Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 11 Đất trên Trời — Thái. Thái: Cái nhỏ đi, cái lớn đến; cát, hanh thông.

Đất trên Trời — Thái. Thái: Cái nhỏ đi, cái lớn đến; cát, hanh thông.

11 Đất trên Trời — Thái

Chữ “Thái” 56 gồm “lớn” và “nước”. Hình chữ mô tả hai bàn tay phân dòng nước, lấy ý nước tách ra từ giữa, lưu thông không bị ngăn trở; nước rút đi thì dân chúng được an cư. Từ xưa, tại Trung Nguyên, Đại Vũ trị thủy, khơi thông chín con sông; đất đai trở nên màu mỡ, việc canh tác được truyền dạy, nơi ở của dân được định lập, trời đất được thành tựu, và muôn dân có thể sống giữa đó, mãi hưởng phúc thái bình. Đó là ý nghĩa của quẻ Thái. Quẻ này Khôn ở trên, Càn ở dưới. Khôn là âm, Càn là dương; khí trời đất giao hợp, các hào âm dương hòa hợp, nuôi dưỡng sự sống và khởi đầu việc sinh thành, khiến người vật đều hanh thông. Vì vậy quẻ này được gọi là Thái.

Thái: Cái nhỏ đi, cái lớn đến; cát, hanh thông.



Chữ Triện của chữ “Thái”

Thoán truyện nói: “Thái: cái nhỏ đi, cái lớn đến; cát, hanh thông”, nghĩa là trời đất giao cảm khiến muôn vật thông đạt, trên dưới giao hòa khiến chí hướng đồng nhất. Dương ở bên trong, âm ở bên ngoài; bên trong cứng mạnh, bên ngoài thuận theo; bên trong là quân tử, bên ngoài là tiểu nhân. Đạo quân tử lớn lên, đạo tiểu nhân tiêu giảm.

Trong quẻ này, trời Càn ở dưới, đất Khôn ở trên. Xét theo hình thể trời đất thì trên dưới đảo ngược, dường như mất nghĩa. Nhưng điều quẻ này lấy làm chủ không phải hình mà là khí. Càn là khí của trời, Khôn là tinh của đất; hình thể trời đất cao thấp cách biệt, song nhờ khí mà giao nhau. Khí Càn bay lên, khí Khôn đi xuống, hai khí qua lại tạo thành mưa móc. Mưa móc hình thành thì vạn vật sinh trưởng, nên quẻ này gọi là Thái. Thái nghĩa là thông đạt, cũng là yên ổn và thành tựu, đúng như Thoán truyện nói.

Đem quẻ này xét vào việc người, Càn là chồng, Khôn là vợ; âm dương giao hòa thì gia thất nhất định hòa bình an lạc. Dương Càn và âm Khôn bao hàm ý nghĩa vô cùng rộng: mọi vật mọi việc giữa trời đất đều có âm dương. Xét thân thể con người, khí là dương, huyết là âm; âm dương cân bằng thì khí huyết tự nhiên điều hòa. Xét sinh hoạt thường ngày, tĩnh là âm, động là dương; âm dương giao nhau thì động tĩnh tự định. Quẻ này Càn ở dưới, Khôn ở trên, dường như âm dương đảo ngược, nhưng Thoán truyện nói “dương ở trong, âm ở ngoài”, tức âm lui, dương tiến, coi trọng quân tử và ức chế tiểu nhân. Lý Dịch đặc biệt nghiêm mật trong việc phòng giữ sự tiêu trưởng của âm dương. Con người xử thế nên đề cao dương cương, chế ngự âm nhu; như thế hai khí đều đạt đúng vị trí, muôn việc sẽ thái hòa.

Đem quẻ này xét vào quốc gia, chính phủ noi theo nguyên lý tạo hóa của trời đất, công minh chính đại, thi hành chính sách giáo hóa và nuôi dưỡng nhân dân. Càn là vua, Khôn là bề tôi. Vua lễ đãi bề tôi, thành thật giao phó; bề tôi trung với vua, tận tâm phụng sự. Vua thánh có hiền thần thì mở rộng công nghiệp; kẻ sĩ hiền gặp minh chủ thì phát huy tài năng và mưu lược. Khi ấy muôn dân cảm hóa bởi đức, hòa thân, an khang vui vẻ, phong tục đồng nhất khắp thiên hạ. Đó thật là thời đại trời đất giao thái, gọi là “trên dưới giao nhau, chí hướng đồng nhất”. Xét hai thể trên dưới, dương là quân tử, âm là tiểu nhân. Quân tử ở bên trong, ban bố chính sách và mệnh lệnh; tiểu nhân ở bên ngoài, giữ phận và theo giáo hóa. Đó là “quân tử ở trong, tiểu nhân ở ngoài”. Giữa trời đất, có dương thì có âm, có quân tử thì có tiểu nhân. Trong thời thái hòa cực thịnh, không thể không có tiểu nhân. Nhưng quân tử khéo giáo hóa tiểu nhân, tiểu nhân cũng vui lòng theo quân tử; đôi bên không hại nhau mà thông cảm với nhau. Âm nhỏ rời khỏi ta, dương lớn từ bên kia đến; tiểu nhân đi, mỗi người yên ổn làm ăn, đại nhân đến, vui vẻ hành đạo. Đó là sự thành tựu của đạo Thái. Đạo có tiêu trưởng, thời có bĩ và thái. Tổng hợp sự giao nhau của trời đất âm dương, có thể thấy lúc vận thế thăng trầm. “Đạo quân tử lớn, đạo tiểu nhân tiêu”; cực điểm của tiêu trưởng chính là điều phòng ngừa lớn đối với trị loạn quốc gia. Ba hào dưới của quẻ này tượng trưng thời thiên hạ trị bình; ba hào trên tượng trưng thời từ Thái chuyển sang Bĩ. Quân tử nên nghiền ngẫm lời hào, xét sâu sự biến đổi của khí vận và duy trì vận Thái không để suy tàn.

Khi các bậc thánh nhân sắp xếp thứ tự Kinh Dịch, họ lấy Càn và Khôn làm đầu. Sau Càn là mười một quẻ, rồi mới đến Thái. Trước hết dùng Truân để dạy, Mông để hướng dẫn, Nhu để nuôi dưỡng, Tụng để xử lý, Sư để chỉnh đốn, Tỷ để hòa hợp, Tiểu Súc để ràng buộc, Lý để đặt lễ; sau đó mới đạt đến Thái. Vì thế, từ Càn qua mười quẻ tiếp theo, các hào số lẻ cộng lại được ba mươi; từ Khôn qua chín quẻ tiếp theo, các hào số chẵn cũng cộng lại được ba mươi. Sau đó Càn Khôn mới giao nhau. Mở vận Thái khó khăn như vậy; lời răn mà các bậc thánh nhân để lại cho hậu thế quả thật sâu sắc!

Xét toàn quẻ, khí trời giáng xuống, tinh khí đất bay lên, khí của Trời Đất giao hòa, bắt đầu công cuộc tạo hóa. Sơ Cửu tượng người quân tử được đắc vị, tiến cử những bậc hiền tài đồng khí, cùng dựng triều đình, siêng năng lo việc nước, nên gọi là “nhổ cỏ mao, rễ nó liên kết với các loại của nó; tiến đi thì tốt lành”. “Loại” nghĩa là đồng loại, cùng loại thì cùng tiến. Cửu Nhị có đức cương trung chính, là bậc đại thần giúp làm nên thái bình. “Bao dung nơi hoang vu” nghĩa là có thể bao dung mọi nhân tài, chính là “tôn trọng người hiền, dung nạp mọi người”. Nhưng chỉ bao dung thôi cũng phải dùng sự quả quyết để hỗ trợ. “Lội qua sông” lấy lòng dũng cảm, đủ sức đảm đương công việc; “không bỏ sót nơi xa” nghĩa là suy xét chân thành, không chỉ lưu tâm đến trước mắt mà còn vươn tới những miền xa xôi hẻo lánh; không chỉ lo việc hiện thời mà còn tính kế lâu dài. Khi tuyển chọn nhân tài cho quốc gia, không được xen tình riêng: người đáng tiến cử thì dù là kẻ oán thù cũng không bỏ; người không thể dùng thì dù là người thân cận cũng không đề bạt. Đó gọi là “mất bè bạn”. Hành vi của Cửu Nhị công minh chính đại, giữ trung chính để ứng với ngôi tôn quý, nên xứng đáng được Lục Ngũ tin cậy không chút nghi ngờ; gọi là “được tôn trọng trong đạo trung hành”. Cửu Tam ở cực Dương, vị không trung chính, lại gặp lúc thịnh cực sắp suy. Xét theo thể quẻ, khí trời không thể ở dưới mãi, khí đất cũng không thể ở trên mãi; mỗi bên đều có tượng sắp trở về vị trí vốn có, nên nói “không có bằng phẳng nào không dốc, không có đi nào không trở lại”. Sự tiêu trưởng của Âm Dương, như sự qua lại của nóng lạnh, là do thời vận, không thể làm gì khác. Nhưng mệnh Trời có khi thắng người, mà sức người cũng đủ thắng Trời: phải phòng ngừa chỗ dốc trước khi nó dốc, lo liệu sự trở lại trước khi nó trở lại, khiến lòng mình chịu được gian nan, giữ vững sự chính bền, làm hết việc người để xoay chuyển vận Trời. Đó là đạo giữ thái bình. Làm được như vậy thì có thể hưởng phúc mãi mãi. Lục Tứ lấy hào Dương ở vị Âm, ở gần ngôi tôn quý. Ba hào trên đều khiêm nhường đón tiếp bên dưới, ba hào dưới đều cương trực phụng sự bên trên. Hào Tứ ở chỗ giao nhau của trên và dưới, nên “phấp phới” theo nhau, vui lòng cùng tiến; vì vậy không phải chỉ giàu rồi theo láng giềng, cũng không phải chỉ giữ giới mà không tin nhau. Đồng chí đồng đạo, đúng như Thoán truyện nói: “Trên dưới giao nhau, chí của họ đồng nhất”. Lục Ngũ là vị quân chủ ôn thuận, bỏ lòng tự cao, tin dùng Cửu Nhị, hạ thấp tôn vị để theo bề tôi, có tượng “Đế Ất gả em gái”. Dùng đạo ấy mà được phúc thì đại cát, thiện mỹ trọn vẹn. Thượng Lục là cuối quẻ Thái; thái bình đến cực điểm thì biến đổi, có tượng “thành trở lại hào”. Vào thời Cửu Nhị, Cửu Tam, nếu hết lòng làm trọn việc người thì có thể duy trì vận thái bình; nhưng lơ là đạo ấy đến mức này, tuy là tự nhiên của vòng tuần hoàn thiên vận, cũng do việc người tự chuốc lấy.Đến thời Thượng Lục, đạo của quẻ Thái đã mất; trên dưới xa cách, lòng dân ly tán, phải dùng binh lực để tranh đấu, đúng là thời loạn. Vì vậy nói: “Chớ dùng quân, hãy từ ấp mình ban bố mệnh lệnh.” Hãy giữ thành ấp, làm sáng tỏ chính giáo, xoay chuyển lòng Trời, dẹp loạn trở về chính đạo; như vậy vẫn đủ bảo toàn thái bình ở cuối quẻ. “Bằng”, “dốc”, “thành”, “hào” đều biến đổi cực nhanh, mà tượng của chúng cũng cực kỳ nguy hiểm. Lời răn dạy thật sâu sắc!

Trong lời hào, hào đầu nói “cỏ mao”, là tượng của đất; hào hai nói “hoang vu” và “sông”, cũng là tượng của đất. Hào ba nói “dốc”, là hình thế của đất, vì nội quái đều là Âm, lấy Khôn làm chủ và Càn làm khách. Hào bốn nói “giàu” và “đầy”, hào năm nói “Đế Ất”, hào trên nói “thành”, đều là tượng của Dương. Ngoại quái đều là Dương, lấy Càn làm chủ và Khôn làm khách. Khách trở về còn chủ thường ở lại; ý nghĩa có thể thấy rõ như vậy.

Ulasan Hình tượng nói: Trời Đất giao nhau nên thành Thái. Vì vậy, bậc quân chủ dùng tài nguyên để hoàn thành đạo của Trời Đất, hỗ trợ điều thích hợp của Trời Đất, và nâng đỡ dân chúng.

Quẻ này là tượng sống động về hai khí Trời Đất giao thông; vạn vật nhờ đó tiếp nhận sự hóa dục của Trời Đất. Thánh nhân thấy tượng ấy, bèn giúp Trời Đất hóa dục, làm những việc mà Trời Đất không thể tự làm. Trời Đất sinh ra vạn vật một cách bao quát, không phân biệt; còn thánh nhân quan sát mặt trời, mặt trăng và tinh tú, phân biệt các tiết phân, chí, khai, bế để hoàn thành công việc của một năm; đo đạc núi sông, đường sá khắp đông tây nam bắc để định thành ấp; xét thời của Trời, phân biệt lợi của đất; mùa xuân mùa hạ thì cày cấy, mùa thu mùa đông thì thu hoạch và tích trữ. Tất cả đều là tận dụng đạo làm nên Thái, gọi là “dùng tài nguyên để hoàn thành đạo của Trời Đất, giúp điều thích hợp của Trời Đất, và nâng đỡ dân chúng”. Con người sinh sống tất phải nhờ bậc quân chủ bên trên thì mới được phát triển và hoàn thành đời sống. “Tài thành” là chế ngự phần quá mức; “phụ tá” là bổ sung phần còn thiếu.

(Lời phụ) Những năm gần đây, đạo vệ sinh được phổ biến, nghiên cứu y học ngày càng tiến bộ, phép chủng đậu thịnh hành, khiến dân chúng tránh được nạn chết yểu; tất cả đều đủ để điều hòa Âm Dương và góp phần vào sự hóa dục. Các nước châu Âu, vì đất đai cằn cỗi, người và gia súc sinh sôi, đời sống dân chúng khó khăn, đã đề ra kế hoạch di dân, đưa dân cư đến định cư ở Bắc và Nam Mỹ, châu Phi, Úc và các đảo ở châu Á, nhưng vẫn không đủ cho nhu cầu hằng ngày. Xét như nước ta, nếu so sánh đất đai với dân số, thống kê trong mấy năm trước sau cho thấy mỗi năm tăng thêm bốn trăm nghìn người. Việc đời sống chưa rơi vào thiếu thốn hẳn cũng có nguyên do. Đất nước ta màu mỡ; vùng đất ấm có thể trồng hai vụ lúa và lúa mì mỗi năm chiếm gần một nửa toàn quốc. Trước cuộc Duy tân, đất hai vụ chưa đầy ba phần mười, nay dần tăng lên đến bảy phần mười. Vì thế, tuy dân số tăng rõ rệt nhưng tư liệu sinh hoạt cũng có đủ, nên chưa phải lo thiếu thốn. Tuy nhiên, từ nay về sau, đất hai vụ còn lại chỉ chiếm ba phần mười. Dân số mỗi năm một tăng, mà các bậc hiền sĩ trong triều ngoài nội vẫn thản nhiên, chưa biết lo liệu trước, chẳng đáng lo hay sao? Hiện nay đang mở đường sắt ở Hokkaido, dần dần di cư tổng cộng mười triệu người; nếu giảm được một nửa số dân tăng thêm ở nội địa, thì trong năm mươi năm vẫn có thể bảo đảm sự an thái của quốc gia. Trong thời gian ấy, nên lập thuộc địa ở các nước hải ngoại để hoạch định kế sách lâu dài cho đất nước. Đó gọi là “nâng đỡ dân chúng”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận khí quốc gia: Đúng lúc vua sáng, tôi hiền, dân chúng an thái, đây là thời cực thịnh. Nhưng thịnh đến cực điểm đã là bước đầu của suy. Bĩ hay Thái ở Trời, còn xoay chuyển được hay không là ở người; cần phải suy xét thật sâu. Đạo nhà cũng như vậy.


○ Hỏi việc mưu sự: Việc ắt thành công, nhưng phải đề phòng thất bại về sau.

○ Hỏi hôn nhân: Âm Dương hợp thể, là tượng đại cát.

○ Hỏi thương nghiệp: Mua bán đều tốt, nhưng bán ra lợi nhỏ, mua vào lợi lớn; tượng ấy thấy ở câu “nhỏ đi, lớn đến”.

○ Hỏi mùa màng: Mưa thuận hòa, là tượng được mùa.

○ Hỏi thai sản: Có tượng sinh đôi trai gái.

○ Hỏi đồ thất lạc: Hãy tìm ở những nơi gần bên trái và bên phải, sẽ tự thấy.

Sơ Cửu: Nhổ cỏ mao cùng với rễ và các loại liên kết với nó; tiến đi thì tốt lành.[57]

Sơ Cửu: Nhổ cỏ mao cùng với rễ và các loại liên kết với nó; tiến đi thì tốt lành.[57]

Tượng truyện nói: Nhổ cỏ mao mà tiến thì tốt lành; chí hướng ở bên ngoài.

“Như” là dáng rễ cỏ kéo liên kết với nhau. “Nhổ cỏ mao cùng rễ liên kết” nghĩa là nhổ một cây mao thì những rễ nối liền với nó cũng bị nhổ lên theo. Hào này có tài đức cương minh nhưng ở địa vị thấp, chính ứng Âm Dương với đại thần ở hào bốn; đó là người hiền tài ở ngoài triều, được đại thần tiến cử. Ba hào Dương cùng một thể, một Dương tiến thì các Dương cùng tiến, giống như nhổ một cây mao mà rễ liên loại của nó cùng trồi lên. Vì vậy lập tượng “nhổ cỏ mao”. Từ xưa, quân tử đắc vị thì hiền sĩ tụ hội nơi triều đình, đồng tâm hiệp lực làm nên thái bình cho thiên hạ; kẻ tiểu nhân ở ngôi thì người bất tiếu lần lượt tiến lên, mở đường cho thiên hạ loạn. Đó là vì mỗi bên theo đồng loại của mình. “Cỏ mao” của Sơ Cửu có thể dẫn dắt các hiền sĩ Cửu Nhị, Cửu Tam cùng tiến, nên nói “theo loại của nó”. “Loại” là đồng loại. Sơ Cửu là khởi đầu của Thái, được đúng vị, có thể thực hành đạo giữ gìn đức hạnh, nên tốt lành; vì vậy nói “tiến đi thì tốt”. Chữ “đến” trong Thoán truyện chỉ khí trời giáng xuống; chữ “tiến” trong lời hào chỉ người quân tử tiến lên. Quẻ nói khí giao từ trên xuống, hào nói vị thăng từ dưới lên. Người quân tử học đạo là tu dưỡng đạo ấy trong thân mình để chờ thời, ở giữa cõi thiên hạ rộng lớn, đứng vào chính vị của thiên hạ, thực hành đại đạo của thiên hạ, mong vua mình thành vị vua như Nghiêu Thuấn, dân mình thành dân như thời Nghiêu Thuấn. Đó là chí nguyện lâu đời của người học. Nhưng nếu mệnh Trời không phù trợ, không đạt được chí hướng, thì có thể gối đầu lên cánh tay, uống nước, một mình ở nơi ngõ hẹp; đó là tu thân một mình. Dẫu vậy, lòng người ấy chưa từng một ngày quên thiên hạ. Câu “chí ở bên ngoài” trong Tượng truyện nghĩa là hiền sĩ Sơ Cửu tuy thân ở dưới nhưng chí hướng ở việc làm lợi cho dân. “Bên ngoài” chỉ thiên hạ quốc gia. Hào này biến thì toàn quẻ thành quẻ Thăng. Lời của Sơ Lục quẻ Thăng nói “tin tưởng mà lên, đại cát”, có thể dùng để đoán sự thăng tiến của người hiền.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Có tượng nhờ người mà thành việc.


○ Hỏi gia trạch: Có điềm gia đình đoàn tụ, người trong nhà bình an.

○ Hỏi việc kinh doanh: Có tượng được người cộng sự đồng chí hợp ý, hàng hóa tiền tài hội tụ.

○ Hỏi công danh: Có niềm vui dần dần thăng tiến.

○ Hỏi chiến tranh: Tiến công sẽ giành thắng lợi.

○ Hỏi đồ thất lạc: Nên tìm ở nơi cỏ bụi um tùm.

○ Hỏi thai sản: Thai đầu sinh con gái; thai thứ ba hoặc thứ tư thì sinh con trai.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ hai, một người từng là võ sĩ của một phiên đến xin gieo quẻ hỏi có nên làm nghề buôn bán hay không. Gieo được quẻ Thái biến thành quẻ Thăng.

Đoán rằng: Tượng quẻ này là khí trời xuyên xuống dưới đất một cách vi tế, còn khí đất bốc lên trời. Xét về việc người, đó là lúc ta và đối phương hòa hợp, trên dưới thông suốt, nên gọi là Thái. Nay ông được hào đầu, lời hào nói “nhổ cỏ mao cùng rễ liên kết”. Cỏ mao tuy thân mọc riêng, nhưng rễ lại nối liền. Tôi nghĩ trong số bạn cũ của ông, nhất định có người đang làm việc trên đường quan chức. Hãy nhờ người ấy bàn việc cầu quan, việc ắt thành. Xem tướng mạo ông, tôi thấy ông hợp làm quan, không hợp buôn bán. Căn cứ vào đạo lý Kinh Dịch, tôi đoán rằng phẩm chất và tài năng của ông thích hợp với việc nhờ bạn bè mà tiến thân.

Về sau, người này quả nhiên ra làm quan và dần dần được thăng tiến.

Cửu Nhị: Bao dung nơi hoang vu, lội qua sông, không bỏ sót nơi xa, mất bè bạn; được tôn trọng trong đạo trung hành.

Cửu Nhị: Bao dung nơi hoang vu, lội qua[58]sông, không bỏ sót nơi xa[59], mất bè bạn; được tôn trọng trong đạo trung hành[60].

Tượng truyện nói: Bao dung nơi hoang vu, được tôn trọng trong đạo trung hành, là làm cho đức hạnh sáng tỏ và lớn lao.

“Hoang” có nghĩa như trong “hồng hoang”, đồng thời cũng có nghĩa là nơi đồng hoang. “Bao” là dung nạp; “lội qua sông” là đi bộ vượt qua; “không bỏ sót nơi xa” là không quên điều ở xa; “mất bè bạn” cũng như “mất bè bạn” của Khôn; “trung hành” cũng như nói đạo trung. Hào này có tài năng cương minh, giữ đức trung chính, chính ứng Âm Dương với quân chủ ở hào năm; đó là bậc trung thần có mưu lược và khả năng hành động, giúp vua dựng nên nghiệp bá. Người ấy ung dung, độ lượng, có thể bao dung dân nghèo nơi hoang vu xa xôi, nuôi dưỡng và giáo hóa họ, khiến không một ai không có chỗ thích đáng. Lại có sự quả quyết của việc lội qua sông, không trôi vào yếu đuối văn nhược; vì vậy nói “bao dung nơi hoang vu”, “lội qua sông”. Tấm lòng của thánh hiền vốn không loại bỏ vật gì. Không bao dung nơi hoang vu thì không thể biểu hiện lòng từ ái của Trời Đất; không lội qua sông thì không thể phát huy uy thế và phẫn nộ của Trời Đất. Mưa móc, sấm sét; khoan dung và nghiêm khắc phải hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời không bỏ nơi u viễn, không thiên vị người quen gần. Cửu Nhị thể hiện đức cương trung ấy, sáng rõ, chính đại, hợp với đạo trung; vì vậy nói “không bỏ sót nơi xa, mất bè bạn, được tôn trọng trong đạo trung hành”. Đạo trị Thái cần đủ bốn điều này: khoan dung thì được lòng người, có tín thì dân tin cậy, nhanh nhạy thì lập công, công bằng thì quần chúng vui lòng. Quả thật không mất đức trung hành. Cốt yếu trước hết ở lòng khoan dung; vì thế Tượng truyện dùng hai chữ “bao dung nơi hoang vu” để tóm cả bốn, nói rằng phối hợp với trung hành thì đức trở nên sáng lớn. Ý nghĩa thật sâu xa!

Để vận dụng việc gieo quẻ, tạm nói về công cuộc khai phá. “Bao dung nơi hoang vu” là chỉ vùng hoang dã. “Lội qua sông” là khai khẩn đất hoang, hướng dẫn dân nghèo không nghề nghiệp, mở đường bắc cầu, để họ tham gia việc công. “Không bỏ sót nơi xa” là đi đến tận núi sâu chốn hẻo lánh, vượt hiểm trở, khắc phục chướng ngại để khai phá. “Mất bè bạn, được tôn trọng trong đạo trung hành” là không có lòng riêng bè đảng, dẫn dắt mọi người làm việc, nhờ đó được thiên hạ yêu kính. “Bao dung nơi hoang vu” là nhân; “lội qua sông” là dũng; “không bỏ sót nơi xa” là trí; “mất bè bạn” là công. Đủ bốn đức ấy thì trị thiên hạ vẫn còn dư sức. Nếu chỉ có bao dung mà không có khả năng quyết đoán và chế ngự, thì không phải tài năng biết phối hợp cứng và mềm. Nếu không bỏ nơi xa nhưng lại thiên vị đảng phái bè bạn, thì sẽ thiên lệch và mất bản chất công chính. Vì vậy phải vừa bao dung những nơi hoang u ô trọc, vừa quyết đoán cương nghị; không bỏ sót nơi xa, lại không tư vị bè đảng. Như thế mới không quên xa, không quen gần, và hợp với đạo trung. “Làm cho đức sáng lớn” trong Tượng truyện nghĩa là lòng dạ rộng rãi, có độ lượng dung nạp người khác. “Sáng” là sự sáng suốt đủ để soi chiếu; “lớn” là khí lượng đủ để dung chứa.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Hiện nay đúng lúc công danh hiển đạt, có thể đi xa ra nước ngoài và sáng lập sự nghiệp.


○ Hỏi đường công chức: Có điềm phụng mệnh đi xa hoặc tham gia chinh chiến; đều được tốt lành.

○ Hỏi thương nghiệp: Lợi ở việc đi buôn và vận chuyển hàng hóa từ bên ngoài.

○ Hỏi đồ thất lạc: Nhất định đã rơi xuống nước, e rằng khó tìm được.

○ Hỏi bệnh tật: Không tốt lành.

○ Hỏi gia trạch: Dùng người nên khoan dung, xử lý việc nên quyết đoán; không thể chỉ tin người hầu, khiến gia nghiệp tổn hao.

○ Hỏi chiến tranh: Có thế vỗ về người phương xa, chinh phạt kẻ không chịu phục tùng, bờ cõi ngày một mở rộng.

○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.

【Ví dụ】 Một người bạn ở Tokyo, đang ở Hitachi, muốn khai khẩn đất đầm lầy nên xin gieo quẻ hỏi lành dữ. Gieo được quẻ Thái biến thành quẻ Minh Di.

Lời đoán nói: “Chữ cổ của ‘Thái’ tượng hình người dùng hai tay trái phải để trị dòng nước lũ lớn. Những vùng châu trạch, khi mưa lớn đột ngột, cát đất từ núi bị xói cuốn, sụt đổ, theo dòng nước dồn tụ mà thành; chỗ thấp thì thành hồ hoặc đầm lầy. Nay ngài muốn khai khẩn đất đầm lầy, việc ấy có lợi cho xã hội, góp phần vào kinh tế quốc gia, điều đó có thể thấy rõ. Câu ‘nhổ cỏ mao cùng rễ’ trong lời hào nghĩa là phát quang cỏ dại, gieo ngũ cốc, đó là kết quả tốt đẹp của việc khai khẩn. ‘Bao hoang’ nghĩa là tượng mua đất hoang; ‘dùng sức vượt sông’ nghĩa là dốc hết sức vào việc đào sửa mương ngòi. Người có tài sản khổng lồ thường lấy việc sống an nhàn đến hết đời làm mục đích, để con cháu được hưởng mãi cảnh ăn không ngồi rồi, cho đó là thượng sách, mà không biết đây chính là đại thất sách. Vì sao? Người giàu trong thiên hạ không tính đến lợi ích công cộng thì người nghèo không có đường kiếm áo cơm. Người nghèo không có áo cơm ắt sẽ không màng lễ nghĩa, làm hỏng liêm sỉ, đến mức phạm cấm lệnh và sa vào lưới pháp luật; đó gọi là loạn dân của quốc gia. Loạn dân phát sinh đều do hạng người chơi không, ngồi ăn mà ra. Ngài có thể bao dung hạng người ấy, mạnh dạn bỏ vốn, muốn khai khẩn đầm lầy cho mọi người, nhờ đó cứu giúp người đói rét; chí khí và hạnh kiểm của ngài quang minh chính đại, quả thật vượt hẳn bạn đồng liêu, nên gọi là ‘bằng hữu tiêu vong’. Ngài làm việc này lợi mình lợi người, gọi là ‘tôn trọng trung hành’, tất sẽ phát triển rực rỡ. Người bạn nói: ‘Xin kính cẩn vâng lời. Nhưng tôi tuổi đã cao, không thể đích thân đến nơi ấy giám sát công việc. Việc cấp thiết trước mắt, tôi muốn cử một người nào đó mà tôi tin cậy làm đại diện, giao việc này cho ông ta; xin gieo quẻ để quyết định.’ Gieo được quẻ Khôn biến thành quẻ Dự.”

Lời hào nói: “Lục tứ: Buộc miệng túi, không lỗi, không danh dự.”

Lời đoán nói: Quẻ này toàn âm, không có một hào dương nào. Trong đạo của Kinh Dịch, dương là tôn quý, âm là thấp hèn. Nay gieo được quẻ này, e rằng người ấy là kẻ tiểu nhân thấp hèn. Người đời nông cạn đều dựa vào giai cấp của con người để phân biệt sang hèn, còn tôi chỉ luận về tâm thuật. Bậc nhất là người không mưu cầu cho mình mà mưu cầu cho người, người khác vui thì mình cũng vui, người khác ghét thì mình cũng ghét; sự biểu hiện của tính tình công chính, không có chút tư tâm nào. Bậc thứ hai là người mong người khác cũng có điều mình mong muốn, lấy hòa thuận giúp đỡ nhau trong mọi việc, không mặc sức làm theo ý mình. Bậc thấp nhất là người chỉ chăm lo lợi dục, không màng thân thích bạn bè, hễ có lợi thì chẳng biết liêm sỉ. Đó là quan điểm tôi vẫn giữ từ trước đến nay. Từ xưa, người có trí tuệ cao thượng vốn có bản tính hoàn thiện, không thấy điều khác lạ rồi đổi lòng, gọi là quý nhân; kẻ ngu muội thấp kém có lòng dạ tàn nhẫn đê tiện, thiên về điều bất thiện, gọi là tiện nhân. Hào đầu quẻ Khôn nói: ‘Dẫm lên sương, băng cứng sẽ đến’, nghĩa là tranh lợi rồi đi đến chỗ phạm thượng gây loạn; hào trên nói: ‘Rồng đánh nhau ngoài đồng’, nghĩa là mưu lợi rồi đi đến chỗ đôi bên tranh chiến, cả hai nhà đều bị thương. Giao việc cho người này chẳng khác nào bán chìa khóa cho kẻ trộm; nên buộc miệng túi tiền và cảnh giác trong lòng, đó là ý ‘buộc túi, không lỗi, không danh’. Việc này nhất định phải tự mình đảm nhiệm, chưa thể giao cho người khác.”

Người bạn bèn nghe theo lời tôi.

Cửu tam: Không có gì bằng phẳng mà không dốc, không có gì đi mà không trở lại. Giữ chính trong gian nan thì không lỗi. Chớ lo về lòng thành ấy; trong việc ăn uống có phúc.

Cửu tam: Không có gì bằng phẳng mà không dốc [61], không có gì đi mà không trở lại. Giữ chính trong gian nan thì không lỗi. Chớ lo [62] về lòng thành ấy; trong việc ăn uống có phúc.

Tượng truyện nói: “Không có gì đi mà không trở lại”—đó là nơi giao hội của trời đất.

“Không có gì bằng phẳng mà không trở thành dốc nghiêng, không có gì đi mà không trở lại” nói về quy luật thường thấy của sự biến đổi thời vận, cũng như trăng tròn rồi khuyết, hoa nở rồi tàn. Xét từ toàn quẻ, hào này đang ở đúng lúc vận Thái cực thịnh; nhưng xét kỹ vị trí của hào, dương đã cùng cực và bị âm bức ép, thời Thái sắp hết, thời Bĩ sắp đến. Vạn vật ở giữa thì bằng phẳng, vượt quá điểm giữa ắt nghiêng đổ; đạo trời và việc người đều như vậy. Thái đến hào Cửu Tam, đạo trời trở lại phía trên, đạo đất trở về phía dưới. Người quân tử ở lúc vận Thái cực thịnh chỉ nên tận hết việc người để xoay chuyển vận trời. Vì thế phải nghĩ đến hoạn nạn mà phòng bị trước, luôn cảnh giác với gian nan nguy hiểm; làm được như vậy thì không có lỗi. Hào này dương cứng chồng lên nhau mà không đắc trung, quẻ hỗ có Chấn, ở trong thế mạnh mẽ vận động không ngừng. Sự mạnh mẽ tiến thêm một bước sẽ thành tượng dốc nghiêng rồi trở lại. Càn vốn ở trên, Khôn vốn ở dưới; dưới giao với trên, nên Càn ở trong còn Khôn ở ngoài. Nếu Càn không chịu yên ở dưới, tất sẽ đi lên ép Khôn; nếu Khôn không thể yên ở trên, tất sẽ đi xuống đoạt Càn. Vì vậy nói: “Không có gì bằng phẳng mà không trở thành dốc nghiêng.” Khi sự trở lại đến, không được mặc cho nó cứ trở lại; phải giữ sự bằng phẳng, giữ thế đang tiến, ngăn ngừa điều nhỏ bé trước khi thành tai họa, để bảo toàn kết cục. Khi kẻ tiểu nhân muốn thừa lúc lơ là mà len vào, người quân tử càng phải suy xét sâu hơn về khó khăn; khi kẻ tiểu nhân muốn rình khe hở để tấn công, người quân tử ắt phải giữ vững chính trực. Nếu lo liệu cẩn trọng như vậy thì mọi hành động và sắp đặt đều không mắc lỗi. Vì thế nói: “Gặp gian nan mà giữ chính thì không có lỗi.” Trong việc thiên hạ, chưa từng có ai không biết răn sợ mà vẫn bảo toàn được kết cục. Lời răn của Kinh Dịch về cơ biến của đầu cuối, tiêu trưởng, là sâu sắc và thiết tha nhất. Sự nghiêng đổ rồi trở lại của vận đời cũng giống như nhật thực, nguyệt thực: trong khoảnh khắc bị thực thì tối tăm, qua lúc ấy lại trở về sáng tỏ. Vì vậy nói: “Chớ lo về lòng thành của nó; trong lúc bị thực có phúc.” “Thực” ở đây chính là bị che khuất. Lấy nhật thực và nguyệt thực để ví với tai họa, lấy việc ánh sáng trở lại sau khi thực chấm dứt để ví với phúc.

Khảo rằng: Trong sáu mươi tư quẻ, có bốn quẻ phân định sự chuyển dời của thời vận chuyên theo nội quái và ngoại quái, không câu nệ thứ bậc của hào: Thái, Bĩ, Ký Tế và Vị Tế. Quẻ này có ba hào dương ở nội quái, nên là Thái trong Thái; có ba hào âm ở ngoại quái, nên là Bĩ trong Thái. Dương là có thừa, thực, giàu; âm là thiếu, hư, nghèo. Cửu tam ở cực điểm của nội quái, gặp Lục tứ, đúng vào chỗ giao hội của hai thể Càn và Khôn. Đó là lúc Thái trong Thái sắp hết; Lục tứ ở đầu ngoại quái, là lúc Bĩ trong Thái sắp đến. Vì vậy hai hào ba và bốn chỉ ra sự chuyển biến của thời vận. Tượng truyện nói ‘nơi giao hội của trời đất’; chữ ‘giao’ nghĩa là giao tiếp, tức hai khí âm dương đang tiếp nối nhau.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Người thận trọng thì hưng thịnh, kẻ an dật và ham muốn thì thất bại; cần hết sức lưu ý.


○ Hỏi việc kinh doanh: Hiện tuy thất ý, về sau ắt có lợi lớn.

○ Hỏi việc chiến tranh: Phải đề phòng quân địch mai phục; nên cố thủ, không nên tiến công.

○ Hỏi đồ vật bị mất: Chẳng bao lâu sẽ tìm được.

○ Hỏi sinh nở: Tuy nguy hiểm nhưng không lỗi, ắt sinh được đứa trẻ mang phúc đức.

○ Hỏi gia nghiệp: Nên cẩn thận giữ nghiệp cũ, có thể bảo toàn sự giàu có lâu dài.

○ Hỏi bệnh tật: Người trẻ không lỗi; người già thì đại hạn có trở ngại.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ mười tám, vâng mệnh vị tướng công Sanjo quá cố, người ta gieo quẻ hỏi vận khí của công tại Hama Rikyu, được quẻ Thái biến thành quẻ Đại Tráng. Những người đi theo lúc ấy là hai vị Musha no Koji và Fukuzawa Shigeka.

Lời đoán nói: Quẻ này là tượng khí lửa của mặt trời xuyên xuống lòng đất, tinh khí của đất bốc hơi, tinh khí trời đất giao hòa, vạn vật sinh trưởng, tượng quốc gia an thái. Ví với quốc gia, ân huệ của chính phủ thấm đến dân chúng, tình chí của dân chúng đạt lên chính phủ; vua có thể tin dùng bề tôi, bề tôi có thể phục tùng nhà vua, nên gọi là Thái. Nhưng Thái đến cực điểm thì biến thành Bĩ. Đó là sự vận chuyển tự nhiên của âm dương tiêu trưởng; có lúc từ Thái tiến về Bĩ, cũng có lúc từ Bĩ tiến về Thái. Quẻ này nội quái có ba hào dương, là Thái cực thịnh; ngoại quái có ba hào âm, đang từ Thái tiến về Bĩ. Nay gieo được hào ba, là cực điểm của nội quái. Thái trong Thái đã qua, sắp chuyển vào phần âm của ngoại quái, chuyển thành Bĩ trong Thái. Vì vậy lời hào nói không có gì bằng phẳng mà không dốc, không có gì đi mà không trở lại, để ví sự biến đổi của thời vận. Tuy do thời vận khiến nên, vốn không phải điều sức người có thể tranh, nhưng nếu giữ điều vốn có, phòng điều chưa xảy ra, cảnh giác trước gian nan nguy hiểm, thề giữ chính và thành, thì ý chí con người cũng có thể thắng được trời. Vì vậy nói: ‘Giữ chính trong gian nan thì không lỗi; chớ lo về lòng thành ấy, trong việc ăn uống có phúc.’ Danh tiếng của ngài hiển hách, công nghiệp cao lớn, có thể sánh với Y Doãn và Chu Công. Nếu ngài thận trọng từng bước, giữ sự đầy đủ và bảo toàn thái bình, tự nhiên sẽ được quỷ thần âm thầm bảo hộ. Vì vậy Tượng truyện nói: ‘Nơi giao hội của trời đất.’

Về sau tướng công từ chức vụ hiển hách, lui về giữ chức Nội đại thần nhàn hạ, thề suốt đời tận tâm tận lực và đã hoàn thành rực rỡ sự nghiệp phò tá.

Lục tứ: Phấp phới, không giàu, cùng với láng giềng; không cần răn bảo mà có lòng thành.

Lục tứ: Phấp phới, không giàu, cùng với láng giềng; không cần răn bảo mà có lòng thành.

Tượng truyện nói: “‘Phấp phới, không giàu’ là vì tất cả đều mất cái thực. ‘Không cần răn bảo mà có lòng thành’ là nguyện vọng trong lòng.”

‘Phấp phới’ là dáng con chim quạt và chải cánh. ‘Láng giềng’ chỉ Lục ngũ và Thượng lục. Hào này ở thời Thái; phía trên có hai hào âm của ngoại quái, đều ứng với bên dưới. Bản chất âm nhu vốn nên ở vị trí dưới, nay lại ở thể trên nên chí không yên. Vì vậy ba hào trên nối liền nhau, cùng muốn đi xuống. Người ở trên khiêm nhường tiếp nhận người ở dưới, không đợi khuyên răn mà tự nhiên tin nhau và thành thật; đó là ý ‘phấp phới, không giàu, cùng với láng giềng; không cần răn bảo mà có lòng thành’. ‘Không giàu’ là tượng âm hư. Hào này ở lúc vận đã qua giữa, Thái sắp chuyển thành Bĩ; đó là thời tiểu nhân đồng lòng mưu hại chính đạo, quân tử cần phải cảnh giới. Ngũ và Thượng đều là âm, thiếu hiểu biết và năng lực, nên Tượng truyện nói: ‘Phấp phới, không giàu, tất cả đều mất cái thực.’ ‘Tất cả’ chỉ ba hào âm của Khôn; ‘cái thực’ chỉ các hào dương. Âm theo dương cũng như người nghèo dựa vào người giàu. Nay ba hào âm ở ngoài, mất chỗ nương tựa. Tuy nhiên, trong thời Thái, khí âm đi lên, khí dương đi xuống, trên dưới không nghi ngờ nhau; nhờ đó làm hưng thịnh đất nước, gây dựng phúc cho dân. Đó là ý ‘không cần răn bảo mà có lòng thành; ấy là nguyện vọng trong lòng’.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: May được bạn bè đồng lòng và tin cậy nhau, mọi việc đều có thể cùng bàn tính.


○ Hỏi việc kinh doanh: Bề ngoài tình thế rất tốt, nhưng bên trong trống rỗng; hoàn toàn nhờ sự giúp đỡ của người cùng ngành mới thành việc.

○ Hỏi việc chiến tranh: Lương thực quân nhu thiếu thốn, cần cướp lương của địch để cung cấp cho quân đội. Lòng người đoàn kết bền chắc thì có thắng, không có bại.

○ Hỏi gia nghiệp: Vốn là nhà giàu, nay bề ngoài mạnh mà bên trong yếu. May nhờ thân thích láng giềng đều tương trợ, có gì chia nấy, nên không lo thiếu thốn.

○ Hỏi đồ vật bị mất: Chủ yếu là bỏ quên ở nhà hàng xóm; hỏi thử sẽ tìm được.

【Ví dụ】 Một vị hào thương ở Tokyo, ông A, đến thưa: “Từ sau cuộc Duy Tân, tình hình thương mại biến đổi rất lớn, nhà tôi bèn rơi vào vận suy. Muốn lập kế sách duy trì nhưng chưa tìm được phương hướng, phải làm thế nào? Xin gieo một quẻ.” Gieo được quẻ Thái biến thành quẻ Đại Tráng.

Lời đoán nói: Quẻ này là tượng khí trời giáng xuống, tinh khí đất dâng lên, trên dưới an thái, cùng nhau giữ quy củ cũ và đắm trong an lạc, là lúc vô sự. Việc ngài đang hỏi, dù là chủ nhà, người quản lý hay đồng nghiệp, tất cả chỉ biết cố thủ phương pháp cũ, theo quy tắc trước đây, không biết tùy thời mà biến đổi. Gần đây các nước trong thiên hạ thông thương với nhau, thương nghiệp cũng đổi mới theo. Nhà ấy chỉ tin người cũ, không thông hiểu phương pháp mới, lại không thuê nhân tài, khiến việc kinh doanh ngày càng tụt hậu; tài sản tích lũy qua mấy đời rốt cuộc khó mà tiếp nối. Hào bốn của Thái cho thấy Thái đã qua nửa chặng đường và dần bước vào vận suy, hoàn toàn phù hợp với vận nhà ấy. Nay muốn lập kế sách duy trì, e rằng những người cộng sự cũ không giàu kinh nghiệm; nên thay bằng người thích hợp, giao quyền xử lý công việc, để mọi người bỏ phiếu giới thiệu nhằm chọn đúng người, rồi tất cả theo sự chỉ huy của người đó. Những cộng sự cũ cũng không nên lưu luyến nếp cũ, mà nên siêng năng làm việc trong ngành mới. Đó là ý ‘phấp phới, không giàu, cùng với láng giềng; không cần răn bảo mà có lòng thành’. Làm được như vậy thì vận suy của nhà ấy vẫn có thể duy trì.

Ông A nghe theo lời tôi, mạnh dạn cải cách gia phong. Ngay cả các chức như giám sát kho cũng để mọi người bỏ phiếu giới thiệu, quả nhiên tìm được người thích hợp. Đến nay gia đình ông ngày càng phồn thịnh.

Lục ngũ: Đế Ất gả em gái, nhờ đó được phúc và đại cát.

Lục ngũ: Đế Ất gả em gái, nhờ đó được phúc và đại cát.

Tượng truyện nói: “‘Nhờ đó được phúc và đại cát’ là lấy trung đạo mà thực hiện điều nguyện vọng.”

‘Đế Ất’ là cha của Trụ vương bạo ngược nhà Ân. Hào này nhu mà ở ngôi tôn quý, bên dưới ứng chính với cái cương của Cửu nhị theo lẽ âm dương. Biết hạ mình, không cưỡng cầu, mở lòng tiếp nhận người hiền, đó là vị vua ở đúng ngôi, có thể mở ra nền trị bình. Cửu nhị là hào chủ của quẻ, phò tá vua Lục ngũ để hoàn thành sự cai trị. Vì vậy dẫn chuyện ‘Đế Ất gả em gái’: em gái lấy chồng ở bậc dưới và theo chồng, ví với thánh quân biết làm rỗng cái tôi, lễ đãi hiền thần, dựng nước nối nhà, giữ phúc lâu dài. Do đó nói: ‘Đế Ất gả em gái, nhờ đó được phúc và đại cát.’ ‘Đại cát’ nghĩa là cực kỳ tốt lành và hoàn toàn tốt đẹp, nhờ đó thành tựu công cuộc gây dựng thái bình. Con gái nhà vua lấy chồng không phải để thắng chồng mà để đem phúc cho chồng. Khôn trở xuống dưới cũng không phải muốn xâm phạm Càn mà là để giúp Càn. Đó chính là ý của Thoán truyện: ‘Trên dưới giao nhau, chí hướng đồng lòng.’ Quẻ hỗ có Quy Muội, nên lời hào giống lời hào Lục ngũ của Quy Muội. Tượng truyện nói ‘lấy trung đạo mà thực hiện điều nguyện vọng’. Trong thời Thái, nhà vua lo Thái đến cực điểm sẽ biến thành Bĩ, nên thận trọng kính sợ, nguyện giữ Thái đến cùng để mãi hưởng phúc của nền trị bình hoàn hảo. Đó là ý ‘lấy trung đạo mà thực hiện điều nguyện vọng’.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Hiện nay hanh thông; nên khiêm nhường mềm thuận, mọi việc đều cát.


○ Hỏi việc kinh doanh: Nên buôn bán với hải ngoại. Cát.

○ Hỏi nhà cửa: Được người phối ngẫu hiền tài trợ giúp.

○ Hỏi hôn nhân: Nên gả đi xa hoặc cưới người ở xa; cát.

○ Hỏi thai sản: Chủ sinh con gái quý phái.

○ Hỏi bệnh tật: Ắt được thần linh phù hộ. Cát.

○ Hỏi đồ vật bị mất: Người nhặt được nhất định sẽ tự đến trả.

【Ví dụ】 Một người quen rất giàu đến xin xem vận khí việc quản lý gia đình, gieo được quẻ Thái biến thành quẻ Nhu.

Lời đoán nói: Quẻ này là tượng trên dưới thông suốt, chủ và tòng tương ứng, là thời gia chính được an thái. Nay gieo được hào thứ năm. Tài sản của quý phủ là gia nghiệp cũ truyền nối, bản tính của ông thiện lương, gia giáo cũng đầy đủ, nhưng trong thời thế hiện nay khó tránh bị cản trở, không được hanh thông. Nay được hào thứ hai làm người quản lý, có thể gánh vác mọi việc, trung thực và đáng tin; vì vậy gia chính được chỉnh đốn, vận buôn bán càng thêm hưng thịnh. Tuy nhiên, những bạn đồng sự cũ khó tránh có kẻ ngấm ngầm đố kỵ, lén sinh lời gièm pha. May thay, người quản lý ứng với hào hai có thể mềm mỏng thuận theo như người vợ mới cưới; lời gièm pha tự nhiên tiêu tan, nhờ đó hết sức tận lực và giữ vững gia đình. Đó gọi là: “Đế Ất gả em gái, được phúc, đại cát.”

Hào thượng lục: Thành đổ trở lại hào. Chớ dùng quân, hãy từ ấp của mình ban bố mệnh lệnh. Giữ chính thì đáng thẹn.

Hào thượng lục: Thành đổ trở lại hào. Chớ dùng quân, hãy từ ấp của mình ban bố mệnh lệnh. Giữ chính thì đáng thẹn.

Tượng truyện nói: “Thành đổ trở lại hào” là vì mệnh lệnh của nó đã rối loạn.

“Hoàng” là hào quanh thành; không có nước thì gọi là hào, có nước thì gọi là trì. “Thành” do đắp đất mà thành, còn hào do đào đất mà nên. “Thành trở lại hào” nghĩa là thành cao sụp đổ, trở về cái hào cũ. “Từ ấp mình ban mệnh” nghĩa là phát lệnh từ ấp ở dưới rồi báo lên nước ở trên. Hào này ở cuối quẻ Thái, sắp chuyển thành quẻ Bĩ. Tượng lấy vị vua âm nhu yếu đuối, không thể chế ngự bề tôi dương cương, dùng sự biến đổi của thời vận làm lời đoán để chỉ cơ chế thịnh suy tiêu trưởng, nên nói “thành trở lại hào”. Khi thời vận đã suy, thiên mệnh sắp đổi, vua mỏi mệt việc chính sự, bề tôi giỏi gièm pha, bóc lột dân không chừng mực, hối lộ công khai; đến cực điểm ắt nổi loạn. Hơn nữa, điều cốt yếu của việc binh là lấy hòa nhân làm đầu. Lúc hào thượng lục, vận đời đang vào thời Bĩ, lòng người không hòa, như băng với than không thể dung nhau. Nếu dùng binh tranh đấu thì khó biết thành bại. Thành đã hỏng mà không sửa, há có thể dựa vào đó để giao chiến sao? Vì thế răn rằng “chớ dùng quân”. Đến lúc ấy đức vua đã suy, uy quyền hoàn toàn phế bỏ, võ công không thể dùng; chỉ có thể lui về tu văn, không thể mưu đồ kế sách xa, chỉ có thể lui về trị việc gần, nên nói “từ ấp mình ban mệnh”. Tức là cố thủ thành ấp, làm sáng tỏ chính giáo, như lời Mạnh Tử nói “thà chết cũng không rời bỏ”, mong được lòng dân để xoay chuyển vận trời. “Giữ chính thì đáng thẹn” là thánh nhân tiếc rằng không ban mệnh trước khi Bĩ đến, mà chỉ ban mệnh vào lúc Bĩ sắp tới; đáng tiếc đã muộn, dù chính đáng vẫn đáng hổ thẹn. Vì vậy nói “giữ chính thì đáng thẹn”. Tượng truyện nói “mệnh của nó đã loạn”, nghĩa là trên dưới đều loạn. Vị vua chỉ biết giữ thành quả cũ lớn lên sâu trong cung cấm, sống cùng nữ quan và hoạn quan; dù có thầy dạy, phần nhiều không phải chính nhân. Vua thì kiêu xa, dâm dật, lười nhác; bề tôi thì xu nịnh, nghênh đón, không việc gì không làm. Tình cảnh bên dưới bị dồn nén, không thông lên trên; ân trạch của vua khô cạn, ứ đọng, không chảy xuống dưới; gian tặc hiểm độc làm mê loạn ở giữa. Cuối cùng lòng người ly tán, quốc gia sụp đổ. Đó là ý nghĩa của “mệnh của nó đã loạn”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Vận khí hiện nay đảo lộn, nên thận trọng tự giữ mình, phải đề phòng kẻ tiểu nhân xúi giục gây rối.


○ Hỏi việc kinh doanh: Nên làm nhỏ, chờ thời vận.

○ Hỏi việc chinh chiến: Công chiếm thành đất ắt thắng.

○ Hỏi nhà cửa: Đề phòng đảo lộn, tan vỡ; nên vững vàng giữ lấy gia nghiệp.

○ Hỏi sinh nở: Sinh con gái.

○ Hỏi đồ thất lạc: E rằng khó lấy lại được.