đó và xin bói một quẻ. Bói được quẻ Nhu biến thành quẻ Ký Tế.
Lời đoán nói: Nhu là quẻ ngồi chờ thời, không nên tự mình tiến đến nơi đó. Thoán nói “có lòng tin”, từ đó biết người kia không cố ý trì hoãn, mà do công việc kinh doanh phát sinh nhiều rắc rối bất ngờ, phải bôn ba lo liệu nên không rảnh. Đó gọi là “có đôi lời nhỏ nhặt”. Sang tháng Tư, đến thời của hào năm, người kia nhất định có thể trả tiền; đó gọi là “cuối cùng tốt lành”.
Ông Nagai giữ theo lời đoán, không đi. Đến tháng Tư, quả nhiên sự việc đúng như lời đoán.
Thoán truyện nói: Chờ ở bãi cát là vì trong lòng rộng rãi. Tuy có đôi lời nhỏ nhặt, nhưng cuối cùng kết thúc tốt lành.
“Cát” là nơi gần nước, còn xa hiểm hơn “bùn” của Cửu Tam, nhưng gần hơn “giao” của hào đầu quẻ Tỷ. “Có đôi lời nhỏ nhặt” là có tranh luận bằng lời. Trong lời Dịch, những hoạn nạn nhỏ gọi là “có đôi lời nhỏ nhặt”. Hào hai tiến hơn Sơ Cửu một bậc, dần dần đến gần hiểm, nên có tượng “chờ ở bãi cát”. Tuy có tài cương dương đủ vượt hiểm, bên trên không có quân trưởng ứng trợ, bên trong không có đồng liêu giúp đỡ; chỉ có thể ở vào sự mềm thuận, giữ trung, ung dung xử mình—đó là cái hay của Nhu. Nhưng vì dần gần hiểm, tuy chưa đến đại họa đã có tranh luận nhỏ; nên nói “có đôi lời nhỏ nhặt”. Quẻ hỗ là Đoài. Đoài là miệng, tượng lời vui; Khảm là lưỡi, tượng lời giận. Nghĩa là đối phương nói lời giận dữ nhưng ta có thể hòa giải, nên nói “cuối cùng tốt lành”. “Diễn” nghĩa là rộng rãi; trong lòng rộng, lại biết nhẫn nại, nên cuối cùng vượt qua được. Vì vậy Tượng truyện nói: “Chờ ở bãi cát là vì trong lòng rộng rãi. Tuy có đôi lời nhỏ nhặt, nhưng cuối cùng kết thúc tốt lành.” Lời hào biến đổi rồi đi đến thành tựu gọi là “cuối cùng”, lấy khởi đầu làm gốc mà hướng đến kết thúc. “Cuối cùng tốt lành” nghĩa là trước hung sau cát. Hào này biến thành quẻ Ký Tế, lời hào nói: “Người phụ nữ đánh mất khăn che mặt; chớ đuổi theo, bảy ngày sẽ tìm lại được.” Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa cuối cùng tốt lành.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Khảm tượng cho sự ẩn phục. Xét tượng hào, nên mai phục quân ở vùng sa mạc. Có thể vì gián điệp mà xảy ra sai lầm, chịu một thất bại nhỏ, nhưng cuối cùng nhất định tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Địa chi của hào hai là Dần, phía trên ứng với bốn sao Thiên Giang. Sử gia nói: “Thiên Giang sáng động thì nước lớn chưa đủ, cầu bến không thông.” Vì vậy hàng hóa không thể vận chuyển thông suốt, nên là “chờ ở bãi cát”; cát là bờ nước. Tuy có chút khẩu thiệt nhưng không gây hại cho việc kinh doanh, nên nói “cuối cùng tốt lành”.
○ Hỏi về thời vận: Chữ “sa” gồm nước và ít, là nơi ít nước, thuyền bè không thể đi qua. “Chờ ở bãi cát” cũng như nói thời vận không thể tiến triển. Địa chi của hào hai là Dần, phía trên ứng với sao Ky. Thi Vi nói: “Ky là miệng trời, chủ việc xuất khí.” “Có đôi lời nhỏ nhặt” là lời gièm pha. Nhưng cứ chờ đợi mà đối phó, nên cuối cùng tốt lành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Bạn tôi là ông Nagai Taijiro cho một thương nhân ở Hokkaido vay tiền. Người kia quá hạn mà chưa trả, ông gửi thư thúc giục nhưng không nhận được hồi âm, nên muốn tự mình đến đó và xin bói một quẻ. Bói được quẻ Nhu biến thành quẻ Ký Tế.
Lời đoán nói: Nhu là quẻ ngồi chờ thời, không nên tự mình tiến đến nơi đó. Thoán nói “có lòng tin”, từ đó biết người kia không cố ý trì hoãn, mà do công việc kinh doanh phát sinh nhiều rắc rối bất ngờ, phải bôn ba lo liệu nên không rảnh. Đó gọi là “có đôi lời nhỏ nhặt”. Sang tháng Tư, đến thời của hào năm, người kia nhất định có thể trả tiền; đó gọi là “cuối cùng tốt lành”.
Ông Nagai giữ theo lời đoán, không đi. Đến tháng Tư, quả nhiên sự việc đúng như lời đoán.
Hào Cửu Tam: Chờ ở bùn, khiến giặc kéo đến.
Hào Cửu Tam: Chờ ở bùn, khiến giặc kéo đến.
Tượng truyện nói: Chờ ở bùn là vì tai họa ở bên ngoài. Tự mình khiến giặc đến; nếu kính cẩn thận trọng thì không thất bại.
“Bùn” là đất ẩm ở mép nước, tức vùng đất ven nước; “giặc” là tượng của Khảm, chỉ tai họa lớn. Ở Sơ Cửu, giao còn xa hiểm; ở Cửu Nhị, cát dần gần hiểm; đến Cửu Tam ở bùn thì thân đã chạm hiểm, họa ở ngay trước mắt. Hào này ở cực của quẻ Càn, quá cương mà không trung. Vì vậy khi hiểm nạn ở trước, lại không để tâm, cậy sức mình, thấy phía trên có ứng với mình, không phân biệt thời cơ, không xét tình hình, cứ một mực tiến liều để cứu hiểm họa phía trước. Không phải hiểm của Khảm đến bức người, mà người tự tiến đến gần hiểm, giống như nước không tự làm người chết đuối, mà người tự mạo hiểm đùa với nước rồi bị chìm. Vì vậy nói “khiến giặc kéo đến”. Tuy nhiên lúc này, nếu giữ lòng cẩn trọng, điềm đạm, đề phòng sai lầm do hành động khinh suất, sớm biết hối cải, vẫn có thể thoát tai họa. Tượng truyện nói “tai họa ở bên ngoài”, nghĩa là hiểm của Khảm nằm ở ngoại quái. “Bên ngoài” còn chỉ việc bất ngờ. Ta muốn cứu người kia mà trái lại bị người kia làm hại—đó là việc bất ngờ của Cửu Tam. Hơn nữa, không phải tai họa tự đến hại ta, mà ta tự đi chuốc lấy nó; vì vậy nói “tự mình khiến giặc đến”. Nếu biết kính cẩn thận trọng giữ mình, cân nhắc điều thích hợp rồi mới tiến, thì dù bị hiểm của Khảm bao vây, nó cũng không thể làm gì được ta, và ta tự nhiên không thất bại; vì vậy nói “kính cẩn thận trọng thì không thất bại”. Kẻ tranh danh thì bị hủy, kẻ tranh lợi thì bị cướp. Đó không phải tội của giặc, mà là tai họa tự mình chuốc lấy. Hào này biến thành quẻ Tiết, lời quẻ nói: “Không biết tiết chế thì than thở, nhưng không lỗi”; qua đó có thể thấy ý nghĩa của kính cẩn thận trọng. Lại nữa, Cửu Tam và Lục Tứ tuy âm dương ở cạnh nhau, nhưng không giúp nhau mà ngược lại làm hại nhau. Trong Dịch, kiểu quan hệ này gọi là “hại tỷ”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Cửu Tam ở cuối nội quái, sát với ngoại quái. Khảm là giặc, cũng là tai họa, nên nói “tai họa ở bên ngoài”. Kẻ địch đến xâm phạm gọi là “giặc đến”; tự mình đi chiêu dụ địch gọi là “khiến giặc kéo đến”. Nhất định phải thận trọng giữ mình, trước hết đứng ở nơi không thể thất bại.
○ Hỏi về kinh doanh: “Bùn” là câu nệ, cố chấp. Nghề buôn bán lưu động nên linh hoạt, không nên cố chấp. Nếu câu nệ không biến thông, bên trong sinh nghi kỵ, bên ngoài phát sinh biến cố. Cất giấu lỏng lẻo thì chiêu dụ hải tặc, chính là tự mình khiến giặc đến. Sao có thể không thận trọng?
○ Hỏi về công danh: Lời hào nói “chờ ở bùn”; bùn là lớp bùn nhơ ven nước. Chờ ở đó ắt sẽ bị cuốn xuống dòng dưới, khó mong vươn lên cao. Không thất bại cũng chỉ là miễn cưỡng thoát được.
○ Hỏi về hôn nhân: Kinh Dịch nói giặc cướp cùng với việc kết hôn, nghĩa là đã có giặc thì nhất định không thể thành hôn, đó là đôi vợ chồng oán ghét nhau. “Chờ ở bùn lầy” là tượng không tiến lên; xét về hôn sự thì ắt không thành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Khi bị giam tại đảo Tsukuda, tôi đã gieo quẻ hỏi về số phận của Nishimura Mase và hai người khác, trong đó có tôi.
Khi tôi bị đày đến đảo Tsukuda, tôi đặc biệt thân thiết với hai bạn tù là Nishimura Katsuzo và Sanrai Shuzo. Một hôm, hai người thở dài nói: “Chúng ta có một việc lớn khó khăn, phải cùng nhau bàn bạc tính kế.” Tôi hỏi nguyên do, họ đáp: “Trước đây ở nơi lao dịch có một cuộc họp lớn, hai chúng tôi bị sai đi phục vụ. Công việc nhiều, bàn bạc kéo dài; đến đêm dần dần giải tán, chúng tôi bèn lén hỏi họ đã bàn việc gì. Có người nói các viên chức ngục đang bàn rằng: hiện nay dầu cải rẻ mà hạt cải đắt; mua hạt cải giá cao để chế dầu giá thấp chỉ khiến phạm nhân lao dịch làm việc uổng công, lại bị tổn thất. Từ nay nên bỏ việc ép dầu, dùng những phạm nhân này xây dựng xưởng đóng tàu Yokosuka. Trong số phạm nhân, Kaeemon giỏi chỉ huy, giao cho việc chỉ huy; Katsuzo giỏi tính toán, giao việc tính toán; Shuzo giỏi y thuật, cho khám chữa bệnh cho phạm nhân. Đó cũng là kế sách tốt hiện nay. Hơn nữa, xét kỹ ba người này, ai cũng có một tật riêng, không thể xem như người bình thường. Ngày khác nếu được thả, e sẽ gây ra chuyện khác rồi lại rơi vào lao ngục, khiến tội chồng thêm tội. Điều ấy cũng đáng thương; chi bằng cứ giam giữ lâu dài, sai đi làm công trình để khỏi phát sinh tai họa khác, cũng là một cách nhân từ.” Cuộc họp đại ý như vậy. Sở dĩ các viên chức ngục đề nghị thế, có lẽ vì theo lệ nhà Mạc phủ, một nửa thu nhập của công sở được tính là khoản lợi từ lao dịch, còn lại một nửa số đó do viên lại lấy mà tích trữ. Nếu việc này được thi hành, tai họa của ba chúng tôi sẽ không nhỏ. Xin ông gieo quẻ cho chúng tôi.” Bèn trước hết gieo quẻ cho Katsuzo, được quẻ Nhu biến thành quẻ Tiết.
Đoán rằng: Nhu nghĩa là chờ đợi. Trước mặt là cái hiểm của nước, bên trên có sức mạnh cứng cỏi của trời đối diện; đây là quẻ muốn vượt nước nhưng không tiến nhẹ dạ. Lời quẻ nói: “Chờ ở bùn lầy, khiến giặc cướp kéo đến.” Hào Cửu tam ở cuối nội quái, gần cái hiểm của nước thuộc ngoại quái nhất, có thể gọi là nơi nguy hiểm. Tượng truyện giải rằng: “Tai họa ở bên ngoài.” Tai họa này không phải việc Yokosuka; chữ “ở bên ngoài” ắt chỉ một nguyên nhân khác gây ra. Ông là người lo xa, không phạm pháp để trốn lao dịch, ắt cũng không tái phạm tội khác. Vậy tai họa của ông có lẽ là bệnh chăng? Nếu mắc bệnh, ông phải tự biết quý trọng bản thân. Tượng truyện nói: “Tự mình đưa giặc đến; kính cẩn thận trọng thì không thất bại.”
Tiếp đó gieo quẻ cho Shuzo, được quẻ Đỉnh biến thành quẻ Lữ.
Hào từ nói: “Đỉnh có vật chứa. Kẻ đối địch của ta mắc bệnh, có điều ta có thể lập tức làm được. Tốt lành.”
Đoán rằng: Tốt lành. Đỉnh là vật nặng, không thể dễ dàng lay chuyển, huống hồ bên trong còn có vật chứa. Hơn nữa, gió biến thành núi; núi là thứ đứng yên, không dời đổi, nên biết thân người ấy vẫn không hề chuyển động. Kẻ muốn lay chuyển ta chính là “kẻ đối địch của ta”. Nay nói “kẻ đối địch của ta mắc bệnh, không thể đến gần ta”; “mắc bệnh” nghĩa là không có sức, vậy rõ ràng hắn không thể lay chuyển ta. Việc Yokosuka không đáng phải lo.
Cuối cùng gieo quẻ cho tôi, được quẻ Cấn biến thành quẻ Tiệm.
Hào từ nói: “Giữ yên nơi má; lời nói có thứ tự thì hối tiếc tiêu tan.”
Tôi bối rối trước lời này, suy xét kỹ rất lâu, rồi mới ngộ ra rằng “phụ” là má và miệng; “giữ yên nơi má” nghĩa là không nói năng càn quấy. Câu dưới nói: “Lời nói có thứ tự thì hối tiếc tiêu tan.” Về sau tôi ắt sẽ có được sự mạch lạc trong lời nói, được người ở trên nhận biết và có thể được miễn tội.
Lời đoán tuy như vậy, nhưng lúc ấy tôi vẫn chưa biết về sau sẽ ứng nghiệm ra sao. Sau đó Katsuzo quả nhiên mắc bệnh ở chân, gần như rơi vào tình trạng nguy kịch, nhưng nhờ Shuzo thận trọng chăm nom nên đã khỏi. Shuzo bị cách chức viên lại, việc ở Yokosuka cũng bị bãi bỏ, và tất cả chúng tôi đều được ân xá. Tôi còn gieo quẻ hỏi về tình cảnh của viên lại Wada Juichiro; vì sự việc xét ra hợp lý, ông ta được giảm và tha khi đã chấp hành được một nửa thời hạn.
【Ví dụ】 Tháng năm năm Minh Trị thứ 27, cuộc loạn của đảng Đông Học bùng nổ ở Triều Tiên. Nhật Bản và nhà Thanh có Điều ước Thiên Tân, ngày 6 tháng 6 Nhật Bản phái quân đi, đến ngày 23 quân Triều Tiên giao chiến với quân Nhật. Vì việc này hoàn toàn theo mệnh lệnh của chính phủ nhà Thanh, nên xuất hiện điềm báo Nhật Bản sẽ khai chiến với nhà Thanh. Gieo quẻ được Nhu biến thành Tiết.
Đoán rằng: Quẻ này có tượng nước ở trên trời; mây đen phủ trời, thế sắp mưa, chờ đúng thời mà hành động thì ắt lập được công. Lấy nội quái làm Nhật Bản: cưỡi trên sức mạnh của dương, đang chuẩn bị tiến lên. Lấy ngoại quái làm nhà Thanh: dựng cái hiểm của nước để hãm ta. Nhưng ta cứng mạnh nên không bị hãm, không đến nỗi khốn cùng. Chờ đến thời hào năm thì có thể tiến quân, gọi là: “Nhu có lòng tin, sáng sủa hanh thông; chính thì tốt lành, ở ngôi trời mà giữ được chính giữa.” “Ngôi trời” chỉ thời của Cửu ngũ; “lợi về việc vượt sông lớn” nghĩa là hải quân ắt thu lợi; “đi tới thì có công” nghĩa là lục quân ắt thành công. Trong quẻ này, âm dương của hào năm và hào sáu đều được đúng vị, là tượng được thiên thời; hào ba lấy dương đến với âm, hào bốn lấy âm theo sau dương, là tượng được nhân hòa. Chỉ có hào hai, dương ở ngôi âm, nên rất thiếu địa lợi. Lần này gieo được hào ba, ứng với tháng sáu năm nay, khi đã hướng về vùng đất nguy hiểm, gọi là “chờ ở bùn lầy”. Truyện nói: “Tự mình đưa giặc đến; kính cẩn thận trọng thì không thất bại.” “Chờ ở bùn lầy” nghĩa là tiến lui không được như ý; “tự mình đưa giặc đến” nghĩa là tự mình tiến vào. Hào bốn ứng với tháng bảy, lời hào nói: “Chờ ở máu, ra khỏi hang.” Hào này ở giữa hào ba và hào năm, có tượng lửa; đó là tượng lửa từ hang thoát ra và thấy máu, nên phải đề phòng địa lôi. Trong vòng bốn mươi ngày, cần chọn địa điểm trọng yếu để đóng quân, khiến địch không thể tập kích ta. Đầu tháng tám, nương vận khí của hào năm, có thể một phen lập đại công.
Nhìn theo chiều ngược lại, quẻ này cho thấy vận khí của nhà Thanh chuyển từ hạ quái của Nhu sang quẻ Tụng, như sau:
Thoán từ nói: “Tụng: có lòng tin nhưng bị ngăn trở và lo sợ; giữ được trung thì tốt lành, đến cuối thì hung. Lợi về gặp bậc đại nhân, không lợi về vượt sông lớn.”
Thoán truyện nói: “Tụng, trên cứng dưới hiểm; hiểm mà mạnh thì là Tụng. ‘Tụng có lòng tin nhưng bị ngăn trở và lo sợ, giữ được trung thì tốt lành’ nghĩa là cái cứng đến và được trung. ‘Đến cuối thì hung’ nghĩa là tranh tụng không thể làm cho thành công. ‘Lợi về gặp bậc đại nhân’ nghĩa là tôn trọng điều trung chính. ‘Không lợi về vượt sông lớn’ nghĩa là rơi xuống vực sâu.”
Trong quẻ này, thượng quái là trời, tượng cho Nhật Bản; hạ quái là nước, tượng cho nhà Thanh. Khí trời bay lên, nước chảy xuống chỗ hiểm, có thể thấy điều đó qua quẻ tượng. Trời cứng mạnh và có uy, nước chìm xuống biểu thị nguy hiểm gian nan. Nhưng khi lâm cảnh khốn cùng thì muốn phấn chấn vươn lên, muốn dựa vào lời công luận để tranh biện phải trái, vì thế được quẻ Tụng. Nhà Thanh gặp vận nghịch này, mọi mưu kế sách lược đều không thành, gọi là “Tụng có lòng tin nhưng bị ngăn trở”. Thiên vận như vậy nên nói “giữa thì tốt lành, cuối thì hung”. Hơn nữa, thời của Tụng không phải thời làm thành sự việc, nên nói “tranh tụng không thể thành”. Tuy nhiên đến thời hào năm, nếu xử lý công việc theo ý của bậc đại nhân thì có thể được, nên nói “lợi về gặp bậc đại nhân”. Lại nữa, dùng hải quân trong quẻ này sẽ đại bại, có nguy cơ chiến hạm bị chìm, nên nói “không lợi về vượt sông lớn, rơi vào vực sâu.”
Lời đoán này được trình lên một vị quý hiển ở Bộ Tổng tham mưu, và ngày 28 tháng ấy được đăng trên cả Quốc Dân Tân Văn và Báo Tri Tân Văn. Nhật Bản gặp vận thịnh của quẻ Nhu; sau bốn mươi ngày, lục quân thắng các trận Nha Sơn và Thành Hoan, hải quân cũng đại thắng ở Phong Đảo và Hoàng Hải. Nhà Thanh gặp vận nghịch của quẻ Tụng; lục quân đại bại ở Nha Sơn và Bình Nhưỡng, đến cả chiến hạm cũng bị đánh chìm. Lời “rơi vào vực sâu” quả không sai. Tính từ sau khi gieo quẻ, đúng ngày thứ ba mươi chín đã giành đại thắng. Hơn nữa, kết cục cuộc chiến ứng với hào Thượng lục của quẻ Nhu: “Ba vị khách không mời mà đến; kính trọng họ thì cuối cùng tốt lành.” Quả nhiên sau đó sứ thần ba nước Nga, Anh và Mỹ đến bàn việc; nhờ kính trọng và tiếp nhận họ, cuối cùng đã được tốt lành.
Tượng truyện nói: Chờ ở bùn là vì tai họa ở bên ngoài. Tự mình khiến giặc đến; nếu kính cẩn thận trọng thì không thất bại.
“Bùn” là đất ẩm ở mép nước, tức vùng đất ven nước; “giặc” là tượng của Khảm, chỉ tai họa lớn. Ở Sơ Cửu, giao còn xa hiểm; ở Cửu Nhị, cát dần gần hiểm; đến Cửu Tam ở bùn thì thân đã chạm hiểm, họa ở ngay trước mắt. Hào này ở cực của quẻ Càn, quá cương mà không trung. Vì vậy khi hiểm nạn ở trước, lại không để tâm, cậy sức mình, thấy phía trên có ứng với mình, không phân biệt thời cơ, không xét tình hình, cứ một mực tiến liều để cứu hiểm họa phía trước. Không phải hiểm của Khảm đến bức người, mà người tự tiến đến gần hiểm, giống như nước không tự làm người chết đuối, mà người tự mạo hiểm đùa với nước rồi bị chìm. Vì vậy nói “khiến giặc kéo đến”. Tuy nhiên lúc này, nếu giữ lòng cẩn trọng, điềm đạm, đề phòng sai lầm do hành động khinh suất, sớm biết hối cải, vẫn có thể thoát tai họa. Tượng truyện nói “tai họa ở bên ngoài”, nghĩa là hiểm của Khảm nằm ở ngoại quái. “Bên ngoài” còn chỉ việc bất ngờ. Ta muốn cứu người kia mà trái lại bị người kia làm hại—đó là việc bất ngờ của Cửu Tam. Hơn nữa, không phải tai họa tự đến hại ta, mà ta tự đi chuốc lấy nó; vì vậy nói “tự mình khiến giặc đến”. Nếu biết kính cẩn thận trọng giữ mình, cân nhắc điều thích hợp rồi mới tiến, thì dù bị hiểm của Khảm bao vây, nó cũng không thể làm gì được ta, và ta tự nhiên không thất bại; vì vậy nói “kính cẩn thận trọng thì không thất bại”. Kẻ tranh danh thì bị hủy, kẻ tranh lợi thì bị cướp. Đó không phải tội của giặc, mà là tai họa tự mình chuốc lấy. Hào này biến thành quẻ Tiết, lời quẻ nói: “Không biết tiết chế thì than thở, nhưng không lỗi”; qua đó có thể thấy ý nghĩa của kính cẩn thận trọng. Lại nữa, Cửu Tam và Lục Tứ tuy âm dương ở cạnh nhau, nhưng không giúp nhau mà ngược lại làm hại nhau. Trong Dịch, kiểu quan hệ này gọi là “hại tỷ”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Cửu Tam ở cuối nội quái, sát với ngoại quái. Khảm là giặc, cũng là tai họa, nên nói “tai họa ở bên ngoài”. Kẻ địch đến xâm phạm gọi là “giặc đến”; tự mình đi chiêu dụ địch gọi là “khiến giặc kéo đến”. Nhất định phải thận trọng giữ mình, trước hết đứng ở nơi không thể thất bại.
○ Hỏi về kinh doanh: “Bùn” là câu nệ, cố chấp. Nghề buôn bán lưu động nên linh hoạt, không nên cố chấp. Nếu câu nệ không biến thông, bên trong sinh nghi kỵ, bên ngoài phát sinh biến cố. Cất giấu lỏng lẻo thì chiêu dụ hải tặc, chính là tự mình khiến giặc đến. Sao có thể không thận trọng?
○ Hỏi về công danh: Lời hào nói “chờ ở bùn”; bùn là lớp bùn nhơ ven nước. Chờ ở đó ắt sẽ bị cuốn xuống dòng dưới, khó mong vươn lên cao. Không thất bại cũng chỉ là miễn cưỡng thoát được.
○ Hỏi về hôn nhân: Kinh Dịch nói giặc cướp cùng với việc kết hôn, nghĩa là đã có giặc thì nhất định không thể thành hôn, đó là đôi vợ chồng oán ghét nhau. “Chờ ở bùn lầy” là tượng không tiến lên; xét về hôn sự thì ắt không thành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Khi bị giam tại đảo Tsukuda, tôi đã gieo quẻ hỏi về số phận của Nishimura Mase và hai người khác, trong đó có tôi.
Khi tôi bị đày đến đảo Tsukuda, tôi đặc biệt thân thiết với hai bạn tù là Nishimura Katsuzo và Sanrai Shuzo. Một hôm, hai người thở dài nói: “Chúng ta có một việc lớn khó khăn, phải cùng nhau bàn bạc tính kế.” Tôi hỏi nguyên do, họ đáp: “Trước đây ở nơi lao dịch có một cuộc họp lớn, hai chúng tôi bị sai đi phục vụ. Công việc nhiều, bàn bạc kéo dài; đến đêm dần dần giải tán, chúng tôi bèn lén hỏi họ đã bàn việc gì. Có người nói các viên chức ngục đang bàn rằng: hiện nay dầu cải rẻ mà hạt cải đắt; mua hạt cải giá cao để chế dầu giá thấp chỉ khiến phạm nhân lao dịch làm việc uổng công, lại bị tổn thất. Từ nay nên bỏ việc ép dầu, dùng những phạm nhân này xây dựng xưởng đóng tàu Yokosuka. Trong số phạm nhân, Kaeemon giỏi chỉ huy, giao cho việc chỉ huy; Katsuzo giỏi tính toán, giao việc tính toán; Shuzo giỏi y thuật, cho khám chữa bệnh cho phạm nhân. Đó cũng là kế sách tốt hiện nay. Hơn nữa, xét kỹ ba người này, ai cũng có một tật riêng, không thể xem như người bình thường. Ngày khác nếu được thả, e sẽ gây ra chuyện khác rồi lại rơi vào lao ngục, khiến tội chồng thêm tội. Điều ấy cũng đáng thương; chi bằng cứ giam giữ lâu dài, sai đi làm công trình để khỏi phát sinh tai họa khác, cũng là một cách nhân từ.” Cuộc họp đại ý như vậy. Sở dĩ các viên chức ngục đề nghị thế, có lẽ vì theo lệ nhà Mạc phủ, một nửa thu nhập của công sở được tính là khoản lợi từ lao dịch, còn lại một nửa số đó do viên lại lấy mà tích trữ. Nếu việc này được thi hành, tai họa của ba chúng tôi sẽ không nhỏ. Xin ông gieo quẻ cho chúng tôi.” Bèn trước hết gieo quẻ cho Katsuzo, được quẻ Nhu biến thành quẻ Tiết.
Đoán rằng: Nhu nghĩa là chờ đợi. Trước mặt là cái hiểm của nước, bên trên có sức mạnh cứng cỏi của trời đối diện; đây là quẻ muốn vượt nước nhưng không tiến nhẹ dạ. Lời quẻ nói: “Chờ ở bùn lầy, khiến giặc cướp kéo đến.” Hào Cửu tam ở cuối nội quái, gần cái hiểm của nước thuộc ngoại quái nhất, có thể gọi là nơi nguy hiểm. Tượng truyện giải rằng: “Tai họa ở bên ngoài.” Tai họa này không phải việc Yokosuka; chữ “ở bên ngoài” ắt chỉ một nguyên nhân khác gây ra. Ông là người lo xa, không phạm pháp để trốn lao dịch, ắt cũng không tái phạm tội khác. Vậy tai họa của ông có lẽ là bệnh chăng? Nếu mắc bệnh, ông phải tự biết quý trọng bản thân. Tượng truyện nói: “Tự mình đưa giặc đến; kính cẩn thận trọng thì không thất bại.”
Tiếp đó gieo quẻ cho Shuzo, được quẻ Đỉnh biến thành quẻ Lữ.
Hào từ nói: “Đỉnh có vật chứa. Kẻ đối địch của ta mắc bệnh, có điều ta có thể lập tức làm được. Tốt lành.”
Đoán rằng: Tốt lành. Đỉnh là vật nặng, không thể dễ dàng lay chuyển, huống hồ bên trong còn có vật chứa. Hơn nữa, gió biến thành núi; núi là thứ đứng yên, không dời đổi, nên biết thân người ấy vẫn không hề chuyển động. Kẻ muốn lay chuyển ta chính là “kẻ đối địch của ta”. Nay nói “kẻ đối địch của ta mắc bệnh, không thể đến gần ta”; “mắc bệnh” nghĩa là không có sức, vậy rõ ràng hắn không thể lay chuyển ta. Việc Yokosuka không đáng phải lo.
Cuối cùng gieo quẻ cho tôi, được quẻ Cấn biến thành quẻ Tiệm.
Hào từ nói: “Giữ yên nơi má; lời nói có thứ tự thì hối tiếc tiêu tan.”
Tôi bối rối trước lời này, suy xét kỹ rất lâu, rồi mới ngộ ra rằng “phụ” là má và miệng; “giữ yên nơi má” nghĩa là không nói năng càn quấy. Câu dưới nói: “Lời nói có thứ tự thì hối tiếc tiêu tan.” Về sau tôi ắt sẽ có được sự mạch lạc trong lời nói, được người ở trên nhận biết và có thể được miễn tội.
Lời đoán tuy như vậy, nhưng lúc ấy tôi vẫn chưa biết về sau sẽ ứng nghiệm ra sao. Sau đó Katsuzo quả nhiên mắc bệnh ở chân, gần như rơi vào tình trạng nguy kịch, nhưng nhờ Shuzo thận trọng chăm nom nên đã khỏi. Shuzo bị cách chức viên lại, việc ở Yokosuka cũng bị bãi bỏ, và tất cả chúng tôi đều được ân xá. Tôi còn gieo quẻ hỏi về tình cảnh của viên lại Wada Juichiro; vì sự việc xét ra hợp lý, ông ta được giảm và tha khi đã chấp hành được một nửa thời hạn.
【Ví dụ】 Tháng năm năm Minh Trị thứ 27, cuộc loạn của đảng Đông Học bùng nổ ở Triều Tiên. Nhật Bản và nhà Thanh có Điều ước Thiên Tân, ngày 6 tháng 6 Nhật Bản phái quân đi, đến ngày 23 quân Triều Tiên giao chiến với quân Nhật. Vì việc này hoàn toàn theo mệnh lệnh của chính phủ nhà Thanh, nên xuất hiện điềm báo Nhật Bản sẽ khai chiến với nhà Thanh. Gieo quẻ được Nhu biến thành Tiết.
Đoán rằng: Quẻ này có tượng nước ở trên trời; mây đen phủ trời, thế sắp mưa, chờ đúng thời mà hành động thì ắt lập được công. Lấy nội quái làm Nhật Bản: cưỡi trên sức mạnh của dương, đang chuẩn bị tiến lên. Lấy ngoại quái làm nhà Thanh: dựng cái hiểm của nước để hãm ta. Nhưng ta cứng mạnh nên không bị hãm, không đến nỗi khốn cùng. Chờ đến thời hào năm thì có thể tiến quân, gọi là: “Nhu có lòng tin, sáng sủa hanh thông; chính thì tốt lành, ở ngôi trời mà giữ được chính giữa.” “Ngôi trời” chỉ thời của Cửu ngũ; “lợi về việc vượt sông lớn” nghĩa là hải quân ắt thu lợi; “đi tới thì có công” nghĩa là lục quân ắt thành công. Trong quẻ này, âm dương của hào năm và hào sáu đều được đúng vị, là tượng được thiên thời; hào ba lấy dương đến với âm, hào bốn lấy âm theo sau dương, là tượng được nhân hòa. Chỉ có hào hai, dương ở ngôi âm, nên rất thiếu địa lợi. Lần này gieo được hào ba, ứng với tháng sáu năm nay, khi đã hướng về vùng đất nguy hiểm, gọi là “chờ ở bùn lầy”. Truyện nói: “Tự mình đưa giặc đến; kính cẩn thận trọng thì không thất bại.” “Chờ ở bùn lầy” nghĩa là tiến lui không được như ý; “tự mình đưa giặc đến” nghĩa là tự mình tiến vào. Hào bốn ứng với tháng bảy, lời hào nói: “Chờ ở máu, ra khỏi hang.” Hào này ở giữa hào ba và hào năm, có tượng lửa; đó là tượng lửa từ hang thoát ra và thấy máu, nên phải đề phòng địa lôi. Trong vòng bốn mươi ngày, cần chọn địa điểm trọng yếu để đóng quân, khiến địch không thể tập kích ta. Đầu tháng tám, nương vận khí của hào năm, có thể một phen lập đại công.
Nhìn theo chiều ngược lại, quẻ này cho thấy vận khí của nhà Thanh chuyển từ hạ quái của Nhu sang quẻ Tụng, như sau:
Thoán từ nói: “Tụng: có lòng tin nhưng bị ngăn trở và lo sợ; giữ được trung thì tốt lành, đến cuối thì hung. Lợi về gặp bậc đại nhân, không lợi về vượt sông lớn.”
Thoán truyện nói: “Tụng, trên cứng dưới hiểm; hiểm mà mạnh thì là Tụng. ‘Tụng có lòng tin nhưng bị ngăn trở và lo sợ, giữ được trung thì tốt lành’ nghĩa là cái cứng đến và được trung. ‘Đến cuối thì hung’ nghĩa là tranh tụng không thể làm cho thành công. ‘Lợi về gặp bậc đại nhân’ nghĩa là tôn trọng điều trung chính. ‘Không lợi về vượt sông lớn’ nghĩa là rơi xuống vực sâu.”
Trong quẻ này, thượng quái là trời, tượng cho Nhật Bản; hạ quái là nước, tượng cho nhà Thanh. Khí trời bay lên, nước chảy xuống chỗ hiểm, có thể thấy điều đó qua quẻ tượng. Trời cứng mạnh và có uy, nước chìm xuống biểu thị nguy hiểm gian nan. Nhưng khi lâm cảnh khốn cùng thì muốn phấn chấn vươn lên, muốn dựa vào lời công luận để tranh biện phải trái, vì thế được quẻ Tụng. Nhà Thanh gặp vận nghịch này, mọi mưu kế sách lược đều không thành, gọi là “Tụng có lòng tin nhưng bị ngăn trở”. Thiên vận như vậy nên nói “giữa thì tốt lành, cuối thì hung”. Hơn nữa, thời của Tụng không phải thời làm thành sự việc, nên nói “tranh tụng không thể thành”. Tuy nhiên đến thời hào năm, nếu xử lý công việc theo ý của bậc đại nhân thì có thể được, nên nói “lợi về gặp bậc đại nhân”. Lại nữa, dùng hải quân trong quẻ này sẽ đại bại, có nguy cơ chiến hạm bị chìm, nên nói “không lợi về vượt sông lớn, rơi vào vực sâu.”
Lời đoán này được trình lên một vị quý hiển ở Bộ Tổng tham mưu, và ngày 28 tháng ấy được đăng trên cả Quốc Dân Tân Văn và Báo Tri Tân Văn. Nhật Bản gặp vận thịnh của quẻ Nhu; sau bốn mươi ngày, lục quân thắng các trận Nha Sơn và Thành Hoan, hải quân cũng đại thắng ở Phong Đảo và Hoàng Hải. Nhà Thanh gặp vận nghịch của quẻ Tụng; lục quân đại bại ở Nha Sơn và Bình Nhưỡng, đến cả chiến hạm cũng bị đánh chìm. Lời “rơi vào vực sâu” quả không sai. Tính từ sau khi gieo quẻ, đúng ngày thứ ba mươi chín đã giành đại thắng. Hơn nữa, kết cục cuộc chiến ứng với hào Thượng lục của quẻ Nhu: “Ba vị khách không mời mà đến; kính trọng họ thì cuối cùng tốt lành.” Quả nhiên sau đó sứ thần ba nước Nga, Anh và Mỹ đến bàn việc; nhờ kính trọng và tiếp nhận họ, cuối cùng đã được tốt lành.
Lục tứ: Chờ ở máu, ra khỏi hang.[33]
Lục tứ: Chờ ở máu, ra khỏi hang.[33]
Tượng truyện nói: “Chờ ở máu là thuận theo mà lắng nghe.”
Âm của Thủy là tượng của máu, cái hiểm của Thủy là tượng của hang. Hào này cùng với Thượng lục nói đến hang vì thể quẻ là Thủy. Máu là nơi giết chóc và thương tích, hang là chỗ hiểm và hãm. Hào này đi vào nơi hiểm của Thủy, nơi có sát thương, bị giặc làm bị thương, nên nói “chờ ở máu”. “Chờ ở máu” tiếp nối ý “khiến giặc đến” của hào trước. Lục tứ là âm chồng âm, tài lực yếu, ở đầu chỗ hiểm của Thủy. Với tư chất một âm mềm yếu, bị ba hào dương ép buộc, đứng trước trung tâm đại nạn, chỉ có thể thuận theo thời thế, không tranh với hiểm nạn. Dù chịu thương tích nhỏ, cũng không đến đại hung, cuối cùng thoát khỏi hiểm nguy. Lục tứ ở trên Cửu ngũ của quẻ Tỷ và được Cửu ngũ cứu giúp; thoát chín phần chết để được một phần sống, nên nói “ra khỏi hang”, cũng như Khổng Tử thoát vòng vây ở đất Khuông và Văn vương thoát nạn ở Dữu Lý. Mây từ đất bay lên trời, không gì không qua hang, nên có nghĩa “ra khỏi hang”. Hào này lại ở đầu ngoại quái, có tượng đi ra. Khi biến thành quẻ Quải, nó có nghĩa quyết liệt thoát ra. “Thuận theo mà lắng nghe” trong Tượng truyện nghĩa là có thể thuận theo lời dạy của Cửu ngũ. Thủy tượng cho tai, có tượng lắng nghe.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào bốn là đầu của Thủy; Thủy là quẻ của máu. “Chờ ở máu” nghĩa là bị thương trong chiến trận. “Ra khỏi hang” nghĩa là tuy bị thương nhưng vẫn có thể thoát khỏi hiểm nguy. Sở dĩ thoát hiểm không phải nhờ tranh đấu mạnh mẽ, mà nhờ thuận theo và lắng nghe; thuận theo thì tránh được họa.
○ Hỏi về gia trạch: “Chờ ở máu, ra khỏi hang” là tượng ra khỏi hang sâu tối tăm, chuyển đến cây cao. Thuận nghĩa là gia đạo thuận hòa. Tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Xét lời hào, hẳn là việc khai thác khoáng sản. “Ra khỏi hang” thì sẽ thu được lợi.
○ Hỏi về công danh: Phải dốc cạn tâm huyết mới có thể vươn lên hơn người, vì thế có tượng Nhu “chờ trong máu rồi ra khỏi hang”.
○ Hỏi về bệnh tật: Có lẽ là chứng thổ huyết. Phải điều dưỡng khí huyết, khiến âm dương hòa thuận, tự nhiên sẽ thoát hiểm và giữ được mạng sống.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai. Tuy có chút hiểm nguy và khó khăn, cuối cùng vẫn sinh nở an toàn.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 19, một người quen là tiến sĩ công học người Anh đến nói với tôi: “Tôi có một con gái, là vợ của một viên thư ký thuộc công sứ quán Pháp. Nay nó sắp sinh nhưng gặp chứng khó sinh, tính mạng nguy cấp từng giờ. Mong ông gieo một quẻ để đoán lành dữ.” Gieo quẻ được Nhu biến thành Quải.
Đoán rằng: Nhu nghĩa là chờ đợi, trong mọi việc lấy sự chờ đợi làm nghĩa chính. Nay đang gặp khó sinh, chỉ còn cách chờ cho việc sinh nở tiến triển nhanh chóng. Hào từ nói Nhu, cho thấy không thể thúc ép sinh nhanh. Đến Cửu ngũ vẫn còn có thể chờ, nhưng tới Thượng lục thì không còn gì để chờ nữa. Hiểu được lý của Kinh Dịch và ứng với sự biến đổi của việc này, chỉ còn cách tìm phương pháp điều trị khác. Lấy toàn quẻ tượng cho thân thể người sản phụ, Cửu tam ở vị trí đường sinh; nếu hào dương biến thành âm thì có ý sinh nở an toàn. Nhưng lần này gieo được Lục tứ âm; âm nhu ở chỗ hiểm, rõ ràng là tượng khó sinh. Hơn nữa, vị trí hào bốn ứng với bụng, có tượng rạch mở bụng người mẹ. Vì sao? Chữ “máu” trong “chờ ở máu” không phải máu sinh mà là máu tươi; chữ “hang” trong “ra khỏi hang” không phải đường sinh mà là vết rạch. Nên mời bác sĩ ngoại khoa, thi hành một phương pháp đặc biệt. Nếu chỉ dựa vào điềm tốt của rượu và thức ăn ở Cửu ngũ, lần lữa không chữa trị mà chờ sinh, e rằng đến lúc Thượng hào “vào trong hang” thì cả mẹ lẫn con đều khó cứu. Tượng hào đã rõ: phải nhanh chóng dùng biện pháp cấp cứu để bảo đảm an toàn cho sản phụ.
Nghe lời đoán này, ông ta hết sức mừng rỡ, lập tức báo cho bác sĩ. Bác sĩ rạch bụng để lấy con ra; đứa trẻ tuy chết nhưng người mẹ may mắn được bảo toàn tính mạng.
Tượng truyện nói: “Chờ ở máu là thuận theo mà lắng nghe.”
Âm của Thủy là tượng của máu, cái hiểm của Thủy là tượng của hang. Hào này cùng với Thượng lục nói đến hang vì thể quẻ là Thủy. Máu là nơi giết chóc và thương tích, hang là chỗ hiểm và hãm. Hào này đi vào nơi hiểm của Thủy, nơi có sát thương, bị giặc làm bị thương, nên nói “chờ ở máu”. “Chờ ở máu” tiếp nối ý “khiến giặc đến” của hào trước. Lục tứ là âm chồng âm, tài lực yếu, ở đầu chỗ hiểm của Thủy. Với tư chất một âm mềm yếu, bị ba hào dương ép buộc, đứng trước trung tâm đại nạn, chỉ có thể thuận theo thời thế, không tranh với hiểm nạn. Dù chịu thương tích nhỏ, cũng không đến đại hung, cuối cùng thoát khỏi hiểm nguy. Lục tứ ở trên Cửu ngũ của quẻ Tỷ và được Cửu ngũ cứu giúp; thoát chín phần chết để được một phần sống, nên nói “ra khỏi hang”, cũng như Khổng Tử thoát vòng vây ở đất Khuông và Văn vương thoát nạn ở Dữu Lý. Mây từ đất bay lên trời, không gì không qua hang, nên có nghĩa “ra khỏi hang”. Hào này lại ở đầu ngoại quái, có tượng đi ra. Khi biến thành quẻ Quải, nó có nghĩa quyết liệt thoát ra. “Thuận theo mà lắng nghe” trong Tượng truyện nghĩa là có thể thuận theo lời dạy của Cửu ngũ. Thủy tượng cho tai, có tượng lắng nghe.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào bốn là đầu của Thủy; Thủy là quẻ của máu. “Chờ ở máu” nghĩa là bị thương trong chiến trận. “Ra khỏi hang” nghĩa là tuy bị thương nhưng vẫn có thể thoát khỏi hiểm nguy. Sở dĩ thoát hiểm không phải nhờ tranh đấu mạnh mẽ, mà nhờ thuận theo và lắng nghe; thuận theo thì tránh được họa.
○ Hỏi về gia trạch: “Chờ ở máu, ra khỏi hang” là tượng ra khỏi hang sâu tối tăm, chuyển đến cây cao. Thuận nghĩa là gia đạo thuận hòa. Tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Xét lời hào, hẳn là việc khai thác khoáng sản. “Ra khỏi hang” thì sẽ thu được lợi.
○ Hỏi về công danh: Phải dốc cạn tâm huyết mới có thể vươn lên hơn người, vì thế có tượng Nhu “chờ trong máu rồi ra khỏi hang”.
○ Hỏi về bệnh tật: Có lẽ là chứng thổ huyết. Phải điều dưỡng khí huyết, khiến âm dương hòa thuận, tự nhiên sẽ thoát hiểm và giữ được mạng sống.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai. Tuy có chút hiểm nguy và khó khăn, cuối cùng vẫn sinh nở an toàn.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 19, một người quen là tiến sĩ công học người Anh đến nói với tôi: “Tôi có một con gái, là vợ của một viên thư ký thuộc công sứ quán Pháp. Nay nó sắp sinh nhưng gặp chứng khó sinh, tính mạng nguy cấp từng giờ. Mong ông gieo một quẻ để đoán lành dữ.” Gieo quẻ được Nhu biến thành Quải.
Đoán rằng: Nhu nghĩa là chờ đợi, trong mọi việc lấy sự chờ đợi làm nghĩa chính. Nay đang gặp khó sinh, chỉ còn cách chờ cho việc sinh nở tiến triển nhanh chóng. Hào từ nói Nhu, cho thấy không thể thúc ép sinh nhanh. Đến Cửu ngũ vẫn còn có thể chờ, nhưng tới Thượng lục thì không còn gì để chờ nữa. Hiểu được lý của Kinh Dịch và ứng với sự biến đổi của việc này, chỉ còn cách tìm phương pháp điều trị khác. Lấy toàn quẻ tượng cho thân thể người sản phụ, Cửu tam ở vị trí đường sinh; nếu hào dương biến thành âm thì có ý sinh nở an toàn. Nhưng lần này gieo được Lục tứ âm; âm nhu ở chỗ hiểm, rõ ràng là tượng khó sinh. Hơn nữa, vị trí hào bốn ứng với bụng, có tượng rạch mở bụng người mẹ. Vì sao? Chữ “máu” trong “chờ ở máu” không phải máu sinh mà là máu tươi; chữ “hang” trong “ra khỏi hang” không phải đường sinh mà là vết rạch. Nên mời bác sĩ ngoại khoa, thi hành một phương pháp đặc biệt. Nếu chỉ dựa vào điềm tốt của rượu và thức ăn ở Cửu ngũ, lần lữa không chữa trị mà chờ sinh, e rằng đến lúc Thượng hào “vào trong hang” thì cả mẹ lẫn con đều khó cứu. Tượng hào đã rõ: phải nhanh chóng dùng biện pháp cấp cứu để bảo đảm an toàn cho sản phụ.
Nghe lời đoán này, ông ta hết sức mừng rỡ, lập tức báo cho bác sĩ. Bác sĩ rạch bụng để lấy con ra; đứa trẻ tuy chết nhưng người mẹ may mắn được bảo toàn tính mạng.
Cửu ngũ: Chờ với rượu và thức ăn; giữ chính thì tốt lành.
Cửu ngũ: Chờ với rượu và thức ăn; giữ chính thì tốt lành.
Tượng truyện nói: “Rượu và thức ăn, chính thì tốt lành, là vì giữ được trung chính.”
Hào năm là hào dương cứng mạnh ở ngôi tôn quý, đắc trung và đắc chính, làm trọn đạo của mình. Nếu chờ theo cách ấy thì có gì chờ mà không được? Sách Tản ngôn nói: “Muôn vật cần mưa móc, người cần ăn uống, thiên hạ cần được nuôi dưỡng. Nghĩa của thời Nhu lớn lao thay!” Ăn uống là điều mỗi người cần để dưỡng sinh; chỉ có bậc quân chủ không cần tự nuôi mình, mà cần dùng ăn uống để nuôi thiên hạ. Nhờ đó nghỉ ngơi phục hồi, làm cho dân chúng thiên hạ ai nấy vui với niềm vui của mình, hưởng lợi ích của mình, đều no đủ trong lòng nhân sâu dày và ân trạch hậu hậu; vì vậy nói “giữ chính thì tốt lành”. Nhưng có kẻ say đắm những ân huệ nhỏ nhoi, ham mê an nhàn hưởng lạc mà không biết cảnh giác, nên thường đánh mất công nghiệp đã gây dựng. Đó là đánh mất trung chính. Tượng truyện nói: “Rượu và thức ăn, chính thì tốt lành, là vì giữ được trung chính”; lời răn thật sâu sắc. Hơn nữa, đức của bậc quân chủ nơi Cửu ngũ vẫn ở trong chỗ hiểm, cần người cùng giúp vượt qua. Hào đầu vui với việc tự mình cày ruộng để cầu chí; hào hai dè chừng lời người rồi lui lại; hào ba giữ sự kính cẩn thận trọng để tránh tai họa; đến hào bốn thì ra khỏi hang mà tiến lên; hào trên thì người đến không cần mời; đến hào năm, thời vận nhiều lần thuận lợi, các bậc hiền tài cùng tiến. Khi ấy, quân chủ cung cấp nơi ở và thức ăn cho người hiền, trọng lễ mà nuôi dưỡng họ; người tài cũng lần lượt phát huy năng lực để giúp cứu thiên hạ. Dạy việc cấy trồng, làm sáng tỏ nghề nông, phân định rồi cấp ruộng, trước hết mưu tính nguồn áo cơm cho dân, không để dưới trời có một người nào phải rét đói. Dẫu gặp mất mùa hay tai họa, ắt phải miễn giảm và cứu trợ chu toàn, càng thiết tha lo nỗi đói của dân như đói của chính mình. Đó chẳng phải vương đạo lâu bền, thành tựu rồi cảm hóa xã hội, tức đạo của Nhu hay sao? Thoán truyện nói: “Nhu có lòng tin, sáng sủa hanh thông; chính thì tốt lành, ở ngôi trời mà giữ được chính giữa.” Chính là ý ấy. Hào này biến thì thành quẻ Thái, tượng thiên hạ thái bình.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào từ nói “chờ với rượu và thức ăn”, là tượng thắng trận thu quân trở về, khao thưởng và ghi công quân sĩ; vì thế nói “giữ chính thì tốt lành”.
○ Hỏi về công danh: Đây là lúc dự yến Lộc Minh và vui hưởng, tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Hào năm có hỗ quái Ly. Địa chi của nó là Ngọ, phía trên ứng với sao Liễu; các sao phụ gồm Cờ Rượu và Bếp Ngoài, chủ về yến tiệc, ăn uống. Biết rằng đó ắt là việc kinh doanh quán rượu, lương thực, thực phẩm hoặc tương tự. Hơn nữa, Khảm tượng cho người và việc thu nạp, nên biết việc buôn bán ấy chắc chắn nhập hàng dư thừa. Vì vậy “giữ chính thì tốt lành”.
○ Hỏi về hôn nhân: Hào bốn quẻ Nhu biến thành quẻ Thái; hào sáu năm quẻ Thái nói: “Đế Ất gả em gái, nhờ đó được phúc và đại cát”; hào chín ba lại nói: “Trong việc ăn uống có phúc.” Đây chính là ý “chờ nơi rượu và thức ăn”. Có phúc, nên “giữ chính thì tốt lành”. Tượng truyện nói: “Vì ở giữa và chính”, tức là đạt được sự chính đáng trong hôn nhân.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai. Có con trai ắt phải bày rượu và yến tiệc, xưa nay đều như vậy; vì thế hào từ nói “chờ nơi rượu và thức ăn”.
【Ví dụ】Một người họ nọ từ một huyện nọ đến, nói: “Nay tôi muốn yết kiến một vị quý hiển để thỉnh cầu một việc. Xin gieo quẻ xem vị ấy sẽ đối đãi với tôi thế nào.” Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Thái. Lời đoán đánh thẳng vào vấn đề: “Hào chín năm: chờ nơi rượu và thức ăn, giữ chính thì tốt lành.”
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là cần và chờ đợi. Phàm những người xa cách, chưa từng gặp nhau, nay tình cờ hội ngộ thì ắt có nhiều niềm vui. Hình tượng quẻ là như vậy; xét từ đó, khi ngài đến thăm vị quý hiển, vị ấy ắt vui mừng nghênh tiếp, đặc biệt hậu đãi, lưu ngài ở kinh đô, nhiều lần mời dự tiệc, cùng chuyện trò về việc xưa; ngài sẽ được kính trọng và yêu mến. Vì vậy nói: “Chờ nơi rượu và thức ăn, giữ chính thì tốt lành.”
Sau đó người ấy đến cảm tạ, nói: “Theo lời quẻ của ngài, tôi đi thăm vị quý hiển và được tiếp đãi hết sức hậu hĩnh, lại còn đạt được nguyện vọng. Cơ vận kỳ diệu của Kinh Dịch thần minh quả thật linh nghiệm!”
Tượng truyện nói: “Rượu và thức ăn, chính thì tốt lành, là vì giữ được trung chính.”
Hào năm là hào dương cứng mạnh ở ngôi tôn quý, đắc trung và đắc chính, làm trọn đạo của mình. Nếu chờ theo cách ấy thì có gì chờ mà không được? Sách Tản ngôn nói: “Muôn vật cần mưa móc, người cần ăn uống, thiên hạ cần được nuôi dưỡng. Nghĩa của thời Nhu lớn lao thay!” Ăn uống là điều mỗi người cần để dưỡng sinh; chỉ có bậc quân chủ không cần tự nuôi mình, mà cần dùng ăn uống để nuôi thiên hạ. Nhờ đó nghỉ ngơi phục hồi, làm cho dân chúng thiên hạ ai nấy vui với niềm vui của mình, hưởng lợi ích của mình, đều no đủ trong lòng nhân sâu dày và ân trạch hậu hậu; vì vậy nói “giữ chính thì tốt lành”. Nhưng có kẻ say đắm những ân huệ nhỏ nhoi, ham mê an nhàn hưởng lạc mà không biết cảnh giác, nên thường đánh mất công nghiệp đã gây dựng. Đó là đánh mất trung chính. Tượng truyện nói: “Rượu và thức ăn, chính thì tốt lành, là vì giữ được trung chính”; lời răn thật sâu sắc. Hơn nữa, đức của bậc quân chủ nơi Cửu ngũ vẫn ở trong chỗ hiểm, cần người cùng giúp vượt qua. Hào đầu vui với việc tự mình cày ruộng để cầu chí; hào hai dè chừng lời người rồi lui lại; hào ba giữ sự kính cẩn thận trọng để tránh tai họa; đến hào bốn thì ra khỏi hang mà tiến lên; hào trên thì người đến không cần mời; đến hào năm, thời vận nhiều lần thuận lợi, các bậc hiền tài cùng tiến. Khi ấy, quân chủ cung cấp nơi ở và thức ăn cho người hiền, trọng lễ mà nuôi dưỡng họ; người tài cũng lần lượt phát huy năng lực để giúp cứu thiên hạ. Dạy việc cấy trồng, làm sáng tỏ nghề nông, phân định rồi cấp ruộng, trước hết mưu tính nguồn áo cơm cho dân, không để dưới trời có một người nào phải rét đói. Dẫu gặp mất mùa hay tai họa, ắt phải miễn giảm và cứu trợ chu toàn, càng thiết tha lo nỗi đói của dân như đói của chính mình. Đó chẳng phải vương đạo lâu bền, thành tựu rồi cảm hóa xã hội, tức đạo của Nhu hay sao? Thoán truyện nói: “Nhu có lòng tin, sáng sủa hanh thông; chính thì tốt lành, ở ngôi trời mà giữ được chính giữa.” Chính là ý ấy. Hào này biến thì thành quẻ Thái, tượng thiên hạ thái bình.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào từ nói “chờ với rượu và thức ăn”, là tượng thắng trận thu quân trở về, khao thưởng và ghi công quân sĩ; vì thế nói “giữ chính thì tốt lành”.
○ Hỏi về công danh: Đây là lúc dự yến Lộc Minh và vui hưởng, tốt lành.
○ Hỏi về kinh doanh: Hào năm có hỗ quái Ly. Địa chi của nó là Ngọ, phía trên ứng với sao Liễu; các sao phụ gồm Cờ Rượu và Bếp Ngoài, chủ về yến tiệc, ăn uống. Biết rằng đó ắt là việc kinh doanh quán rượu, lương thực, thực phẩm hoặc tương tự. Hơn nữa, Khảm tượng cho người và việc thu nạp, nên biết việc buôn bán ấy chắc chắn nhập hàng dư thừa. Vì vậy “giữ chính thì tốt lành”.
○ Hỏi về hôn nhân: Hào bốn quẻ Nhu biến thành quẻ Thái; hào sáu năm quẻ Thái nói: “Đế Ất gả em gái, nhờ đó được phúc và đại cát”; hào chín ba lại nói: “Trong việc ăn uống có phúc.” Đây chính là ý “chờ nơi rượu và thức ăn”. Có phúc, nên “giữ chính thì tốt lành”. Tượng truyện nói: “Vì ở giữa và chính”, tức là đạt được sự chính đáng trong hôn nhân.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai. Có con trai ắt phải bày rượu và yến tiệc, xưa nay đều như vậy; vì thế hào từ nói “chờ nơi rượu và thức ăn”.
【Ví dụ】Một người họ nọ từ một huyện nọ đến, nói: “Nay tôi muốn yết kiến một vị quý hiển để thỉnh cầu một việc. Xin gieo quẻ xem vị ấy sẽ đối đãi với tôi thế nào.” Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Thái. Lời đoán đánh thẳng vào vấn đề: “Hào chín năm: chờ nơi rượu và thức ăn, giữ chính thì tốt lành.”
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là cần và chờ đợi. Phàm những người xa cách, chưa từng gặp nhau, nay tình cờ hội ngộ thì ắt có nhiều niềm vui. Hình tượng quẻ là như vậy; xét từ đó, khi ngài đến thăm vị quý hiển, vị ấy ắt vui mừng nghênh tiếp, đặc biệt hậu đãi, lưu ngài ở kinh đô, nhiều lần mời dự tiệc, cùng chuyện trò về việc xưa; ngài sẽ được kính trọng và yêu mến. Vì vậy nói: “Chờ nơi rượu và thức ăn, giữ chính thì tốt lành.”
Sau đó người ấy đến cảm tạ, nói: “Theo lời quẻ của ngài, tôi đi thăm vị quý hiển và được tiếp đãi hết sức hậu hĩnh, lại còn đạt được nguyện vọng. Cơ vận kỳ diệu của Kinh Dịch thần minh quả thật linh nghiệm!”
Hào trên cùng: Vào trong hang. Có ba vị khách không mời mà đến; kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.
Hào trên cùng: Vào trong hang. Có ba vị khách không mời mà đến; kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.
Tượng truyện nói: “Khách không mời mà đến; kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.” Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.
Hào trên cùng cùng với hào bốn hợp thành phần âm của quái Khảm, nên có hình tượng cái hang. Hào trên cùng ở cuối ngoại quái, đi ra thì không còn chỗ để tiến, vì vậy nói “vào trong hang”. “Có ba vị khách không mời mà đến” chỉ ba hào dương của nội quái, không được gọi mà vẫn cùng đến. Vì mềm thuận, không khước từ, không có lòng đố kỵ hay tranh cạnh, chỉ dùng lễ kính mà tiếp đãi, nên ba hào dương tuy cứng mạnh và quyết đoán nhưng không có ý tranh đoạt; do đó nói “kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành”. Hai chữ “kính đãi” ngầm chứa ý “rượu và thức ăn” của hào trước; ý “cuối cùng tốt lành” cũng giống hào chín hai. Hào sáu trên cùng thuộc âm, ở chỗ hiểm, không còn gì để chờ, nhưng có thể kính trọng và hạ mình trước người hiền ở dưới, nên không mất mát gì lớn. Vì vậy Tượng truyện nói: “Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.”
Ghi chú: “Vị” là sáu vị trí của sáu hào. Hào ở đúng vị là hào được chính vị; hào không đúng vị là hào không được chính vị. Đây là lệ chung của Kinh Dịch. Tuy nhiên trong đó cũng có phân biệt. Khi Tượng truyện nói về “vị”, phần nhiều chỉ ngôi vua ở hào chín năm. Lại có khi nói về vị theo phép sinh quẻ, tức chính vị của sáu hào; các quẻ Tiểu Súc, Đồng Nhân, Đại Hữu, Phệ Hạp, Gia Nhân, Quy Muội, Tiệm, Hoán và Ký Tế đều theo một nguyên tắc như vậy. Trong Tượng truyện, “vị” còn có nhiều nghĩa. Những chỗ nói sáu hào chính hay bất chính gồm hào sáu ba các quẻ Lý, Bĩ, Dự, Phệ Hạp; hào chín bốn các quẻ Tấn, Kiển, Giải, Chấn, Phong, Lữ; hào sáu ba quẻ Đoài; hào sáu bốn quẻ Trung Phu; hào chín bốn quẻ Tiểu Quá; và hào sáu ba quẻ Vị Tế. Chỗ nói về hào ba và hào bốn là vì dù vị trí hai và năm không chính, vẫn có nghĩa cương trung và nhu trung. Hào đầu và hào trên cùng lại được xem là nơi vô vị, nên không chuyên bàn về vị. Đúng vị thì tốt lành, không đúng vị thì xấu; nhưng cũng có trường hợp không đúng vị lại là tốt, như lời truyện về hào sáu năm quẻ Đại Tráng. Có chỗ riêng nói ngôi vua ở hào chín năm, như truyện các quẻ Tỷ, Bĩ, Tốn và Tiết. Lại có chỗ gắn lời hào với việc không đúng vị, như truyện hào trên cùng quẻ Nhu, Tượng truyện quẻ Phệ Hạp, và truyện hào chín bốn quẻ Khốn. “Bất đương vị” và “vị không đúng” hơi khác nghĩa. “Bất đương vị” vốn không chỉ đơn giản là chính vị hay bất chính vị. Vì vậy hào trên cùng quẻ Nhu, âm ở ngôi âm, tuy được chính vị, vẫn bị gọi là “bất đương vị”. “Vị” ở đây chỉ ngôi vua tại hào năm; do đó hào trên cùng quẻ Nhu và hào chín bốn quẻ Khốn, là những hào gần ngôi vua, được giải thích theo quan hệ với ngôi ấy. Lại xét trong quẻ này, các chữ “khó”, “bại”, “giặc”, “máu”, “hang”, “sa hãm”, “lời nói”, “thành tín”, “vào”, “rượu”, “thức ăn”, “yến tiệc”, “niềm vui”, “ngoại thành”, “cát”, “bãi rộng” và “nghe” đều là hình tượng của quái Khảm. Có thể biết rằng các bậc thánh nhân quan sát hình tượng ắt có cách vận dụng kỳ diệu. Một thuyết nói “không mời” không phải là đến mà không được gọi; Nhu nghĩa là chờ đợi, nên chỉ sự đến chậm. Xem các hào đầu, hai, ba, bốn: “ở ngoại thành”, “ở bùn”, “ở cát”, “ra khỏi hang”, đều là tiến dần từng bước, đến chậm rãi chứ không phải đến không mời.“Ba người” chính là ba hào dương của quẻ Càn. Cách nói này cũng thông suốt.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào trên cùng ở cuối quái Khảm; “hang” chỉ sự hiểm nguy của Khảm. “Vào trong hang” nghĩa là dựa vào nơi hiểm để tự phòng thủ. “Ba người” chỉ ba hào dương của nội quái; “không mời” nghĩa là tự đến, biểu thị quân địch từ ba mặt kéo đến bao vây. Đã vào nơi hiểm thì không nên tiếp tục giao chiến, nên lấy lễ tiếp đãi và hòa giải. Vì vậy nói: “Kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.”
○ Hỏi về kinh doanh: Quái Khảm là quái lao khổ, nơi muôn vật quy về, nên nói “vào trong hang”. Hang là kho, tức nơi chứa hàng hóa. “Ba người đến” là khách mua hàng. Dùng lễ kính tiếp đón họ, có giá là bán được, nên “cuối cùng tốt lành”. Tuy nhiên Khảm là hang nước, không thích hợp cất hàng. May là khách đến thì bán ngay, vì vậy nói: “Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.”
○ Hỏi về gia trạch: Ngôi nhà này ắt tối tăm ẩm thấp, may mà có ánh nắng chiếu từ ba phía nên tốt lành.
○ Hỏi về hôn nhân: Hào sáu quẻ Nhu biến thành quẻ Tiểu Súc. Hào chín trên cùng quẻ Tiểu Súc nói: “Sự chính bền của người vợ thì nguy.” Gọi là “người vợ” nghĩa là người con gái đã lấy chồng, nên nói “không đúng vị”. Vì “giữ chính thì nguy”, nên “cuối cùng tốt lành”. “Vào trong hang” có ý sống thì cùng phòng, chết thì cùng huyệt. “Ba người đến” là người mai mối.
○ Hỏi về bệnh tật: “Vào trong hang” là hình tượng xấu; “cuối cùng tốt lành” nghĩa là phải đến lúc kết thúc mới tốt, nên đối với bệnh cũng là điềm xấu.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai. Nói “cuối cùng tốt lành”, ắt phải là con trai nhỏ mới tốt.
【Ví dụ】Tháng mười hai năm Minh Trị thứ hai mươi hai, vợ người bạn Jinbo Chobei mắc ung thư dạ dày, nằm liệt giường; tôi gieo quẻ xem sống chết. Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là chờ đợi, đồng thời là quẻ Du Hồn. Du Hồn nghĩa là hồn phách của con người lìa khỏi thân thể mà phiêu du bên ngoài. Như vậy thiên mệnh tuy đã dứt, nhưng còn trì hoãn và chờ đợi, nên tạm thời vẫn có thể giữ được phần mệnh sống còn lại.
Trong quẻ này, hào trên cùng ở cuối toàn quẻ, không còn nơi nào để đi; đi rồi sẽ quay lại. Vì vậy bệnh không khỏi mà chết, hồn phách trở về bản nguyên. Hào từ “vào trong hang” là điềm chôn cất; “có ba vị khách không mời mà đến” chỉ các nhà sư đến làm lễ tang; “kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành” nghĩa là tâm được an định vững chắc và đạt Phật quả. Quẻ này vốn không phải quẻ Quy Hồn, nhưng từ hào từ có thể biết chắc sẽ chết.
Sau đó không lâu, quả nhiên người ấy qua đời.
【Ví dụ】Ông Nakano Goichi, người tôi quen biết và trước đây sống ở Osaka, một hôm được báo chí đưa tin là đã tự sát; lời đồn lan truyền đủ kiểu. Tôi kinh ngạc trước sự việc bất ngờ ấy, nghĩ rằng: một người tài giỏi như vậy, sao lại bị dồn đến bước cùng quẫn thế này? Nếu nghe tin khi ông còn sống, tôi còn có thể thay ông xử lý việc đó, nhưng nay thì chẳng biết làm sao, thật đáng tiếc! Đúng lúc ấy một người bạn đến trò chuyện, lại nhắc đến việc này. Thấy nguyên nhân dẫn đến cái chết vẫn chưa rõ, người bạn xin tôi gieo một quẻ. Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Ông Nakano làm nghề thương mại. Trong thương mại, “vào trong hang” phải chăng chỉ việc khai thác mỏ? “Có ba vị khách không mời mà đến” nghĩa là việc kinh doanh không như ý, được mất không bù nhau, nợ vốn đến kỳ phải trả, nhiều lần chịu chủ nợ thúc ép khắc nghiệt; không còn cách nào thoát, ông đành nhẫn tâm kết liễu đời mình. Quái Khảm biểu thị ưu phiền gia tăng và bệnh trong lòng; quái hỗ Tốn là gió, tượng của bệnh điên. Quẻ này cũng là quẻ Du Hồn, cho thấy thần hồn bất định.
Sau đó, sự thật được truyền lại, quả nhiên đúng như quẻ đoán.
【Ví dụ】Một hôm người bạn Ito Sadao đến báo: “Con trai út của tôi từ nhỏ đã làm người môi giới cho một nhà buôn hàng kimono ở Kyoto, gần đây đã lâu bặt tin, tôi rất lo. Xin gieo giúp một quẻ.” Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là chờ. Nội quái Càn là người cha già, chờ người con trai giữa của ngoại quái Khảm, nên là tượng tin tức. Nay được hào trên cùng, hào từ nói “vào trong hang”. Có lẽ lệnh lang cùng ba đồng nghiệp đang lưu luyến chốn lầu xanh, đắm chìm nữ sắc. Nhưng khi hào này biến thì thành quái Tốn; Tốn là gió, cũng là sự đi vào. Vì vậy đến cuối tháng này, nhất định chàng sẽ cùng đồng nghiệp về nhà. Quả nhiên đúng như quẻ đoán.
Sự nghiệm đúng của thần hào biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, không thể câu nệ cố chấp. Như câu “vào trong hang” trong quẻ này, phải vận dụng linh hoạt mới thấy được sự linh diệu và biến hóa của nó. Độc giả nên nghiền ngẫm kỹ[34]. Các hào khác cũng như vậy. Hào từ gặp chữ “lợn” thì vật nhỏ có thể ứng với chuột chũi, vật lớn có thể ứng với voi, v.v.; phải tùy hình dạng mà vận dụng linh hoạt. Người khảo cứu tượng của Kinh Dịch không thể không biết đạo lý này.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ ba mươi mốt, tôi gieo quẻ xem vận khí của lục quân, được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có hiểm nguy ở phía trước, nên có tượng chờ thời rồi mới tiến; vì thế gọi là Nhu. Nước ta lo ngại việc quân bị chưa đủ, sẽ mở rộng quân bị và củng cố quốc phòng. Các nước châu Âu ca ngợi tốc độ tiến bộ của ta, đồng thời càng nhận rõ tương lai ta có thể trở nên đáng sợ đến mức nào, nên nhiều lần cử tham mưu lục quân và hải quân đến xem xét quân bị của ta. Vì vậy trong nước thì cần chỉnh đốn quân bị, ngoài nước thì lễ đãi khách đến thăm, khiến bang giao thêm mật thiết và không khơi dậy nghi kỵ. Đó chính là ý “có ba vị khách không mời mà đến, kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành”.
Tượng truyện nói: “Khách không mời mà đến; kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.” Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.
Hào trên cùng cùng với hào bốn hợp thành phần âm của quái Khảm, nên có hình tượng cái hang. Hào trên cùng ở cuối ngoại quái, đi ra thì không còn chỗ để tiến, vì vậy nói “vào trong hang”. “Có ba vị khách không mời mà đến” chỉ ba hào dương của nội quái, không được gọi mà vẫn cùng đến. Vì mềm thuận, không khước từ, không có lòng đố kỵ hay tranh cạnh, chỉ dùng lễ kính mà tiếp đãi, nên ba hào dương tuy cứng mạnh và quyết đoán nhưng không có ý tranh đoạt; do đó nói “kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành”. Hai chữ “kính đãi” ngầm chứa ý “rượu và thức ăn” của hào trước; ý “cuối cùng tốt lành” cũng giống hào chín hai. Hào sáu trên cùng thuộc âm, ở chỗ hiểm, không còn gì để chờ, nhưng có thể kính trọng và hạ mình trước người hiền ở dưới, nên không mất mát gì lớn. Vì vậy Tượng truyện nói: “Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.”
Ghi chú: “Vị” là sáu vị trí của sáu hào. Hào ở đúng vị là hào được chính vị; hào không đúng vị là hào không được chính vị. Đây là lệ chung của Kinh Dịch. Tuy nhiên trong đó cũng có phân biệt. Khi Tượng truyện nói về “vị”, phần nhiều chỉ ngôi vua ở hào chín năm. Lại có khi nói về vị theo phép sinh quẻ, tức chính vị của sáu hào; các quẻ Tiểu Súc, Đồng Nhân, Đại Hữu, Phệ Hạp, Gia Nhân, Quy Muội, Tiệm, Hoán và Ký Tế đều theo một nguyên tắc như vậy. Trong Tượng truyện, “vị” còn có nhiều nghĩa. Những chỗ nói sáu hào chính hay bất chính gồm hào sáu ba các quẻ Lý, Bĩ, Dự, Phệ Hạp; hào chín bốn các quẻ Tấn, Kiển, Giải, Chấn, Phong, Lữ; hào sáu ba quẻ Đoài; hào sáu bốn quẻ Trung Phu; hào chín bốn quẻ Tiểu Quá; và hào sáu ba quẻ Vị Tế. Chỗ nói về hào ba và hào bốn là vì dù vị trí hai và năm không chính, vẫn có nghĩa cương trung và nhu trung. Hào đầu và hào trên cùng lại được xem là nơi vô vị, nên không chuyên bàn về vị. Đúng vị thì tốt lành, không đúng vị thì xấu; nhưng cũng có trường hợp không đúng vị lại là tốt, như lời truyện về hào sáu năm quẻ Đại Tráng. Có chỗ riêng nói ngôi vua ở hào chín năm, như truyện các quẻ Tỷ, Bĩ, Tốn và Tiết. Lại có chỗ gắn lời hào với việc không đúng vị, như truyện hào trên cùng quẻ Nhu, Tượng truyện quẻ Phệ Hạp, và truyện hào chín bốn quẻ Khốn. “Bất đương vị” và “vị không đúng” hơi khác nghĩa. “Bất đương vị” vốn không chỉ đơn giản là chính vị hay bất chính vị. Vì vậy hào trên cùng quẻ Nhu, âm ở ngôi âm, tuy được chính vị, vẫn bị gọi là “bất đương vị”. “Vị” ở đây chỉ ngôi vua tại hào năm; do đó hào trên cùng quẻ Nhu và hào chín bốn quẻ Khốn, là những hào gần ngôi vua, được giải thích theo quan hệ với ngôi ấy. Lại xét trong quẻ này, các chữ “khó”, “bại”, “giặc”, “máu”, “hang”, “sa hãm”, “lời nói”, “thành tín”, “vào”, “rượu”, “thức ăn”, “yến tiệc”, “niềm vui”, “ngoại thành”, “cát”, “bãi rộng” và “nghe” đều là hình tượng của quái Khảm. Có thể biết rằng các bậc thánh nhân quan sát hình tượng ắt có cách vận dụng kỳ diệu. Một thuyết nói “không mời” không phải là đến mà không được gọi; Nhu nghĩa là chờ đợi, nên chỉ sự đến chậm. Xem các hào đầu, hai, ba, bốn: “ở ngoại thành”, “ở bùn”, “ở cát”, “ra khỏi hang”, đều là tiến dần từng bước, đến chậm rãi chứ không phải đến không mời.“Ba người” chính là ba hào dương của quẻ Càn. Cách nói này cũng thông suốt.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào trên cùng ở cuối quái Khảm; “hang” chỉ sự hiểm nguy của Khảm. “Vào trong hang” nghĩa là dựa vào nơi hiểm để tự phòng thủ. “Ba người” chỉ ba hào dương của nội quái; “không mời” nghĩa là tự đến, biểu thị quân địch từ ba mặt kéo đến bao vây. Đã vào nơi hiểm thì không nên tiếp tục giao chiến, nên lấy lễ tiếp đãi và hòa giải. Vì vậy nói: “Kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành.”
○ Hỏi về kinh doanh: Quái Khảm là quái lao khổ, nơi muôn vật quy về, nên nói “vào trong hang”. Hang là kho, tức nơi chứa hàng hóa. “Ba người đến” là khách mua hàng. Dùng lễ kính tiếp đón họ, có giá là bán được, nên “cuối cùng tốt lành”. Tuy nhiên Khảm là hang nước, không thích hợp cất hàng. May là khách đến thì bán ngay, vì vậy nói: “Tuy không ở đúng vị trí, nhưng chưa mắc sai lầm lớn.”
○ Hỏi về gia trạch: Ngôi nhà này ắt tối tăm ẩm thấp, may mà có ánh nắng chiếu từ ba phía nên tốt lành.
○ Hỏi về hôn nhân: Hào sáu quẻ Nhu biến thành quẻ Tiểu Súc. Hào chín trên cùng quẻ Tiểu Súc nói: “Sự chính bền của người vợ thì nguy.” Gọi là “người vợ” nghĩa là người con gái đã lấy chồng, nên nói “không đúng vị”. Vì “giữ chính thì nguy”, nên “cuối cùng tốt lành”. “Vào trong hang” có ý sống thì cùng phòng, chết thì cùng huyệt. “Ba người đến” là người mai mối.
○ Hỏi về bệnh tật: “Vào trong hang” là hình tượng xấu; “cuối cùng tốt lành” nghĩa là phải đến lúc kết thúc mới tốt, nên đối với bệnh cũng là điềm xấu.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai. Nói “cuối cùng tốt lành”, ắt phải là con trai nhỏ mới tốt.
【Ví dụ】Tháng mười hai năm Minh Trị thứ hai mươi hai, vợ người bạn Jinbo Chobei mắc ung thư dạ dày, nằm liệt giường; tôi gieo quẻ xem sống chết. Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là chờ đợi, đồng thời là quẻ Du Hồn. Du Hồn nghĩa là hồn phách của con người lìa khỏi thân thể mà phiêu du bên ngoài. Như vậy thiên mệnh tuy đã dứt, nhưng còn trì hoãn và chờ đợi, nên tạm thời vẫn có thể giữ được phần mệnh sống còn lại.
Trong quẻ này, hào trên cùng ở cuối toàn quẻ, không còn nơi nào để đi; đi rồi sẽ quay lại. Vì vậy bệnh không khỏi mà chết, hồn phách trở về bản nguyên. Hào từ “vào trong hang” là điềm chôn cất; “có ba vị khách không mời mà đến” chỉ các nhà sư đến làm lễ tang; “kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành” nghĩa là tâm được an định vững chắc và đạt Phật quả. Quẻ này vốn không phải quẻ Quy Hồn, nhưng từ hào từ có thể biết chắc sẽ chết.
Sau đó không lâu, quả nhiên người ấy qua đời.
【Ví dụ】Ông Nakano Goichi, người tôi quen biết và trước đây sống ở Osaka, một hôm được báo chí đưa tin là đã tự sát; lời đồn lan truyền đủ kiểu. Tôi kinh ngạc trước sự việc bất ngờ ấy, nghĩ rằng: một người tài giỏi như vậy, sao lại bị dồn đến bước cùng quẫn thế này? Nếu nghe tin khi ông còn sống, tôi còn có thể thay ông xử lý việc đó, nhưng nay thì chẳng biết làm sao, thật đáng tiếc! Đúng lúc ấy một người bạn đến trò chuyện, lại nhắc đến việc này. Thấy nguyên nhân dẫn đến cái chết vẫn chưa rõ, người bạn xin tôi gieo một quẻ. Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Ông Nakano làm nghề thương mại. Trong thương mại, “vào trong hang” phải chăng chỉ việc khai thác mỏ? “Có ba vị khách không mời mà đến” nghĩa là việc kinh doanh không như ý, được mất không bù nhau, nợ vốn đến kỳ phải trả, nhiều lần chịu chủ nợ thúc ép khắc nghiệt; không còn cách nào thoát, ông đành nhẫn tâm kết liễu đời mình. Quái Khảm biểu thị ưu phiền gia tăng và bệnh trong lòng; quái hỗ Tốn là gió, tượng của bệnh điên. Quẻ này cũng là quẻ Du Hồn, cho thấy thần hồn bất định.
Sau đó, sự thật được truyền lại, quả nhiên đúng như quẻ đoán.
【Ví dụ】Một hôm người bạn Ito Sadao đến báo: “Con trai út của tôi từ nhỏ đã làm người môi giới cho một nhà buôn hàng kimono ở Kyoto, gần đây đã lâu bặt tin, tôi rất lo. Xin gieo giúp một quẻ.” Gieo được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có nghĩa là chờ. Nội quái Càn là người cha già, chờ người con trai giữa của ngoại quái Khảm, nên là tượng tin tức. Nay được hào trên cùng, hào từ nói “vào trong hang”. Có lẽ lệnh lang cùng ba đồng nghiệp đang lưu luyến chốn lầu xanh, đắm chìm nữ sắc. Nhưng khi hào này biến thì thành quái Tốn; Tốn là gió, cũng là sự đi vào. Vì vậy đến cuối tháng này, nhất định chàng sẽ cùng đồng nghiệp về nhà. Quả nhiên đúng như quẻ đoán.
Sự nghiệm đúng của thần hào biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, không thể câu nệ cố chấp. Như câu “vào trong hang” trong quẻ này, phải vận dụng linh hoạt mới thấy được sự linh diệu và biến hóa của nó. Độc giả nên nghiền ngẫm kỹ[34]. Các hào khác cũng như vậy. Hào từ gặp chữ “lợn” thì vật nhỏ có thể ứng với chuột chũi, vật lớn có thể ứng với voi, v.v.; phải tùy hình dạng mà vận dụng linh hoạt. Người khảo cứu tượng của Kinh Dịch không thể không biết đạo lý này.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ ba mươi mốt, tôi gieo quẻ xem vận khí của lục quân, được quẻ Nhu biến quẻ Tiểu Súc.
Lời đoán nói: Nhu có hiểm nguy ở phía trước, nên có tượng chờ thời rồi mới tiến; vì thế gọi là Nhu. Nước ta lo ngại việc quân bị chưa đủ, sẽ mở rộng quân bị và củng cố quốc phòng. Các nước châu Âu ca ngợi tốc độ tiến bộ của ta, đồng thời càng nhận rõ tương lai ta có thể trở nên đáng sợ đến mức nào, nên nhiều lần cử tham mưu lục quân và hải quân đến xem xét quân bị của ta. Vì vậy trong nước thì cần chỉnh đốn quân bị, ngoài nước thì lễ đãi khách đến thăm, khiến bang giao thêm mật thiết và không khơi dậy nghi kỵ. Đó chính là ý “có ba vị khách không mời mà đến, kính đãi họ thì cuối cùng tốt lành”.