☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 22 Núi trên Lửa, Trang sức: hanh thông, đi đến đâu cũng có chút lợi.
䷕
Núi trên Lửa, Trang sức: hanh thông, đi đến đâu cũng có chút lợi.
22 Núi trên Lửa, Trang sức
“Bí [97]” được cấu tạo từ bộ “thảo” và bộ “bối”. Thượng quái của quẻ này là Cấn; Cấn tượng núi. Kinh Thi nói: “Trên núi có cỏ cây tốt đẹp”, vì vậy phần trên của chữ Bí lấy từ “thảo”. Hơn nữa, Cấn còn tượng quả và dây có quả, nên có tượng cỏ cây. Hạ quái là Ly. Ly tượng ba ba, cua, ốc, trai và rùa, tất cả đều liên quan đến vỏ sò, nên phần dưới của chữ Bí lấy từ “bối”. Nhĩ Nhã nói: “Rùa ba chân gọi là bí”, vì vậy phần dưới của quẻ Bí lấy từ “bối”. Tự quái truyện nói: “Bí là trang sức.” Cỏ cây và vỏ sò đều có màu sắc, bởi thế được dùng làm tượng của sự trang sức. Phó thị nói: “Bí là chữ ban thời cổ, chỉ dáng vẻ có văn; nghĩa là loang lổ, rực rỡ và có hoa văn.” Những lời trong Thoán truyện nói về “thiên văn” và “nhân văn” cũng bắt nguồn từ đây. Quẻ này là hình tượng núi ở trên, lửa ở dưới. Khi lửa bên dưới chiếu xuyên lên làm ngọn núi sáng tỏ, cỏ cây đều được phủ bởi ánh rực rỡ của nó. Kinh Thư nói: “Trang sức như cỏ cây”, cũng đủ để chứng minh điều này. Quẻ này nối tiếp quẻ Thệ Hạp. Tự quái truyện nói: “Hạp là hợp lại. Vạn vật không thể tùy tiện hợp lại, nên tiếp theo là Bí.” Tô thị nói: “Hành động theo tình cảm trực tiếp gọi là cẩu; dùng lễ để trang sức tình cảm gọi là bí.” Dùng lễ để trang sức tình cảm là ở chỗ đối đãi với nhau bằng lòng kính trọng. Có kính trọng thì sự kết hợp mới có thể lâu bền. Đó là lý do quẻ Bí đứng sau quẻ Thệ Hạp.
Trang sức: hanh thông; đi đến đâu cũng có chút lợi.
▲ Chữ triện: Trang sức
Thượng thể của quẻ Trang sức là núi; núi chứa đựng chất phác. Hạ thể là lửa; lửa tỏa ánh sáng có hoa văn. Lửa bên dưới chiếu lên thì cái chất có thêm vẻ văn, nên gọi là Trang sức. Văn và chất đan xen, cứng và mềm đạt được trung hòa, nên nói “hanh”. Ánh sáng của lửa Ly gặp núi rồi dừng lại, vì vậy cái tiến lên chỉ tiến được ít; nên nói “đi đến đâu cũng có chút lợi”. Ý nghĩa được Thoán truyện giải thích tường tận.
Tượng truyện nói: “Trang sức thì hanh thông: hào mềm đến tô điểm cho hào cứng, nên hanh thông. Phân hào cứng đưa lên trên để tô điểm cho hào mềm, nên đi đến đâu cũng có chút lợi; đó là văn trời. Văn minh sáng rõ vươn lên, đó là văn người. Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời tiết; xem văn người để giáo hóa và làm thành thiên hạ.”
Quẻ này đối với quẻ Cắn nhai, do Cắn nhai biến thành. Hào mềm sáu năm của Cắn nhai đi xuống thành hào sáu hai, tạo thành Ly ở dưới; đó là “mềm đến mà tô điểm cho cứng”. Hào cứng chín đầu của Cắn nhai đi lên thành hào thượng cửu, tạo thành Cấn ở trên; đó là cứng đi lên mà tô điểm cho mềm. Cứng mềm giao xen tạo thành sự hoàn chỉnh, đó là văn của thiên hạ. “Mềm đến mà tô điểm cho cứng”: Ly sáng ở bên trong, nên không gì không hanh thông. Cứng đi lên tô điểm cho mềm, Cấn dừng ở bên ngoài, nên “đi đến đâu cũng có chút lợi”. Hào trên là cực vị, mà cực là trời. Hào trên nói “trang sức trắng”, tức cái văn tự nhiên, nên gọi là “văn trời”. Hào chín ba ở ngôi người, là chủ của toàn quẻ. Đang vào lúc văn minh cực thịnh, nên gọi là “văn minh tiến lên mà dừng”, tức văn người. “Văn trời” là mặt trời, mặt trăng và các vì sao; ánh sáng rực từ bên trong, là cái văn tự nhiên không nhờ trang sức bên ngoài. “Văn người” là luân lý con người và muôn vật; cương kỷ có trước, lễ tiết và văn sức có sau, tu dưỡng tô điểm mà thành văn. Khi thánh nhân xuất hiện, ngẩng lên xem văn trời, xét vì sao tối và sóc thay nhau với sáng, vì sao lạnh nóng luân phiên, từ đó nhận biết biến đổi của thời vận. Đó là muốn khiến người hợp với trời. Lại cúi xuống xem văn người, dẫn dắt bằng lễ nhạc, giáo hóa bằng thi thư, làm cho thiên hạ được biến đổi và thành tựu. Đó là cách thánh nhân vận dụng đạo Trang sức.
Đem quẻ này xét về việc người, Trang sức là sự duyên sức; chất có trước, văn có sau. Phàm việc gì cần chờ đến sau mới tô điểm thì đều là cái phát sinh về sau. Đó chính là thuyết “vẽ việc trước hết phải có nền lụa trắng”. Nói về lễ, lụa và ngọc là đồ trang sức của lễ; nói về nhạc, chuông và trống là đồ trang sức của nhạc; nói về cung thất, vẻ tráng lệ là đồ trang sức; nói về y phục, hoa văn và màu sắc là đồ trang sức. Văn sức phải nương vào chất mà hiển lộ, như lụa nhận màu nhuộm, ngọc nhận điêu khắc. Có thực chất rồi thêm trang sức thì trang sức đủ làm tăng vẻ đẹp. Quẻ này là tượng núi được lửa chiếu mà rực rỡ; ví như con người, ánh sáng trong tâm xuyên ra ngoài làm diện mạo sáng ngời, việc làm bên trong tu dưỡng và sáng rõ, tiếng tăm nổi bật, đức hạnh làm thân thể đầy đặn, thực chất đạt đến thì danh tiếng tự tìm về. Đó là tượng Trang sức. Xét sáu hào: hào đầu “trang sức ngón chân”, lấy giữ điều nghĩa làm trang sức, được đúng đắn; hào hai “trang sức râu”, lấy quan hệ với hào trên làm khuôn phép, trang sức đúng thời; hào ba “trang sức rực rỡ, nhuần thấm”, trang sức mà giữ chính bền lâu, nên được tốt lành; hào bốn “trang sức rực rỡ, trắng phau”, trang sức đúng ngôi, nên “cuối cùng không lo”; hào năm “trang sức nơi gò vườn”, lấy trọng căn bản, chăm việc thực làm trang sức, cuối cùng “có vui”; hào trên “trang sức trắng, không lỗi”, lấy bỏ vẻ đẹp phù hoa, trở về mộc mạc làm trang sức, nên “được toại chí”. Đó là ý nghĩa sáu hào trong việc điều hòa toàn thể đạo Trang sức. Trong việc người, mọi sự tô vẽ giả dối làm rối loạn sự ngay thẳng, cũng như bỏ cái đẹp mà xuyên tạc cái thực, đều phải quay lại tự xét mình. Đem quẻ này xét về quốc gia: thượng quái là núi, an định bất động, như đức tính của bậc thánh quân vững vàng; hạ quái là lửa, soi sáng xa rộng, như chính giáo triều đình rực rỡ lan tỏa. Trong tôn sùng đức tính, ngoài thi hành chính giáo; có gốc có văn, dùng cứng mềm cùng lúc, đó là cái hay của Trang sức. Mở rộng ra, dùng múa khiên lông làm dân ngoan cố quy phục là “mềm đến tô điểm cho cứng”; cầm rìu búa để yên thiên hạ là “cứng lên tô điểm cho mềm”. Xét thời mà định lịch là theo văn trời; chế định lễ, sáng tác nhạc là làm sáng văn người. Dùng đức lễ thi hành chính trị thì chính trị tốt; dùng trung tín xử quyết án kiện thì án được công bằng. Tượng truyện nói “người quân tử làm sáng tỏ các việc chính sự, không dám tự ý quyết đoán kiện tụng”, chính là ý này. Sáu hào nói về Trang sức theo thứ tự, nghĩa sâu ý xa. Hào đầu cứng ở dưới nên nói “trang sức ngón chân”; đó là người hiền giữ đạo mà không có địa vị. Hào hai là “mềm đến tô điểm cho cứng”, theo cái cứng mà động, như râu chuyển động theo cằm, nên nói “trang sức râu”; đó là bậc quân tử chờ thời mà hành động. Hào ba ở lúc Trang sức thịnh đạt nên nói “trang sức rực rỡ, nhuần thấm”; đó là người trị đạo Trang sức mà giữ được chính bền. Hào bốn đi từ Ly vào Cấn, đạo Trang sức đã biến đổi, nên nói “trang sức rực rỡ, trắng phau”; không theo tục mà sa sút, có thể bỏ vẻ hoa mỹ để tôn trọng thực chất.Hào năm là vị quân chủ cai trị đạo Trang sức, quên vẻ hoa lệ nơi thềm điện, giữ sự mộc mạc của gò vườn, nên nói “trang sức nơi gò vườn”. Đạo làm dày đời sống nhân dân và làm thuần hậu phong tục nằm ở đây. Hào trên là cực điểm của Trang sức; vật đến cực thì tất quay trở lại, nên nói “trang sức trắng”. Tạp quái truyện nói: “Trang sức là không màu.” Trị nước đến mức tốt đẹp, mong không còn hình phạt; đức thịnh đạt đến vô vi—đó là gốc của đạo trị. Được như vậy thì việc thành, giáo hóa cũng hoàn tất.
(Phụ lục) Về câu “Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời vận”:
Tháng giêng năm Minh Trị thứ mười tám, tôi đang tắm suối nước nóng ở Atami. Một đêm, có ngôi sao lớn xuất hiện bên phải mặt trăng. Khi ấy ông Iida Tatsumi nhìn thấy trước, gọi tôi ra xem. Vừa nhìn, tôi như ngộ ra điều gì, nhưng không nói mà đi vào trong. Ở bàn bên cạnh có Fujii Shinzo, nhân viên báo Tự Do. Ông ta nói với Iida: “Ông Takashima vừa nhìn đã đi vào, hẳn là đã hiểu ra điều gì. Anh hãy đến hỏi thử.” Iida bèn sang phòng tôi hỏi nguyên do. Tôi nói: “Điều này khó nói.” Ông hỏi đi hỏi lại, tôi mới nói: “Trong vài ngày tới sẽ có một vị đại thần lâm nguy sắp chết.” Ông hỏi: “Sao ông biết được?” Tôi đáp: “Đó chính là lý do khó nói. Qua nhiều năm thử nghiệm và trải nghiệm, tôi biết rằng các vì sao báo hiệu biến đổi. Nếu ông không tin, cứ chờ xem.” Chưa đầy ba ngày sau, báo đăng tin Điện hạ Arisugawa no Miya băng hà. Ông lại nói: “Lời ông quả nhiên ứng nghiệm, nhưng tôi vẫn không biết vì sao. Xin hãy dạy tôi.” Tôi đáp: “Kinh Dịch chẳng nói sao? ‘Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời vận.’ Chính là ý này.”
Xét toàn quẻ, bên trong là Ly, bên ngoài là Cấn. Ly tượng trưng cho văn minh; đức của quẻ từ trong đạt ra ngoài, lấy văn minh làm chủ, nên quẻ được gọi là Bí, lấy tượng trang sức. Những điều Thoán truyện nói về nhu văn sức cho cương, cương văn sức cho nhu, xem thiên văn và xem nhân văn, đều là dùng văn để trang sức, cũng là nhờ văn mà được hanh thông. Đó là tượng của quẻ Bí: từ Ly mà đến, nhờ Cấn mà hoàn thành. Đây là thể của toàn quẻ. Tượng truyện không nói “lửa ở dưới núi” mà nói “dưới núi có lửa”, ngầm có tượng núi ngăn lửa. “Làm sáng tỏ các việc chính trị” là sáng; “không dám xét xử kiện tụng” là dừng. Điều đó cũng cho thấy văn sức không được vượt quá thực chất. Cả sáu hào đều nói về Bí. Ba hào nội thuộc quẻ Ly vốn có; hào đầu và hào hai, sự trang sức còn nhỏ bé, chỉ đến hào ba mới thịnh. Ba hào ngoại từ Ly vào Cấn; lời nói về Bí ở đó đều gạt bỏ vẻ hoa mỹ, tôn trọng thực chất, nhằm cứu sự thiên lệch của trang sức và trở về căn bản. Vì vậy hào bốn tuy “nghi ngờ” mà “không lo”; hào năm tuy “tiếc nuối” mà “sau cùng tốt lành”; hào trên “không lỗi” mà “đạt được chí hướng”. Khiến con người từ văn sức trở về chất phác, không để bên nào thắng quá mức—đó là chỗ đại thành của đạo Bí. Ý nghĩa toàn quẻ là như vậy.
Đại Tượng nói: Dưới núi có lửa, đó là Bí. Bậc quân tử noi theo đó mà làm sáng tỏ các việc chính trị, không dám tự tiện xét xử kiện tụng.
Dưới Cấn là núi, có Ly là lửa. Cấn gồm một hào dương nhô cao trên hai hào âm; dương bị bít ở bên ngoài, không thông suốt, nên tượng là dừng. Ly có một hào âm nằm giữa hai hào dương, bên trong trống mà chứa ánh sáng, nên tượng là sáng. Bậc quân tử noi theo đó mà “làm sáng tỏ các việc chính trị”. “Các việc chính trị” có thể gồm cả giáo dục và nuôi dưỡng, hoặc quân sự và lương thực; đó đều là những điều Hồng Phạm gọi là “tám việc chính trị”. Tối tăm thì rối loạn, sáng tỏ thì trị vì tốt đẹp; lấy cái cao mà soi xét thì chính giáo được sáng rõ. Sáng suốt giúp xét đoán, nhưng xét quá kỹ sẽ mất sự nghiêm minh; vì vậy khi xét xử kiện tụng lại nói “không dám”. “Không dám” nghĩa là không dám chỉ dùng sự sáng suốt của mình để quyết đoán. Giữ tâm hư tĩnh sáng suốt ở bên trong, thi hành chính sách nhân từ ở bên ngoài; làm sáng điều đáng làm sáng, nhưng không dám dùng sự sáng ấy quá mức. Điều này lấy từ Cấn, nơi ánh sáng dừng lại. Quẻ Phong nói “thi hành hình phạt” bằng sự “sáng mà động”; quẻ Bí nói “không dám” bằng sự sáng mà dừng. Không động thì dân không sợ pháp luật; không dừng thì dân không thể sống yên ổn. Hai mặt hỗ trợ lẫn nhau mà vận hành.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Hiện đang đúng lúc phát động, mọi việc đều thuận lợi, nhưng phía trên có sự ngăn trở nên chưa thể tiến thẳng theo ý muốn.
○ Hỏi việc kinh doanh: Người quản lý chính có tài năng, mạnh mẽ và sáng suốt, đủ sức đảm đương công việc; nhưng người quá tinh khôn tất dễ khắc bạc, ham lợi, vẫn nên lưu ý.
○ Hỏi nhà cửa: E rằng trong nhà đôi lúc phát sinh lửa, may mà được dập tắt ngay nên không có tổn hại lớn.
○ Hỏi việc chinh chiến: Phía trước có núi, tiến công không dễ.
○ Hỏi bệnh tật: Đây là chứng uất hỏa bốc hơi lên trên. Nên làm dịu hỏa, nhưng không được dùng thuốc hàn quá mức khiến chân hỏa bị dập tắt.
○ Hỏi người đi xa: Muốn trở về nhưng lại dừng bước, vẫn chưa quyết định.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
“Bí [97]” được cấu tạo từ bộ “thảo” và bộ “bối”. Thượng quái của quẻ này là Cấn; Cấn tượng núi. Kinh Thi nói: “Trên núi có cỏ cây tốt đẹp”, vì vậy phần trên của chữ Bí lấy từ “thảo”. Hơn nữa, Cấn còn tượng quả và dây có quả, nên có tượng cỏ cây. Hạ quái là Ly. Ly tượng ba ba, cua, ốc, trai và rùa, tất cả đều liên quan đến vỏ sò, nên phần dưới của chữ Bí lấy từ “bối”. Nhĩ Nhã nói: “Rùa ba chân gọi là bí”, vì vậy phần dưới của quẻ Bí lấy từ “bối”. Tự quái truyện nói: “Bí là trang sức.” Cỏ cây và vỏ sò đều có màu sắc, bởi thế được dùng làm tượng của sự trang sức. Phó thị nói: “Bí là chữ ban thời cổ, chỉ dáng vẻ có văn; nghĩa là loang lổ, rực rỡ và có hoa văn.” Những lời trong Thoán truyện nói về “thiên văn” và “nhân văn” cũng bắt nguồn từ đây. Quẻ này là hình tượng núi ở trên, lửa ở dưới. Khi lửa bên dưới chiếu xuyên lên làm ngọn núi sáng tỏ, cỏ cây đều được phủ bởi ánh rực rỡ của nó. Kinh Thư nói: “Trang sức như cỏ cây”, cũng đủ để chứng minh điều này. Quẻ này nối tiếp quẻ Thệ Hạp. Tự quái truyện nói: “Hạp là hợp lại. Vạn vật không thể tùy tiện hợp lại, nên tiếp theo là Bí.” Tô thị nói: “Hành động theo tình cảm trực tiếp gọi là cẩu; dùng lễ để trang sức tình cảm gọi là bí.” Dùng lễ để trang sức tình cảm là ở chỗ đối đãi với nhau bằng lòng kính trọng. Có kính trọng thì sự kết hợp mới có thể lâu bền. Đó là lý do quẻ Bí đứng sau quẻ Thệ Hạp.
Trang sức: hanh thông; đi đến đâu cũng có chút lợi.
▲ Chữ triện: Trang sức
Thượng thể của quẻ Trang sức là núi; núi chứa đựng chất phác. Hạ thể là lửa; lửa tỏa ánh sáng có hoa văn. Lửa bên dưới chiếu lên thì cái chất có thêm vẻ văn, nên gọi là Trang sức. Văn và chất đan xen, cứng và mềm đạt được trung hòa, nên nói “hanh”. Ánh sáng của lửa Ly gặp núi rồi dừng lại, vì vậy cái tiến lên chỉ tiến được ít; nên nói “đi đến đâu cũng có chút lợi”. Ý nghĩa được Thoán truyện giải thích tường tận.
Tượng truyện nói: “Trang sức thì hanh thông: hào mềm đến tô điểm cho hào cứng, nên hanh thông. Phân hào cứng đưa lên trên để tô điểm cho hào mềm, nên đi đến đâu cũng có chút lợi; đó là văn trời. Văn minh sáng rõ vươn lên, đó là văn người. Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời tiết; xem văn người để giáo hóa và làm thành thiên hạ.”
Quẻ này đối với quẻ Cắn nhai, do Cắn nhai biến thành. Hào mềm sáu năm của Cắn nhai đi xuống thành hào sáu hai, tạo thành Ly ở dưới; đó là “mềm đến mà tô điểm cho cứng”. Hào cứng chín đầu của Cắn nhai đi lên thành hào thượng cửu, tạo thành Cấn ở trên; đó là cứng đi lên mà tô điểm cho mềm. Cứng mềm giao xen tạo thành sự hoàn chỉnh, đó là văn của thiên hạ. “Mềm đến mà tô điểm cho cứng”: Ly sáng ở bên trong, nên không gì không hanh thông. Cứng đi lên tô điểm cho mềm, Cấn dừng ở bên ngoài, nên “đi đến đâu cũng có chút lợi”. Hào trên là cực vị, mà cực là trời. Hào trên nói “trang sức trắng”, tức cái văn tự nhiên, nên gọi là “văn trời”. Hào chín ba ở ngôi người, là chủ của toàn quẻ. Đang vào lúc văn minh cực thịnh, nên gọi là “văn minh tiến lên mà dừng”, tức văn người. “Văn trời” là mặt trời, mặt trăng và các vì sao; ánh sáng rực từ bên trong, là cái văn tự nhiên không nhờ trang sức bên ngoài. “Văn người” là luân lý con người và muôn vật; cương kỷ có trước, lễ tiết và văn sức có sau, tu dưỡng tô điểm mà thành văn. Khi thánh nhân xuất hiện, ngẩng lên xem văn trời, xét vì sao tối và sóc thay nhau với sáng, vì sao lạnh nóng luân phiên, từ đó nhận biết biến đổi của thời vận. Đó là muốn khiến người hợp với trời. Lại cúi xuống xem văn người, dẫn dắt bằng lễ nhạc, giáo hóa bằng thi thư, làm cho thiên hạ được biến đổi và thành tựu. Đó là cách thánh nhân vận dụng đạo Trang sức.
Đem quẻ này xét về việc người, Trang sức là sự duyên sức; chất có trước, văn có sau. Phàm việc gì cần chờ đến sau mới tô điểm thì đều là cái phát sinh về sau. Đó chính là thuyết “vẽ việc trước hết phải có nền lụa trắng”. Nói về lễ, lụa và ngọc là đồ trang sức của lễ; nói về nhạc, chuông và trống là đồ trang sức của nhạc; nói về cung thất, vẻ tráng lệ là đồ trang sức; nói về y phục, hoa văn và màu sắc là đồ trang sức. Văn sức phải nương vào chất mà hiển lộ, như lụa nhận màu nhuộm, ngọc nhận điêu khắc. Có thực chất rồi thêm trang sức thì trang sức đủ làm tăng vẻ đẹp. Quẻ này là tượng núi được lửa chiếu mà rực rỡ; ví như con người, ánh sáng trong tâm xuyên ra ngoài làm diện mạo sáng ngời, việc làm bên trong tu dưỡng và sáng rõ, tiếng tăm nổi bật, đức hạnh làm thân thể đầy đặn, thực chất đạt đến thì danh tiếng tự tìm về. Đó là tượng Trang sức. Xét sáu hào: hào đầu “trang sức ngón chân”, lấy giữ điều nghĩa làm trang sức, được đúng đắn; hào hai “trang sức râu”, lấy quan hệ với hào trên làm khuôn phép, trang sức đúng thời; hào ba “trang sức rực rỡ, nhuần thấm”, trang sức mà giữ chính bền lâu, nên được tốt lành; hào bốn “trang sức rực rỡ, trắng phau”, trang sức đúng ngôi, nên “cuối cùng không lo”; hào năm “trang sức nơi gò vườn”, lấy trọng căn bản, chăm việc thực làm trang sức, cuối cùng “có vui”; hào trên “trang sức trắng, không lỗi”, lấy bỏ vẻ đẹp phù hoa, trở về mộc mạc làm trang sức, nên “được toại chí”. Đó là ý nghĩa sáu hào trong việc điều hòa toàn thể đạo Trang sức. Trong việc người, mọi sự tô vẽ giả dối làm rối loạn sự ngay thẳng, cũng như bỏ cái đẹp mà xuyên tạc cái thực, đều phải quay lại tự xét mình. Đem quẻ này xét về quốc gia: thượng quái là núi, an định bất động, như đức tính của bậc thánh quân vững vàng; hạ quái là lửa, soi sáng xa rộng, như chính giáo triều đình rực rỡ lan tỏa. Trong tôn sùng đức tính, ngoài thi hành chính giáo; có gốc có văn, dùng cứng mềm cùng lúc, đó là cái hay của Trang sức. Mở rộng ra, dùng múa khiên lông làm dân ngoan cố quy phục là “mềm đến tô điểm cho cứng”; cầm rìu búa để yên thiên hạ là “cứng lên tô điểm cho mềm”. Xét thời mà định lịch là theo văn trời; chế định lễ, sáng tác nhạc là làm sáng văn người. Dùng đức lễ thi hành chính trị thì chính trị tốt; dùng trung tín xử quyết án kiện thì án được công bằng. Tượng truyện nói “người quân tử làm sáng tỏ các việc chính sự, không dám tự ý quyết đoán kiện tụng”, chính là ý này. Sáu hào nói về Trang sức theo thứ tự, nghĩa sâu ý xa. Hào đầu cứng ở dưới nên nói “trang sức ngón chân”; đó là người hiền giữ đạo mà không có địa vị. Hào hai là “mềm đến tô điểm cho cứng”, theo cái cứng mà động, như râu chuyển động theo cằm, nên nói “trang sức râu”; đó là bậc quân tử chờ thời mà hành động. Hào ba ở lúc Trang sức thịnh đạt nên nói “trang sức rực rỡ, nhuần thấm”; đó là người trị đạo Trang sức mà giữ được chính bền. Hào bốn đi từ Ly vào Cấn, đạo Trang sức đã biến đổi, nên nói “trang sức rực rỡ, trắng phau”; không theo tục mà sa sút, có thể bỏ vẻ hoa mỹ để tôn trọng thực chất.Hào năm là vị quân chủ cai trị đạo Trang sức, quên vẻ hoa lệ nơi thềm điện, giữ sự mộc mạc của gò vườn, nên nói “trang sức nơi gò vườn”. Đạo làm dày đời sống nhân dân và làm thuần hậu phong tục nằm ở đây. Hào trên là cực điểm của Trang sức; vật đến cực thì tất quay trở lại, nên nói “trang sức trắng”. Tạp quái truyện nói: “Trang sức là không màu.” Trị nước đến mức tốt đẹp, mong không còn hình phạt; đức thịnh đạt đến vô vi—đó là gốc của đạo trị. Được như vậy thì việc thành, giáo hóa cũng hoàn tất.
(Phụ lục) Về câu “Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời vận”:
Tháng giêng năm Minh Trị thứ mười tám, tôi đang tắm suối nước nóng ở Atami. Một đêm, có ngôi sao lớn xuất hiện bên phải mặt trăng. Khi ấy ông Iida Tatsumi nhìn thấy trước, gọi tôi ra xem. Vừa nhìn, tôi như ngộ ra điều gì, nhưng không nói mà đi vào trong. Ở bàn bên cạnh có Fujii Shinzo, nhân viên báo Tự Do. Ông ta nói với Iida: “Ông Takashima vừa nhìn đã đi vào, hẳn là đã hiểu ra điều gì. Anh hãy đến hỏi thử.” Iida bèn sang phòng tôi hỏi nguyên do. Tôi nói: “Điều này khó nói.” Ông hỏi đi hỏi lại, tôi mới nói: “Trong vài ngày tới sẽ có một vị đại thần lâm nguy sắp chết.” Ông hỏi: “Sao ông biết được?” Tôi đáp: “Đó chính là lý do khó nói. Qua nhiều năm thử nghiệm và trải nghiệm, tôi biết rằng các vì sao báo hiệu biến đổi. Nếu ông không tin, cứ chờ xem.” Chưa đầy ba ngày sau, báo đăng tin Điện hạ Arisugawa no Miya băng hà. Ông lại nói: “Lời ông quả nhiên ứng nghiệm, nhưng tôi vẫn không biết vì sao. Xin hãy dạy tôi.” Tôi đáp: “Kinh Dịch chẳng nói sao? ‘Xem văn trời để xét sự biến đổi của thời vận.’ Chính là ý này.”
Xét toàn quẻ, bên trong là Ly, bên ngoài là Cấn. Ly tượng trưng cho văn minh; đức của quẻ từ trong đạt ra ngoài, lấy văn minh làm chủ, nên quẻ được gọi là Bí, lấy tượng trang sức. Những điều Thoán truyện nói về nhu văn sức cho cương, cương văn sức cho nhu, xem thiên văn và xem nhân văn, đều là dùng văn để trang sức, cũng là nhờ văn mà được hanh thông. Đó là tượng của quẻ Bí: từ Ly mà đến, nhờ Cấn mà hoàn thành. Đây là thể của toàn quẻ. Tượng truyện không nói “lửa ở dưới núi” mà nói “dưới núi có lửa”, ngầm có tượng núi ngăn lửa. “Làm sáng tỏ các việc chính trị” là sáng; “không dám xét xử kiện tụng” là dừng. Điều đó cũng cho thấy văn sức không được vượt quá thực chất. Cả sáu hào đều nói về Bí. Ba hào nội thuộc quẻ Ly vốn có; hào đầu và hào hai, sự trang sức còn nhỏ bé, chỉ đến hào ba mới thịnh. Ba hào ngoại từ Ly vào Cấn; lời nói về Bí ở đó đều gạt bỏ vẻ hoa mỹ, tôn trọng thực chất, nhằm cứu sự thiên lệch của trang sức và trở về căn bản. Vì vậy hào bốn tuy “nghi ngờ” mà “không lo”; hào năm tuy “tiếc nuối” mà “sau cùng tốt lành”; hào trên “không lỗi” mà “đạt được chí hướng”. Khiến con người từ văn sức trở về chất phác, không để bên nào thắng quá mức—đó là chỗ đại thành của đạo Bí. Ý nghĩa toàn quẻ là như vậy.
Đại Tượng nói: Dưới núi có lửa, đó là Bí. Bậc quân tử noi theo đó mà làm sáng tỏ các việc chính trị, không dám tự tiện xét xử kiện tụng.
Dưới Cấn là núi, có Ly là lửa. Cấn gồm một hào dương nhô cao trên hai hào âm; dương bị bít ở bên ngoài, không thông suốt, nên tượng là dừng. Ly có một hào âm nằm giữa hai hào dương, bên trong trống mà chứa ánh sáng, nên tượng là sáng. Bậc quân tử noi theo đó mà “làm sáng tỏ các việc chính trị”. “Các việc chính trị” có thể gồm cả giáo dục và nuôi dưỡng, hoặc quân sự và lương thực; đó đều là những điều Hồng Phạm gọi là “tám việc chính trị”. Tối tăm thì rối loạn, sáng tỏ thì trị vì tốt đẹp; lấy cái cao mà soi xét thì chính giáo được sáng rõ. Sáng suốt giúp xét đoán, nhưng xét quá kỹ sẽ mất sự nghiêm minh; vì vậy khi xét xử kiện tụng lại nói “không dám”. “Không dám” nghĩa là không dám chỉ dùng sự sáng suốt của mình để quyết đoán. Giữ tâm hư tĩnh sáng suốt ở bên trong, thi hành chính sách nhân từ ở bên ngoài; làm sáng điều đáng làm sáng, nhưng không dám dùng sự sáng ấy quá mức. Điều này lấy từ Cấn, nơi ánh sáng dừng lại. Quẻ Phong nói “thi hành hình phạt” bằng sự “sáng mà động”; quẻ Bí nói “không dám” bằng sự sáng mà dừng. Không động thì dân không sợ pháp luật; không dừng thì dân không thể sống yên ổn. Hai mặt hỗ trợ lẫn nhau mà vận hành.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Hiện đang đúng lúc phát động, mọi việc đều thuận lợi, nhưng phía trên có sự ngăn trở nên chưa thể tiến thẳng theo ý muốn.
○ Hỏi việc kinh doanh: Người quản lý chính có tài năng, mạnh mẽ và sáng suốt, đủ sức đảm đương công việc; nhưng người quá tinh khôn tất dễ khắc bạc, ham lợi, vẫn nên lưu ý.
○ Hỏi nhà cửa: E rằng trong nhà đôi lúc phát sinh lửa, may mà được dập tắt ngay nên không có tổn hại lớn.
○ Hỏi việc chinh chiến: Phía trước có núi, tiến công không dễ.
○ Hỏi bệnh tật: Đây là chứng uất hỏa bốc hơi lên trên. Nên làm dịu hỏa, nhưng không được dùng thuốc hàn quá mức khiến chân hỏa bị dập tắt.
○ Hỏi người đi xa: Muốn trở về nhưng lại dừng bước, vẫn chưa quyết định.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
Sơ Cửu: Trang sức cho ngón chân; bỏ xe mà đi bộ.
Sơ Cửu: Trang sức cho ngón chân; bỏ xe mà đi bộ.
Tượng truyện nói: Bỏ xe mà đi bộ, vì theo nghĩa thì không nên cưỡi.
Hào cương ở dưới cùng, nên nói “trang sức cho ngón chân”. “Đồ” nghĩa là đi bộ. Thời xưa, ngay cả người theo sau đại phu cũng không thể đi bộ, nhưng Sơ Cửu không có địa vị, nên nói “bỏ xe mà đi bộ”. Trang sức cho ngón chân nghĩa là thực hành nhân, bước trên nghĩa, dùng nhân nghĩa để trang sức cho đôi chân; không coi cưỡi xe là sự trang sức mà coi đi bộ là sự trang sức. Cưỡi xe là điều thế gian xem là vẻ vang, nhưng quân tử lại lấy làm hổ thẹn, vì thế bỏ đi. Tượng truyện nói “theo nghĩa thì không nên cưỡi”, là lời vui mừng vì Sơ Cửu có thể giữ vững đạo nghĩa.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Tính vốn thanh cao, không hợp xu thế đương thời; được hanh thông nhờ đức, không nhờ danh tiếng.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hẳn là buôn bán phải tự mang vác hàng hóa, không phải nghề vận chuyển bằng thuyền xe; tuy nhỏ nhưng vẫn hanh thông.
○ Hỏi nhà cửa: Đây là gia đình dựng nghiệp bằng cần kiệm, khá có phong thái biết đủ nên không chuốc nhục.
○ Hỏi việc chinh chiến: Lục quân có lợi.
○ Hỏi người đi xa: Gặp trở ngại giữa đường, phải đi bộ trở về.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh mới khởi phát, không dùng thuốc cũng có thể khỏi.
○ Hỏi việc kiện tụng: E rằng sẽ gặp tai họa bị trừng phạt hoặc lao dịch.
○ Hỏi đồ thất lạc: Đã bị bỏ đi rồi, tìm kiếm cũng uổng công.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ mười chín, gieo quẻ hỏi vận khí của một vị quý hiển nọ, được quẻ Bí biến thành Cấn.
Đoán rằng: Quẻ này trên là Cấn, dưới là Ly. Câu “núi cao khiến người ngưỡng vọng mà dừng bước” chỉ đức vọng của vị quý hiển nọ; câu “ánh sáng cao chiếu khắp nơi” chỉ công nghiệp của vị ấy. Đó là điều người đời hiện nay đều biết. Hiện ông đã lui khỏi chức vị, sống nhàn cư. Nay gieo được Sơ Cửu của quẻ Bí, nói “trang sức cho ngón chân, bỏ xe mà đi bộ”, tượng hào hoàn toàn phù hợp. Hào đầu ở địa vị vô vị, dương cương ở dưới; Bí là văn sức, ngón chân là chân, lại liên hệ với sự dừng nên có tượng lui về. “Bỏ xe” cũng như bỏ địa vị mà ẩn cư; “đi bộ” là đi, biểu thị sẽ lại đứng dậy. Bỏ xe đi bộ nghĩa là vị quý hiển này sẽ âm thầm đi giữa dân chúng, dò xét dân tình phong tục, làm tăng ánh sáng của nền trị bằng văn minh, bổ sung những điều chưa được tu chỉnh từ sau cuộc Duy tân. Đó là chí nguyện thầm kín trong lòng vị ấy, được tượng hào chỉ rõ. Là công thần khai quốc của cuộc Duy tân, dù tạm thời lui bước, lẽ nào ông lại quên thiên hạ dù chỉ một ngày? Nay ở hào đầu, Bí còn chưa rực rỡ; đến hào ba thì sự trang sức thịnh vượng, đến hào sáu vẫn có thể từ văn sức trở về căn bản, phù hợp với trung đạo. Vận Bí đang bắt đầu phát triển. Biết vị quý hiển ấy, có thể đoán rằng về sau đức vọng càng cao, công nghiệp càng lớn. Lời Thoán “xem thiên văn để xét sự biến đổi của thời tiết, xem nhân văn để giáo hóa và làm thành thiên hạ” đều có thể thấy ở vị quý hiển này.
Quả nhiên kết quả đúng như lời đoán. Nay ông phụ tá triều chính, danh vọng cao như núi, gặp được thời hội của minh quân và lương thần. Đó chính là chỗ khiến Bí thực sự là Bí.
Tượng truyện nói: Bỏ xe mà đi bộ, vì theo nghĩa thì không nên cưỡi.
Hào cương ở dưới cùng, nên nói “trang sức cho ngón chân”. “Đồ” nghĩa là đi bộ. Thời xưa, ngay cả người theo sau đại phu cũng không thể đi bộ, nhưng Sơ Cửu không có địa vị, nên nói “bỏ xe mà đi bộ”. Trang sức cho ngón chân nghĩa là thực hành nhân, bước trên nghĩa, dùng nhân nghĩa để trang sức cho đôi chân; không coi cưỡi xe là sự trang sức mà coi đi bộ là sự trang sức. Cưỡi xe là điều thế gian xem là vẻ vang, nhưng quân tử lại lấy làm hổ thẹn, vì thế bỏ đi. Tượng truyện nói “theo nghĩa thì không nên cưỡi”, là lời vui mừng vì Sơ Cửu có thể giữ vững đạo nghĩa.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Tính vốn thanh cao, không hợp xu thế đương thời; được hanh thông nhờ đức, không nhờ danh tiếng.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hẳn là buôn bán phải tự mang vác hàng hóa, không phải nghề vận chuyển bằng thuyền xe; tuy nhỏ nhưng vẫn hanh thông.
○ Hỏi nhà cửa: Đây là gia đình dựng nghiệp bằng cần kiệm, khá có phong thái biết đủ nên không chuốc nhục.
○ Hỏi việc chinh chiến: Lục quân có lợi.
○ Hỏi người đi xa: Gặp trở ngại giữa đường, phải đi bộ trở về.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh mới khởi phát, không dùng thuốc cũng có thể khỏi.
○ Hỏi việc kiện tụng: E rằng sẽ gặp tai họa bị trừng phạt hoặc lao dịch.
○ Hỏi đồ thất lạc: Đã bị bỏ đi rồi, tìm kiếm cũng uổng công.
【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ mười chín, gieo quẻ hỏi vận khí của một vị quý hiển nọ, được quẻ Bí biến thành Cấn.
Đoán rằng: Quẻ này trên là Cấn, dưới là Ly. Câu “núi cao khiến người ngưỡng vọng mà dừng bước” chỉ đức vọng của vị quý hiển nọ; câu “ánh sáng cao chiếu khắp nơi” chỉ công nghiệp của vị ấy. Đó là điều người đời hiện nay đều biết. Hiện ông đã lui khỏi chức vị, sống nhàn cư. Nay gieo được Sơ Cửu của quẻ Bí, nói “trang sức cho ngón chân, bỏ xe mà đi bộ”, tượng hào hoàn toàn phù hợp. Hào đầu ở địa vị vô vị, dương cương ở dưới; Bí là văn sức, ngón chân là chân, lại liên hệ với sự dừng nên có tượng lui về. “Bỏ xe” cũng như bỏ địa vị mà ẩn cư; “đi bộ” là đi, biểu thị sẽ lại đứng dậy. Bỏ xe đi bộ nghĩa là vị quý hiển này sẽ âm thầm đi giữa dân chúng, dò xét dân tình phong tục, làm tăng ánh sáng của nền trị bằng văn minh, bổ sung những điều chưa được tu chỉnh từ sau cuộc Duy tân. Đó là chí nguyện thầm kín trong lòng vị ấy, được tượng hào chỉ rõ. Là công thần khai quốc của cuộc Duy tân, dù tạm thời lui bước, lẽ nào ông lại quên thiên hạ dù chỉ một ngày? Nay ở hào đầu, Bí còn chưa rực rỡ; đến hào ba thì sự trang sức thịnh vượng, đến hào sáu vẫn có thể từ văn sức trở về căn bản, phù hợp với trung đạo. Vận Bí đang bắt đầu phát triển. Biết vị quý hiển ấy, có thể đoán rằng về sau đức vọng càng cao, công nghiệp càng lớn. Lời Thoán “xem thiên văn để xét sự biến đổi của thời tiết, xem nhân văn để giáo hóa và làm thành thiên hạ” đều có thể thấy ở vị quý hiển này.
Quả nhiên kết quả đúng như lời đoán. Nay ông phụ tá triều chính, danh vọng cao như núi, gặp được thời hội của minh quân và lương thần. Đó chính là chỗ khiến Bí thực sự là Bí.
Lục Nhị: Trang sức cho râu.
Lục Nhị: Trang sức cho râu.
Tượng truyện nói: Trang sức cho râu, cùng hưng khởi với hào trên.
Hào hai là hào nhu ở vị trí nhu. Hào này do hào nhu Lục Ngũ của quẻ Phệ Hạp đến, biến thành Lục Nhị, đúng với lời Thoán truyện “nhu đến mà văn sức cho cương”. Tượng được lấy từ hàm, nên hào này nói “râu”. Râu chuyển động theo hàm, vì vậy chú giải nói: râu là vật bám ở phía trên. Nhu đến văn sức cho cương; văn sức cho cương là Bí, nên nói “trang sức cho râu”. Râu và mày là vẻ uy nghi trong diện mạo con người; đó chính là ý giữ vẻ nhìn ngắm nghiêm trang. Tượng truyện nói “cùng hưng khởi với hào trên”. “Hào trên” là quẻ Phệ Hạp ở thượng quái; “hưng” nghĩa là động. Nội quái của Phệ Hạp là Chấn, Chấn tượng về động. Râu bám ở phía trên, còn hào này đến từ Phệ Hạp, nên nói “cùng hưng khởi với hào trên”.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Hiện thời bình thường, chỉ có thể nhờ cậy người khác mà thành việc.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hợp tác với phú thương thì nhất định sẽ rất hưng vượng. Tốt lành.
○ Hỏi việc chinh chiến: Phải tiến quân cùng đại quân thì mới có thể thắng.
○ Hỏi nhà cửa: Nhờ phúc đức của bậc trên mà làm rạng rỡ và phát triển gia môn.
○ Hỏi hôn nhân: “Gả em gái thì phải chờ”, vẫn nên chờ đợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng tư năm Minh Trị thứ mười bốn, gieo quẻ hỏi về Quốc hội. Khi ấy dư luận trong nước đều mong mở Quốc hội, ý kiến bàn luận rối ren, chưa thể phỏng đoán mà quyết định, nên đặc biệt gieo một quẻ, được Bí biến thành Đại Súc.
Đoán rằng: Từ hào hai đến hào trên là năm năm; trong khoảng ấy không thấy hung họa. Hạ quái của Bí là Bác; hào trên của Bác ứng với năm thứ sáu, tai họa càng nghiêm trọng. Nay muốn xét cách tránh dữ tìm lành thì phải khảo sát quẻ biến Đại Súc. Trước hết xin nói về tượng dữ khi Bí kết thúc và Bác bắt đầu, rồi trình bày lại nghĩa của quẻ Đại Súc.
Thoán từ nói: “Bí hanh, hơi có lợi về việc có chỗ đi.” Bí là văn sức bên ngoài; phàm cái gì trang sức ở ngoài thì bên trong ắt có chỗ thiếu. Nay mở Quốc hội, các phủ huyện bầu đại biểu, tài năng và học thức của họ chưa chắc hoàn toàn, phần nhiều chỉ là tô điểm bề ngoài. Thoán truyện nói “nhu đến văn sức cho cương, cương lên văn sức cho nhu”, nghĩa là cái nhu của thượng quái đến trang sức cho cái cương của hạ quái, cái cương của hạ quái lên trang sức cho cái nhu của thượng quái. Trên dưới dùng cương nhu trang sức lẫn nhau; đó là nghĩa của Thoán truyện. Áp vào Quốc hội, thượng quái là quan lại, hạ quái là đại biểu, mỗi bên dùng nghị luận để đối kháng nhau. “Bí hanh” cho biết việc Quốc hội sẽ thông suốt; “hơi có lợi về việc có chỗ đi” cho biết tuy Quốc hội có thể tiến hành nhưng khó tránh khỏi có lúc lui hoặc dừng. “Xem thiên văn để xét sự biến đổi của thời” nghĩa là phải xét thời cơ, cân nhắc thế lực trong thiên hạ để giữ quốc thể trường tồn. “Xem nhân văn để giáo hóa và làm thành thiên hạ” nghĩa là thuận theo hướng lòng dân và sự hưng thịnh của văn vận; mở Quốc hội, hợp chí trên dưới, có thể mưu tính sự an ninh của quốc gia. Đó là cách giải thích theo nghĩa Thoán truyện. Xét tiếp sáu hào: Hào đầu nói “trang sức cho ngón chân, bỏ xe mà đi bộ”. Hào đầu ở dưới, không có địa vị; nghĩa là dân chúng thấp hèn cũng chống gậy đi bộ, vội vã đến xem sự giáo hóa bằng đức. Hào hai nói “trang sức cho râu”. Tượng truyện nói “trang sức cho râu, cùng hưng khởi với hào trên”. Hào hai tuy cao hơn hào đầu một bậc, nhưng người ở đó không thể tự chủ, chỉ theo nghị luận của người khác làm nghị luận của mình, như râu chuyển động theo hàm. Hào ba nói “trang sức mà nhuần thấm, giữ chính bền lâu thì tốt”. Tượng truyện giải rằng “cái tốt của giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được”. Hào ba ở trên hạ quái, gần và tương ứng với hào bốn. “Trang sức mà nhuần thấm” chỉ sự trang sức thịnh vượng. Hào ba là dương ở vị dương, làm chủ sự trang sức trong quẻ và làm chủ nghị luận trong hội; giữ luận điểm không đổi, có thể giữ “chính bền lâu”, nên tốt. Tượng nói “cuối cùng không ai lấn át được”, nghĩa là không ai có thể chống lại. Hào bốn nói “trang sức mà trắng phau, ngựa trắng bay vụt, không phải giặc mà là hôn phối”. Hào này là địa vị của chính phủ, gần hào ba. “Trang sức mà trắng phau” nghĩa là quan lại trình bày tình hình những việc chính phủ đã thi hành trước đây; “ngựa trắng bay vụt” nghĩa là người nghe hiểu thực trạng của chính phủ; “không phải giặc mà là hôn phối” nghĩa là cảm phục sự siêng năng của quan lại, cùng hỗ trợ và tán thành. Hào năm nói “trang sức ở gò vườn, bó lụa nhỏ bé”. Trong số các đại biểu có người biết hiền sĩ nơi gò vườn, nên tiến cử lên triều; cần chuẩn bị những bó lụa nhỏ để mời họ ra cùng bàn việc nước. Vì vậy nói “sau cùng tốt lành”.Hào trên nói: “Trang sức trắng thuần, không lỗi.” Đó là các lão thần đã lui khỏi địa vị. Việc sáng lập Quốc hội khó tránh khỏi có phần gần với tô điểm bề ngoài; cuối cùng nên gạt bỏ hoa mỹ, tôn trọng thực chất. Đó là đạo trở về căn bản. Từ đó tiết kiệm tài chính, giảm chi phí, có thể mưu tính kế sách làm giàu cho đất nước.
Kết thúc của Bí là khởi đầu của Bác, nên cần bàn thêm về nghĩa quẻ Bác. Thoán truyện của Bác nói: “Bác là bóc lột, cái nhu làm biến đổi cái cương. Không lợi về việc có chỗ đi, vì đạo của tiểu nhân đang lớn.” “Nhu làm biến đổi cương” nghĩa là thời “đạo tiểu nhân lớn mạnh”, nên nói “không lợi về việc có chỗ đi”, đó là lời răn. Hào đầu nói “bóc giường từ chân, khinh thường chính thì hung”. Âm bóc dương từ dưới lên trên, tức tà hại chính. Đây là tượng một võ nhân ghét dân chúng dần tiến lên và gây sức ép với người bên trên, muốn đè nén, tiêu diệt phe nhóm của họ. Hào hai nói “bóc giường từ khung, khinh thường chính thì hung”. “Khung” là thanh ngang của giường, chỉ người đứng đầu phe nhóm. Hào đầu đã diệt phe nhóm, nay lại muốn tiêu diệt cả người đứng đầu. Hào ba nói “bóc mà không lỗi”. Phe nhóm ấy bị thời thế kích động, đột nhiên đổi ý, không còn màng đến danh phận; đây là điềm xấu nhất. Hào bốn nói “bóc giường đến da thịt, hung”. Nhiều hào âm dồn ép lên trên, mỗi lúc một gần, tai họa càng nghiêm trọng. Hào năm nói “xâu cá, được cung nhân sủng ái, không gì bất lợi”. Kẻ bóc lột là điềm hung, nhưng thuận theo thì có lợi; đó là tượng tạm thời uốn mình để bảo toàn. Hào trên nói “quả lớn không bị ăn. Quân tử được xe, tiểu nhân bị bóc mái nhà”. Dù sự bóc lột đến cực điểm, nhất định vẫn còn một quả lớn. Quân tử ở vào đó thì cuối cùng được yêu mến và ủng hộ; tiểu nhân ở vào đó thì không còn chỗ dung thân. Nghĩa là tiểu nhân muốn bóc lột quân tử thì chính mình cũng phải chịu tai họa ấy.
Trên đây là tượng quẻ chuyển từ Bí sang Bác. Bí là quẻ của văn minh và dừng lại. Người đời hiện nay chỉ ngưỡng mộ văn hóa Âu Anh mà không xét thời thế có cho phép hay không, khó tránh khỏi tai họa bong tróc như quẻ Bác đã nói. Vì vậy quân tử phải coi trọng việc nghĩ đến hoạn nạn và phòng ngừa từ trước. Nay gieo được Bí biến thành Đại Súc, nên sẽ giải thích thêm nghĩa của Đại Súc để chỉ cho người xem quẻ.
Thoán truyện của quẻ Đại Súc nói: “Đại Súc là cứng mạnh, đôn hậu chân thực, rạng rỡ sáng ngời, mỗi ngày làm mới đức của mình. Cái cứng ở trên mà tôn trọng người hiền; có thể ngăn cái mạnh, đó là chính lớn. Không ăn ở nhà mà tốt lành, tức nuôi dưỡng người hiền. Qua sông lớn có lợi, tức ứng với Trời.” Đại Súc là sự tích chứa lớn lao. Cốt yếu là tôn trọng khách quý, nuôi dưỡng người hiền để dùng cho việc nước, đủ sức làm vẻ vang thời thái bình. Hào đầu nói: “Có nguy, nên dừng lại”; Tượng truyện nói: “Có nguy, nên dừng lại, là không chuốc lấy tai họa.” Hào đầu lấy hào bốn làm chính ứng, muốn tiến nhưng hào bốn giữ lại, tức bị Cấn ngăn chặn, có tượng không đạt được chí hướng. Hào hai nói: “Xe tuột chốt trục”; Tượng truyện nói: “Xe tuột chốt trục, trong lòng không lo.” Hào hai thấy hào đầu và hào ba ngăn mình, có tượng cùng một nguyện vọng nên chịu khuất phục và bị ức chế. Hào ba nói: “Ngựa tốt đuổi nhau, lợi về giữ bền trong gian nan; hằng ngày luyện xe và phòng vệ, đi đâu cũng có lợi.” Tượng truyện nói: “Đi đâu cũng có lợi, là hợp chí với người trên.” Hào ba có tài cứng mạnh, muốn tiến nhanh để đảm đương công việc. Bị hào bốn tích giữ, không thể tiến, bèn đổi chí hướng, toan tính việc khai khẩn, chăn nuôi. “Ngựa tốt đuổi nhau” và “lợi về giữ bền trong gian nan” đều là tượng khai phá và chăn nuôi. “Luyện xe và phòng vệ” cùng “đi đâu cũng có lợi” lại là tượng rèn luyện quân sự. Những việc ấy có ích cho chính phủ, nên nói “hợp chí với người trên”. Hào bốn nói: “Đeo gông cho bê non, đại cát”; Tượng truyện nói: “Lục tứ đại cát, có niềm vui.” Hào này ở địa vị quan huyện. Quan huyện có thể khiến những người thuộc sĩ tộc không có tài sản làm việc chăn nuôi, khai khẩn, giống như người chăn dắt bê non: dễ nuôi, dễ chế ngự. Hào năm nói: “Nanh của lợn thiến, tốt lành”; Tượng truyện nói: “Lục ngũ tốt lành, có khánh phúc.” Hào này cũng giống hào sáu-bốn. Thượng cửu nói: “Gánh con đường của Trời, hanh thông”; Tượng truyện nói: “Gánh con đường của Trời, đạo được thi hành rộng lớn.” Đó là tượng sĩ dân trong cả nước đều có chỗ thích đáng, thiên hạ thái bình.
Trên đây là lời đoán về Quốc hội. Đến tháng bảy năm sau, chính phủ ban hành ba điều để thực hiện chính lệnh: một là ra lệnh mở Quốc hội vào năm Minh Trị thứ hai mươi ba; hai là cứu giúp các sĩ tộc không có vốn bằng cách cấp tám trăm nghìn yên tiền trợ nghiệp; ba là chính phủ dốc sức xây dựng đường sắt, dự định đặt tuyến qua Trung Sơn đạo và vùng Áo Vũ, đồng thời bảo đảm lãi suất tám phần trăm mỗi năm. Tất cả đều ứng hiện trong ý nghĩa các hào của quẻ Đại Súc, hợp với thời thế. Sự linh diệu của tượng trong Kinh Dịch chính là như vậy.
Tượng truyện nói: Trang sức cho râu, cùng hưng khởi với hào trên.
Hào hai là hào nhu ở vị trí nhu. Hào này do hào nhu Lục Ngũ của quẻ Phệ Hạp đến, biến thành Lục Nhị, đúng với lời Thoán truyện “nhu đến mà văn sức cho cương”. Tượng được lấy từ hàm, nên hào này nói “râu”. Râu chuyển động theo hàm, vì vậy chú giải nói: râu là vật bám ở phía trên. Nhu đến văn sức cho cương; văn sức cho cương là Bí, nên nói “trang sức cho râu”. Râu và mày là vẻ uy nghi trong diện mạo con người; đó chính là ý giữ vẻ nhìn ngắm nghiêm trang. Tượng truyện nói “cùng hưng khởi với hào trên”. “Hào trên” là quẻ Phệ Hạp ở thượng quái; “hưng” nghĩa là động. Nội quái của Phệ Hạp là Chấn, Chấn tượng về động. Râu bám ở phía trên, còn hào này đến từ Phệ Hạp, nên nói “cùng hưng khởi với hào trên”.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Hiện thời bình thường, chỉ có thể nhờ cậy người khác mà thành việc.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hợp tác với phú thương thì nhất định sẽ rất hưng vượng. Tốt lành.
○ Hỏi việc chinh chiến: Phải tiến quân cùng đại quân thì mới có thể thắng.
○ Hỏi nhà cửa: Nhờ phúc đức của bậc trên mà làm rạng rỡ và phát triển gia môn.
○ Hỏi hôn nhân: “Gả em gái thì phải chờ”, vẫn nên chờ đợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng tư năm Minh Trị thứ mười bốn, gieo quẻ hỏi về Quốc hội. Khi ấy dư luận trong nước đều mong mở Quốc hội, ý kiến bàn luận rối ren, chưa thể phỏng đoán mà quyết định, nên đặc biệt gieo một quẻ, được Bí biến thành Đại Súc.
Đoán rằng: Từ hào hai đến hào trên là năm năm; trong khoảng ấy không thấy hung họa. Hạ quái của Bí là Bác; hào trên của Bác ứng với năm thứ sáu, tai họa càng nghiêm trọng. Nay muốn xét cách tránh dữ tìm lành thì phải khảo sát quẻ biến Đại Súc. Trước hết xin nói về tượng dữ khi Bí kết thúc và Bác bắt đầu, rồi trình bày lại nghĩa của quẻ Đại Súc.
Thoán từ nói: “Bí hanh, hơi có lợi về việc có chỗ đi.” Bí là văn sức bên ngoài; phàm cái gì trang sức ở ngoài thì bên trong ắt có chỗ thiếu. Nay mở Quốc hội, các phủ huyện bầu đại biểu, tài năng và học thức của họ chưa chắc hoàn toàn, phần nhiều chỉ là tô điểm bề ngoài. Thoán truyện nói “nhu đến văn sức cho cương, cương lên văn sức cho nhu”, nghĩa là cái nhu của thượng quái đến trang sức cho cái cương của hạ quái, cái cương của hạ quái lên trang sức cho cái nhu của thượng quái. Trên dưới dùng cương nhu trang sức lẫn nhau; đó là nghĩa của Thoán truyện. Áp vào Quốc hội, thượng quái là quan lại, hạ quái là đại biểu, mỗi bên dùng nghị luận để đối kháng nhau. “Bí hanh” cho biết việc Quốc hội sẽ thông suốt; “hơi có lợi về việc có chỗ đi” cho biết tuy Quốc hội có thể tiến hành nhưng khó tránh khỏi có lúc lui hoặc dừng. “Xem thiên văn để xét sự biến đổi của thời” nghĩa là phải xét thời cơ, cân nhắc thế lực trong thiên hạ để giữ quốc thể trường tồn. “Xem nhân văn để giáo hóa và làm thành thiên hạ” nghĩa là thuận theo hướng lòng dân và sự hưng thịnh của văn vận; mở Quốc hội, hợp chí trên dưới, có thể mưu tính sự an ninh của quốc gia. Đó là cách giải thích theo nghĩa Thoán truyện. Xét tiếp sáu hào: Hào đầu nói “trang sức cho ngón chân, bỏ xe mà đi bộ”. Hào đầu ở dưới, không có địa vị; nghĩa là dân chúng thấp hèn cũng chống gậy đi bộ, vội vã đến xem sự giáo hóa bằng đức. Hào hai nói “trang sức cho râu”. Tượng truyện nói “trang sức cho râu, cùng hưng khởi với hào trên”. Hào hai tuy cao hơn hào đầu một bậc, nhưng người ở đó không thể tự chủ, chỉ theo nghị luận của người khác làm nghị luận của mình, như râu chuyển động theo hàm. Hào ba nói “trang sức mà nhuần thấm, giữ chính bền lâu thì tốt”. Tượng truyện giải rằng “cái tốt của giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được”. Hào ba ở trên hạ quái, gần và tương ứng với hào bốn. “Trang sức mà nhuần thấm” chỉ sự trang sức thịnh vượng. Hào ba là dương ở vị dương, làm chủ sự trang sức trong quẻ và làm chủ nghị luận trong hội; giữ luận điểm không đổi, có thể giữ “chính bền lâu”, nên tốt. Tượng nói “cuối cùng không ai lấn át được”, nghĩa là không ai có thể chống lại. Hào bốn nói “trang sức mà trắng phau, ngựa trắng bay vụt, không phải giặc mà là hôn phối”. Hào này là địa vị của chính phủ, gần hào ba. “Trang sức mà trắng phau” nghĩa là quan lại trình bày tình hình những việc chính phủ đã thi hành trước đây; “ngựa trắng bay vụt” nghĩa là người nghe hiểu thực trạng của chính phủ; “không phải giặc mà là hôn phối” nghĩa là cảm phục sự siêng năng của quan lại, cùng hỗ trợ và tán thành. Hào năm nói “trang sức ở gò vườn, bó lụa nhỏ bé”. Trong số các đại biểu có người biết hiền sĩ nơi gò vườn, nên tiến cử lên triều; cần chuẩn bị những bó lụa nhỏ để mời họ ra cùng bàn việc nước. Vì vậy nói “sau cùng tốt lành”.Hào trên nói: “Trang sức trắng thuần, không lỗi.” Đó là các lão thần đã lui khỏi địa vị. Việc sáng lập Quốc hội khó tránh khỏi có phần gần với tô điểm bề ngoài; cuối cùng nên gạt bỏ hoa mỹ, tôn trọng thực chất. Đó là đạo trở về căn bản. Từ đó tiết kiệm tài chính, giảm chi phí, có thể mưu tính kế sách làm giàu cho đất nước.
Kết thúc của Bí là khởi đầu của Bác, nên cần bàn thêm về nghĩa quẻ Bác. Thoán truyện của Bác nói: “Bác là bóc lột, cái nhu làm biến đổi cái cương. Không lợi về việc có chỗ đi, vì đạo của tiểu nhân đang lớn.” “Nhu làm biến đổi cương” nghĩa là thời “đạo tiểu nhân lớn mạnh”, nên nói “không lợi về việc có chỗ đi”, đó là lời răn. Hào đầu nói “bóc giường từ chân, khinh thường chính thì hung”. Âm bóc dương từ dưới lên trên, tức tà hại chính. Đây là tượng một võ nhân ghét dân chúng dần tiến lên và gây sức ép với người bên trên, muốn đè nén, tiêu diệt phe nhóm của họ. Hào hai nói “bóc giường từ khung, khinh thường chính thì hung”. “Khung” là thanh ngang của giường, chỉ người đứng đầu phe nhóm. Hào đầu đã diệt phe nhóm, nay lại muốn tiêu diệt cả người đứng đầu. Hào ba nói “bóc mà không lỗi”. Phe nhóm ấy bị thời thế kích động, đột nhiên đổi ý, không còn màng đến danh phận; đây là điềm xấu nhất. Hào bốn nói “bóc giường đến da thịt, hung”. Nhiều hào âm dồn ép lên trên, mỗi lúc một gần, tai họa càng nghiêm trọng. Hào năm nói “xâu cá, được cung nhân sủng ái, không gì bất lợi”. Kẻ bóc lột là điềm hung, nhưng thuận theo thì có lợi; đó là tượng tạm thời uốn mình để bảo toàn. Hào trên nói “quả lớn không bị ăn. Quân tử được xe, tiểu nhân bị bóc mái nhà”. Dù sự bóc lột đến cực điểm, nhất định vẫn còn một quả lớn. Quân tử ở vào đó thì cuối cùng được yêu mến và ủng hộ; tiểu nhân ở vào đó thì không còn chỗ dung thân. Nghĩa là tiểu nhân muốn bóc lột quân tử thì chính mình cũng phải chịu tai họa ấy.
Trên đây là tượng quẻ chuyển từ Bí sang Bác. Bí là quẻ của văn minh và dừng lại. Người đời hiện nay chỉ ngưỡng mộ văn hóa Âu Anh mà không xét thời thế có cho phép hay không, khó tránh khỏi tai họa bong tróc như quẻ Bác đã nói. Vì vậy quân tử phải coi trọng việc nghĩ đến hoạn nạn và phòng ngừa từ trước. Nay gieo được Bí biến thành Đại Súc, nên sẽ giải thích thêm nghĩa của Đại Súc để chỉ cho người xem quẻ.
Thoán truyện của quẻ Đại Súc nói: “Đại Súc là cứng mạnh, đôn hậu chân thực, rạng rỡ sáng ngời, mỗi ngày làm mới đức của mình. Cái cứng ở trên mà tôn trọng người hiền; có thể ngăn cái mạnh, đó là chính lớn. Không ăn ở nhà mà tốt lành, tức nuôi dưỡng người hiền. Qua sông lớn có lợi, tức ứng với Trời.” Đại Súc là sự tích chứa lớn lao. Cốt yếu là tôn trọng khách quý, nuôi dưỡng người hiền để dùng cho việc nước, đủ sức làm vẻ vang thời thái bình. Hào đầu nói: “Có nguy, nên dừng lại”; Tượng truyện nói: “Có nguy, nên dừng lại, là không chuốc lấy tai họa.” Hào đầu lấy hào bốn làm chính ứng, muốn tiến nhưng hào bốn giữ lại, tức bị Cấn ngăn chặn, có tượng không đạt được chí hướng. Hào hai nói: “Xe tuột chốt trục”; Tượng truyện nói: “Xe tuột chốt trục, trong lòng không lo.” Hào hai thấy hào đầu và hào ba ngăn mình, có tượng cùng một nguyện vọng nên chịu khuất phục và bị ức chế. Hào ba nói: “Ngựa tốt đuổi nhau, lợi về giữ bền trong gian nan; hằng ngày luyện xe và phòng vệ, đi đâu cũng có lợi.” Tượng truyện nói: “Đi đâu cũng có lợi, là hợp chí với người trên.” Hào ba có tài cứng mạnh, muốn tiến nhanh để đảm đương công việc. Bị hào bốn tích giữ, không thể tiến, bèn đổi chí hướng, toan tính việc khai khẩn, chăn nuôi. “Ngựa tốt đuổi nhau” và “lợi về giữ bền trong gian nan” đều là tượng khai phá và chăn nuôi. “Luyện xe và phòng vệ” cùng “đi đâu cũng có lợi” lại là tượng rèn luyện quân sự. Những việc ấy có ích cho chính phủ, nên nói “hợp chí với người trên”. Hào bốn nói: “Đeo gông cho bê non, đại cát”; Tượng truyện nói: “Lục tứ đại cát, có niềm vui.” Hào này ở địa vị quan huyện. Quan huyện có thể khiến những người thuộc sĩ tộc không có tài sản làm việc chăn nuôi, khai khẩn, giống như người chăn dắt bê non: dễ nuôi, dễ chế ngự. Hào năm nói: “Nanh của lợn thiến, tốt lành”; Tượng truyện nói: “Lục ngũ tốt lành, có khánh phúc.” Hào này cũng giống hào sáu-bốn. Thượng cửu nói: “Gánh con đường của Trời, hanh thông”; Tượng truyện nói: “Gánh con đường của Trời, đạo được thi hành rộng lớn.” Đó là tượng sĩ dân trong cả nước đều có chỗ thích đáng, thiên hạ thái bình.
Trên đây là lời đoán về Quốc hội. Đến tháng bảy năm sau, chính phủ ban hành ba điều để thực hiện chính lệnh: một là ra lệnh mở Quốc hội vào năm Minh Trị thứ hai mươi ba; hai là cứu giúp các sĩ tộc không có vốn bằng cách cấp tám trăm nghìn yên tiền trợ nghiệp; ba là chính phủ dốc sức xây dựng đường sắt, dự định đặt tuyến qua Trung Sơn đạo và vùng Áo Vũ, đồng thời bảo đảm lãi suất tám phần trăm mỗi năm. Tất cả đều ứng hiện trong ý nghĩa các hào của quẻ Đại Súc, hợp với thời thế. Sự linh diệu của tượng trong Kinh Dịch chính là như vậy.
Cửu tam: Đẹp đẽ mà nhuần thấm, giữ chính bền lâu thì tốt lành.
Cửu tam: Đẹp đẽ mà nhuần[100] thấm, giữ chính bền lâu thì tốt lành.
Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của việc giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được.”
Hào ba là một hào cương nằm giữa hai hào nhu, đúng vào lúc sự trang sức đang thịnh. “Đẹp đẽ mà nhuần thấm” là tượng bóng nhuận, tươi tốt. Nhưng cái nhu có thể làm người ta đẹp lên, cũng có thể làm người ta chìm đắm; vì vậy phải răn bằng lời “giữ chính bền lâu”. Nếu ta có phẩm hạnh chính trực thường hằng, thì đối phương không thể lấn át hay bức hiếp, nên nói “tốt lành”. Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của việc giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được.” Chữ “cuối cùng” tương ứng với chữ “bền lâu”; giữ chính mà không lâu bền thì không thể gọi là có kết cục trọn vẹn. Nghĩa là ta cương chính và giữ chính lâu dài thì đối phương tự nhiên không thể khinh nhờn hay lấn át.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Đang gặp vận thịnh, sáng sủa nhuần thấm, danh lợi đều thu được, rất hanh thông.
○ Hỏi kinh doanh: Nguồn tiền như nước, thu được lợi lớn và trong sạch; cơ nghiệp cũng có thể giữ lâu dài, đại cát.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà cửa đẹp đẽ sạch sẽ, lại có dòng nước soi chiếu, có thể ở lâu dài, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Cả quân đội đều cảm nhận được đức trạch, vui vẻ hòa hợp, đồng lòng; có thể gọi là vương sư vô địch.
○ Hỏi kiện tụng: Được xử đúng lẽ, đối phương cũng không dám tái phạm.
○ Hỏi hôn nhân: Trăm năm cùng nhau đến già, tốt lành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
○ Hỏi người đi: Sẽ trở về trong áo gấm, đầy vinh quang.
○ Hỏi đồ thất lạc: Tìm về phía dưới nước thì sẽ thấy.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Di.
Lời đoán nói: Quẻ này có một hào dương ở giữa hai hào âm, giống như vật rơi vào trong nước, được thấm ướt và nhuần nhuận, ánh sáng và vẻ rực rỡ càng thêm sáng rõ; vì vậy nói “được trang sức mà nhuần ướt”, đó là sự thịnh vượng của việc trang sức. Tuy nhiên, nếu trang sức quá mức thì thường bên ngoài thừa vẻ rực rỡ, còn vẻ đẹp bên trong lại không đủ; đó là tệ biến do việc trang sức gây ra. Nay nước ta từ sau cuộc Duy Tân, con đường làm quan đã thay đổi hẳn. Nhiều người phô bày tài hoa để mong được tiến thân, tô điểm sự khôn ngoan nhằm làm người ngu kinh sợ, cùng nhau đề cao lẫn nhau; phần lớn đều như vậy. Đến khi một ngày kia có được địa vị, họ lại hoàn toàn không có chút năng lực nào. Hạng người ấy chỉ là kẻ trộm hư danh; quả có thể tạm thời thành công, nhưng không thể “giữ vững chính trực mãi mãi”, thì làm sao có cát tường? Ngài có chí hướng với thời cuộc, nên thực hành đức hạnh chân thật, chớ cầu hư danh; hãy lấy “chính trực” làm điều nắm giữ, lấy “lâu dài” làm điều gìn giữ, cuối cùng ắt sẽ được cát tường. Tượng truyện nói: “Cuối cùng không ai lấn át được người ấy.” Ý nói sự trang sức này không phải hư văn; vậy còn ai có thể chống lại người ấy? Xin ngài hãy lưu tâm điều đó!
Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của việc giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được.”
Hào ba là một hào cương nằm giữa hai hào nhu, đúng vào lúc sự trang sức đang thịnh. “Đẹp đẽ mà nhuần thấm” là tượng bóng nhuận, tươi tốt. Nhưng cái nhu có thể làm người ta đẹp lên, cũng có thể làm người ta chìm đắm; vì vậy phải răn bằng lời “giữ chính bền lâu”. Nếu ta có phẩm hạnh chính trực thường hằng, thì đối phương không thể lấn át hay bức hiếp, nên nói “tốt lành”. Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của việc giữ chính bền lâu là cuối cùng không ai lấn át được.” Chữ “cuối cùng” tương ứng với chữ “bền lâu”; giữ chính mà không lâu bền thì không thể gọi là có kết cục trọn vẹn. Nghĩa là ta cương chính và giữ chính lâu dài thì đối phương tự nhiên không thể khinh nhờn hay lấn át.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Đang gặp vận thịnh, sáng sủa nhuần thấm, danh lợi đều thu được, rất hanh thông.
○ Hỏi kinh doanh: Nguồn tiền như nước, thu được lợi lớn và trong sạch; cơ nghiệp cũng có thể giữ lâu dài, đại cát.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà cửa đẹp đẽ sạch sẽ, lại có dòng nước soi chiếu, có thể ở lâu dài, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Cả quân đội đều cảm nhận được đức trạch, vui vẻ hòa hợp, đồng lòng; có thể gọi là vương sư vô địch.
○ Hỏi kiện tụng: Được xử đúng lẽ, đối phương cũng không dám tái phạm.
○ Hỏi hôn nhân: Trăm năm cùng nhau đến già, tốt lành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
○ Hỏi người đi: Sẽ trở về trong áo gấm, đầy vinh quang.
○ Hỏi đồ thất lạc: Tìm về phía dưới nước thì sẽ thấy.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Di.
Lời đoán nói: Quẻ này có một hào dương ở giữa hai hào âm, giống như vật rơi vào trong nước, được thấm ướt và nhuần nhuận, ánh sáng và vẻ rực rỡ càng thêm sáng rõ; vì vậy nói “được trang sức mà nhuần ướt”, đó là sự thịnh vượng của việc trang sức. Tuy nhiên, nếu trang sức quá mức thì thường bên ngoài thừa vẻ rực rỡ, còn vẻ đẹp bên trong lại không đủ; đó là tệ biến do việc trang sức gây ra. Nay nước ta từ sau cuộc Duy Tân, con đường làm quan đã thay đổi hẳn. Nhiều người phô bày tài hoa để mong được tiến thân, tô điểm sự khôn ngoan nhằm làm người ngu kinh sợ, cùng nhau đề cao lẫn nhau; phần lớn đều như vậy. Đến khi một ngày kia có được địa vị, họ lại hoàn toàn không có chút năng lực nào. Hạng người ấy chỉ là kẻ trộm hư danh; quả có thể tạm thời thành công, nhưng không thể “giữ vững chính trực mãi mãi”, thì làm sao có cát tường? Ngài có chí hướng với thời cuộc, nên thực hành đức hạnh chân thật, chớ cầu hư danh; hãy lấy “chính trực” làm điều nắm giữ, lấy “lâu dài” làm điều gìn giữ, cuối cùng ắt sẽ được cát tường. Tượng truyện nói: “Cuối cùng không ai lấn át được người ấy.” Ý nói sự trang sức này không phải hư văn; vậy còn ai có thể chống lại người ấy? Xin ngài hãy lưu tâm điều đó!
Lục tứ: Đẹp đẽ mà trắng phau, ngựa trắng chạy nhanh như bay; không phải giặc cướp mà là người cầu hôn.
Lục tứ: Đẹp đẽ mà trắng phau[101], ngựa trắng chạy nhanh như bay[102]; không phải giặc cướp mà là người cầu hôn.
Tượng truyện nói: “Lục tứ ở đúng vị nên sinh nghi; không phải giặc cướp mà là người cầu hôn, cuối cùng không có lỗi.”
Hào bốn ở dưới thượng quái, sự trang sức của quẻ Bí đã qua giữa chừng. “Bạc” nghĩa là màu trắng mộc; “hàn” nghĩa là ngựa trắng. Hào ba, bốn, năm hợp thành hỗ quái Chấn; Chấn có tượng ngựa trắng, nên lấy tượng ấy. Hào trên của Chấn nói “cầu hôn”, vì vậy cũng có tượng hôn nhân. Hào bốn chính ứng với hào đầu nhưng bị hào ba ngăn cách, không thể cùng nhau trang sức và thân cận, nên nói “trắng phau” và “ngựa trắng chạy như bay”; tức vẫn chưa được cái đẹp của đối phương. Tuy nhiên Cửu tam cương chính, không phải giặc cướp mà chỉ muốn cầu hôn. Hào bốn và hào đầu là chính ứng, ắt sẽ thân thiện gắn bó, không thể bị ngăn cách mãi. Tượng truyện nói “ở đúng vị nên sinh nghi”, nghĩa là hào bốn nghi hào hai. “Cuối cùng không có lỗi” nghĩa là hào đầu và hào bốn chính ứng; cuối cùng nhất định hòa hợp, nên nói “cuối cùng không có lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Trước mắt vận có trở ngại, cứ an phận thì tốt lành; sang năm sẽ hanh thông.
○ Hỏi kinh doanh: Nên mau chóng mua bán; chậm trễ thì đề phòng hàng hóa đổi màu.
○ Hỏi nhà cửa: Trong một nhà vừa có tang sự vừa gặp hôn sự; trước bế tắc, sau thông suốt, không lỗi.
○ Hỏi chiến tranh: Có đề nghị hòa thân, giảng hòa và kết giao.
○ Hỏi bệnh: Giữa ngực có sự bế tắc khiến trên dưới không điều hòa; khi chỗ tích trệ tiêu tan thì không còn lỗi.
○ Hỏi người đi cùng: Vì quyến luyến người phụ nữ mình yêu nên một thời gian chưa về.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Có người đến nhờ đoán vận khí của một vị thân sĩ; gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Ly.
Lời đoán nói: Hào bốn là âm ở vị âm, chính ứng với hào đầu, nhưng bị ba hào ở giữa ngăn cách nên không thể cùng nhau trang sức và thân cận; vì vậy Tượng truyện nói “ở đúng vị nên sinh nghi”. Nay gieo được hào bốn, biết vị thân sĩ kia đang ở trong cuộc, có lẽ bên trong cũng có điều ngăn trở khiến nảy sinh nghi ngờ. Tuy nhiên, người cưỡi ngựa chạy như bay đến thật sự muốn thân mật giao hảo, không có ý gì khác. Ban đầu hào bốn nghi người ấy là giặc, sắp cướp đoạt lợi ích của mình; về sau dần biết rõ sự thật, mối nghi mới được giải tỏa. Vì thế nói “không phải giặc cướp mà là người cầu hôn”.
Khi ấy vị thân sĩ kia quả thật có việc như vậy: ban đầu nghi ngờ, sau được giải tỏa, hai bên rất hòa hợp, đúng như lời đoán.
Tượng truyện nói: “Lục tứ ở đúng vị nên sinh nghi; không phải giặc cướp mà là người cầu hôn, cuối cùng không có lỗi.”
Hào bốn ở dưới thượng quái, sự trang sức của quẻ Bí đã qua giữa chừng. “Bạc” nghĩa là màu trắng mộc; “hàn” nghĩa là ngựa trắng. Hào ba, bốn, năm hợp thành hỗ quái Chấn; Chấn có tượng ngựa trắng, nên lấy tượng ấy. Hào trên của Chấn nói “cầu hôn”, vì vậy cũng có tượng hôn nhân. Hào bốn chính ứng với hào đầu nhưng bị hào ba ngăn cách, không thể cùng nhau trang sức và thân cận, nên nói “trắng phau” và “ngựa trắng chạy như bay”; tức vẫn chưa được cái đẹp của đối phương. Tuy nhiên Cửu tam cương chính, không phải giặc cướp mà chỉ muốn cầu hôn. Hào bốn và hào đầu là chính ứng, ắt sẽ thân thiện gắn bó, không thể bị ngăn cách mãi. Tượng truyện nói “ở đúng vị nên sinh nghi”, nghĩa là hào bốn nghi hào hai. “Cuối cùng không có lỗi” nghĩa là hào đầu và hào bốn chính ứng; cuối cùng nhất định hòa hợp, nên nói “cuối cùng không có lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Trước mắt vận có trở ngại, cứ an phận thì tốt lành; sang năm sẽ hanh thông.
○ Hỏi kinh doanh: Nên mau chóng mua bán; chậm trễ thì đề phòng hàng hóa đổi màu.
○ Hỏi nhà cửa: Trong một nhà vừa có tang sự vừa gặp hôn sự; trước bế tắc, sau thông suốt, không lỗi.
○ Hỏi chiến tranh: Có đề nghị hòa thân, giảng hòa và kết giao.
○ Hỏi bệnh: Giữa ngực có sự bế tắc khiến trên dưới không điều hòa; khi chỗ tích trệ tiêu tan thì không còn lỗi.
○ Hỏi người đi cùng: Vì quyến luyến người phụ nữ mình yêu nên một thời gian chưa về.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Có người đến nhờ đoán vận khí của một vị thân sĩ; gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Ly.
Lời đoán nói: Hào bốn là âm ở vị âm, chính ứng với hào đầu, nhưng bị ba hào ở giữa ngăn cách nên không thể cùng nhau trang sức và thân cận; vì vậy Tượng truyện nói “ở đúng vị nên sinh nghi”. Nay gieo được hào bốn, biết vị thân sĩ kia đang ở trong cuộc, có lẽ bên trong cũng có điều ngăn trở khiến nảy sinh nghi ngờ. Tuy nhiên, người cưỡi ngựa chạy như bay đến thật sự muốn thân mật giao hảo, không có ý gì khác. Ban đầu hào bốn nghi người ấy là giặc, sắp cướp đoạt lợi ích của mình; về sau dần biết rõ sự thật, mối nghi mới được giải tỏa. Vì thế nói “không phải giặc cướp mà là người cầu hôn”.
Khi ấy vị thân sĩ kia quả thật có việc như vậy: ban đầu nghi ngờ, sau được giải tỏa, hai bên rất hòa hợp, đúng như lời đoán.
Lục ngũ: Trang sức nơi đồi vườn. Bó lụa ít ỏi; có điều tiếc hổ thẹn, nhưng cuối cùng tốt lành.
Lục ngũ: Trang sức nơi đồi vườn. Bó lụa[103] ít ỏi[104]; có điều tiếc hổ thẹn[105], nhưng cuối cùng tốt lành.
Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của Lục ngũ là có niềm vui.”
“Đồi vườn” là khu vườn dựa bên đồi núi. Quái Cấn có tượng gò đồi; “trang sức nơi đồi vườn” nghĩa là lưu tâm đến việc nông tang. “Bó lụa” là vật đem tặng người; “ít ỏi” nghĩa là nông mỏng, chẳng bao nhiêu. Không trang sức nơi chợ triều mà trang sức nơi đồi vườn là trọng hậu gốc rễ. “Bó lụa ít ỏi” nghĩa là Lục ngũ lấy nhu ở ngôi tôn, tu dưỡng đức nhu trung, gạt bỏ xa hoa, tôn trọng tiết kiệm, như Đại Vũ hạ thấp cung thất và ăn uống đạm bạc. Vì vậy nói “trang sức nơi đồi vườn, bó lụa ít ỏi”. “Tiếc hổ thẹn” nghĩa là ở ngôi tôn quý mà lại lưu tâm đến việc thấp kém, khó tránh khỏi bị xem là hẹp hòi. Nhưng không mất ý chỉ gạt bỏ hoa mỹ, đề cao thực chất, nên nói “cuối cùng tốt lành”. Tượng truyện nói “có niềm vui”, nghĩa là thật sự có điều đáng mừng. Phong tục thiên hạ thành nhờ tiết kiệm, bại vì xa xỉ. Một người xướng lên thì phong tục thời đại có thể trở về chất phác; niềm vui ấy không chỉ thuộc về một người, mà là niềm vui vì có thể đổi dời phong tục.
Một thuyết nói đồi vườn là nơi ẩn sĩ cư trú. Lục ngũ có thể dùng “bó lụa” để mời những bậc hiền tài còn ẩn dật nơi đồi vườn, cùng giúp việc trị nước bằng văn minh. Mời hiền chỉ dùng “bó lụa ít ỏi”, lễ ý chưa trọng hậu, nên nói “tiếc hổ thẹn”. Nhưng người hiền không lấy tiền lụa làm vui, mà lấy sự cung kính làm vui. Vì vậy tuy lễ vật ít ỏi, người hiền vẫn đáp lời mời mà đến, nên cuối cùng có tốt lành. Cách giải thích này cũng thông.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Hiện đang gặp chính vận, nhưng làm việc gì cũng nên lấy tiết kiệm và siêng năng làm đầu thì tốt lành.
○ Hỏi kinh doanh: Tốt nhất là hai ngành gỗ và hàng lụa; hàng hóa không cần nhiều mà lợi nhuận khá tốt.
○ Hỏi nhà cửa: Lấy nông tang làm nghề, gia phong cần kiệm, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Nên chiêu dụng bô lão địa phương làm người dẫn đường, có thể giành thắng lợi.
○ Hỏi hôn nhân: Lễ vật hỏi cưới tuy ít ỏi nhưng may mắn được người vợ hiền đức, đại hỷ.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Gia Nhân.
Lời đoán nói: Hào này là hào năm ở ngôi tôn, đề cao đức tiết kiệm và sẽ dẫn dắt thiên hạ cùng theo tiết kiệm. Vì vậy không trang sức cung điện mà trang sức nơi đồi vườn. Lễ “bó lụa” lấy lòng thành làm cốt, không chuộng hậu lễ. Nay ngài từ nhỏ đã làm nghề buôn bán, trải qua bao năm cần lao mới có được địa vị hôm nay, tài sản dồi dào, đủ tự vui. Gần đây thương nghiệp quen theo lối Âu Mỹ, lấy lừa dối làm thuật, phô trương hoa lệ và tự khoe, ngược lại xem sự mộc mạc đôn hậu ngày trước là đáng hổ thẹn. Người như chúng ta thành tâm tôn trọng lề lối cổ không đáng tranh đua với họ. Ngài chỉ nên an nhàn, tìm một nơi đẹp trong núi rừng, dựng vườn và nhà tạ, trồng hoa cây để vui mắt vui lòng, tính kế dưỡng lão. Có người cho rằng không làm việc đời là hẹp hòi; nhưng nếu nhờ đó mà vui tuổi già và truyền lại cho đời sau, cuối cùng sẽ được tốt lành. Đó là ý “trang sức nơi đồi vườn, bó lụa ít ỏi; có điều tiếc hổ thẹn, nhưng cuối cùng tốt lành”.
Từ đó, người bạn sống vui vẻ, tự thỏa theo lời đoán này.
Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của Lục ngũ là có niềm vui.”
“Đồi vườn” là khu vườn dựa bên đồi núi. Quái Cấn có tượng gò đồi; “trang sức nơi đồi vườn” nghĩa là lưu tâm đến việc nông tang. “Bó lụa” là vật đem tặng người; “ít ỏi” nghĩa là nông mỏng, chẳng bao nhiêu. Không trang sức nơi chợ triều mà trang sức nơi đồi vườn là trọng hậu gốc rễ. “Bó lụa ít ỏi” nghĩa là Lục ngũ lấy nhu ở ngôi tôn, tu dưỡng đức nhu trung, gạt bỏ xa hoa, tôn trọng tiết kiệm, như Đại Vũ hạ thấp cung thất và ăn uống đạm bạc. Vì vậy nói “trang sức nơi đồi vườn, bó lụa ít ỏi”. “Tiếc hổ thẹn” nghĩa là ở ngôi tôn quý mà lại lưu tâm đến việc thấp kém, khó tránh khỏi bị xem là hẹp hòi. Nhưng không mất ý chỉ gạt bỏ hoa mỹ, đề cao thực chất, nên nói “cuối cùng tốt lành”. Tượng truyện nói “có niềm vui”, nghĩa là thật sự có điều đáng mừng. Phong tục thiên hạ thành nhờ tiết kiệm, bại vì xa xỉ. Một người xướng lên thì phong tục thời đại có thể trở về chất phác; niềm vui ấy không chỉ thuộc về một người, mà là niềm vui vì có thể đổi dời phong tục.
Một thuyết nói đồi vườn là nơi ẩn sĩ cư trú. Lục ngũ có thể dùng “bó lụa” để mời những bậc hiền tài còn ẩn dật nơi đồi vườn, cùng giúp việc trị nước bằng văn minh. Mời hiền chỉ dùng “bó lụa ít ỏi”, lễ ý chưa trọng hậu, nên nói “tiếc hổ thẹn”. Nhưng người hiền không lấy tiền lụa làm vui, mà lấy sự cung kính làm vui. Vì vậy tuy lễ vật ít ỏi, người hiền vẫn đáp lời mời mà đến, nên cuối cùng có tốt lành. Cách giải thích này cũng thông.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Hiện đang gặp chính vận, nhưng làm việc gì cũng nên lấy tiết kiệm và siêng năng làm đầu thì tốt lành.
○ Hỏi kinh doanh: Tốt nhất là hai ngành gỗ và hàng lụa; hàng hóa không cần nhiều mà lợi nhuận khá tốt.
○ Hỏi nhà cửa: Lấy nông tang làm nghề, gia phong cần kiệm, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Nên chiêu dụng bô lão địa phương làm người dẫn đường, có thể giành thắng lợi.
○ Hỏi hôn nhân: Lễ vật hỏi cưới tuy ít ỏi nhưng may mắn được người vợ hiền đức, đại hỷ.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Gia Nhân.
Lời đoán nói: Hào này là hào năm ở ngôi tôn, đề cao đức tiết kiệm và sẽ dẫn dắt thiên hạ cùng theo tiết kiệm. Vì vậy không trang sức cung điện mà trang sức nơi đồi vườn. Lễ “bó lụa” lấy lòng thành làm cốt, không chuộng hậu lễ. Nay ngài từ nhỏ đã làm nghề buôn bán, trải qua bao năm cần lao mới có được địa vị hôm nay, tài sản dồi dào, đủ tự vui. Gần đây thương nghiệp quen theo lối Âu Mỹ, lấy lừa dối làm thuật, phô trương hoa lệ và tự khoe, ngược lại xem sự mộc mạc đôn hậu ngày trước là đáng hổ thẹn. Người như chúng ta thành tâm tôn trọng lề lối cổ không đáng tranh đua với họ. Ngài chỉ nên an nhàn, tìm một nơi đẹp trong núi rừng, dựng vườn và nhà tạ, trồng hoa cây để vui mắt vui lòng, tính kế dưỡng lão. Có người cho rằng không làm việc đời là hẹp hòi; nhưng nếu nhờ đó mà vui tuổi già và truyền lại cho đời sau, cuối cùng sẽ được tốt lành. Đó là ý “trang sức nơi đồi vườn, bó lụa ít ỏi; có điều tiếc hổ thẹn, nhưng cuối cùng tốt lành”.
Từ đó, người bạn sống vui vẻ, tự thỏa theo lời đoán này.
Thượng cửu: Trang sức trắng mộc, không lỗi.
Thượng cửu: Trang sức trắng mộc, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Trang sức trắng mộc, không lỗi; người ở trên đã đạt được chí nguyện.”
Hào trên ở cuối quẻ Bí, đến chỗ cực điểm thì không biến đổi. Khi tệ hại sắp làm mất hết thực chất, ý nghĩa của Bí là ban đầu lấy cái chất của thiên hạ mà trang sức bằng văn, rồi cuối cùng đưa cái văn của thiên hạ trở về với cái chất. “Trang sức trắng mộc” là mộc mạc tự nhiên, không màu sắc; như ngọc quý không chạm khắc, ngọc trai không trang điểm, không để văn sức che lấp bản chất. Đó là ý nghĩa của “trắng mộc”. Tượng truyện nói “người ở trên đạt chí”, nghĩa là ở trên cùng của quẻ, đứng ngoài sự việc, sửa cái văn sức thói tục, đề cao mộc mạc, đi riêng theo đường mình và thong dong tự tại.
Các quẻ như Thái và Bĩ, Bác và Phục, Hoán và Tụy đều có cặp đối nhau. Chỉ quẻ Bí là không có quẻ đối; ngay trong một quẻ, nó chia hai nghĩa “trang sức” và “không trang sức” thành một cặp. Đó là bí quyết đọc Kinh Dịch. Quẻ Trung Phu cũng vậy.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Vận tốt đã hết; người lao lực nên trở về nhàn, người năng động nên trở lại tĩnh. Cứ thong dong tự tại, tạm tìm chút vui là được.
○ Hỏi kinh doanh: Giá hàng hiện đã cao, thời vụ sắp hết; không cần trang sức thêm, cứ bán là chắc chắn có lãi.
○ Hỏi nhà cửa: Gia phong thanh bạch, địa vị cũng cao, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Đang ở cương vị thượng tướng, trận thế đường đường, cờ xí chính chính; không cần dùng mưu mẹo kỳ quái vẫn tự nhiên thắng. Tốt lành.
○ Hỏi bệnh: Bệnh ở thượng tiêu, nên dùng thuốc thanh đạm, tốt lành.
○ Hỏi người đi: Sẽ trở về sau khi thu được lợi.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
○ Hỏi đồ thất lạc: Tìm ở nơi cao thì có thể thấy.
【Ví dụ】Vào thời Duy Tân, viên lại Shimomura Saburozaemon của cơ quan quản lý Uraga, vốn là võ sĩ phiên Saga cũ, mắc bệnh đã lâu nên đến Yokohama chữa trị. Thầy thuốc nói: “Bệnh trông có vẻ nhẹ nhưng thực ra nặng; nếu không ở lại điều trị, e sẽ nguy kịch.” Shimomura báo với cấp trên và được cho phép ở lại chữa bệnh. Nhưng ông không bận tâm đến bệnh, cố gượng trở về nhiệm sở. Cấp trên nói với tôi: “Bệnh tình của Shimomura ra sao? Hãy thử gieo quẻ.” Gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Minh Di.
Lời đoán đáp: “Shimomura chắc chắn sẽ chết.” Cấp trên nói: “Thầy thuốc cũng xem là bệnh nặng, nhưng sao anh có thể đoán trước cái chết của ông ấy?” Tôi đáp: “Bí là núi ở trên, lửa ở dưới. Nay núi biến thành đất, đó là tượng ánh sáng của Ly chìm vào đất Khôn. Dương ở hào trên biến thành âm; dương là sống, âm là chết, tức tượng sống biến thành chết. Hơn nữa hào từ của Thượng cửu nói ‘trắng mộc’; màu trắng là màu tang phục, ông ấy không thể tránh khỏi cái chết.” Chưa đầy một tháng sau, quả nhiên tin báo tử của ông được chuyển đến.
Tượng truyện nói: “Trang sức trắng mộc, không lỗi; người ở trên đã đạt được chí nguyện.”
Hào trên ở cuối quẻ Bí, đến chỗ cực điểm thì không biến đổi. Khi tệ hại sắp làm mất hết thực chất, ý nghĩa của Bí là ban đầu lấy cái chất của thiên hạ mà trang sức bằng văn, rồi cuối cùng đưa cái văn của thiên hạ trở về với cái chất. “Trang sức trắng mộc” là mộc mạc tự nhiên, không màu sắc; như ngọc quý không chạm khắc, ngọc trai không trang điểm, không để văn sức che lấp bản chất. Đó là ý nghĩa của “trắng mộc”. Tượng truyện nói “người ở trên đạt chí”, nghĩa là ở trên cùng của quẻ, đứng ngoài sự việc, sửa cái văn sức thói tục, đề cao mộc mạc, đi riêng theo đường mình và thong dong tự tại.
Các quẻ như Thái và Bĩ, Bác và Phục, Hoán và Tụy đều có cặp đối nhau. Chỉ quẻ Bí là không có quẻ đối; ngay trong một quẻ, nó chia hai nghĩa “trang sức” và “không trang sức” thành một cặp. Đó là bí quyết đọc Kinh Dịch. Quẻ Trung Phu cũng vậy.
【Dự đoán】
○ Hỏi thời vận: Vận tốt đã hết; người lao lực nên trở về nhàn, người năng động nên trở lại tĩnh. Cứ thong dong tự tại, tạm tìm chút vui là được.
○ Hỏi kinh doanh: Giá hàng hiện đã cao, thời vụ sắp hết; không cần trang sức thêm, cứ bán là chắc chắn có lãi.
○ Hỏi nhà cửa: Gia phong thanh bạch, địa vị cũng cao, tốt lành.
○ Hỏi chiến tranh: Đang ở cương vị thượng tướng, trận thế đường đường, cờ xí chính chính; không cần dùng mưu mẹo kỳ quái vẫn tự nhiên thắng. Tốt lành.
○ Hỏi bệnh: Bệnh ở thượng tiêu, nên dùng thuốc thanh đạm, tốt lành.
○ Hỏi người đi: Sẽ trở về sau khi thu được lợi.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
○ Hỏi đồ thất lạc: Tìm ở nơi cao thì có thể thấy.
【Ví dụ】Vào thời Duy Tân, viên lại Shimomura Saburozaemon của cơ quan quản lý Uraga, vốn là võ sĩ phiên Saga cũ, mắc bệnh đã lâu nên đến Yokohama chữa trị. Thầy thuốc nói: “Bệnh trông có vẻ nhẹ nhưng thực ra nặng; nếu không ở lại điều trị, e sẽ nguy kịch.” Shimomura báo với cấp trên và được cho phép ở lại chữa bệnh. Nhưng ông không bận tâm đến bệnh, cố gượng trở về nhiệm sở. Cấp trên nói với tôi: “Bệnh tình của Shimomura ra sao? Hãy thử gieo quẻ.” Gieo được quẻ Bí biến sang quẻ Minh Di.
Lời đoán đáp: “Shimomura chắc chắn sẽ chết.” Cấp trên nói: “Thầy thuốc cũng xem là bệnh nặng, nhưng sao anh có thể đoán trước cái chết của ông ấy?” Tôi đáp: “Bí là núi ở trên, lửa ở dưới. Nay núi biến thành đất, đó là tượng ánh sáng của Ly chìm vào đất Khôn. Dương ở hào trên biến thành âm; dương là sống, âm là chết, tức tượng sống biến thành chết. Hơn nữa hào từ của Thượng cửu nói ‘trắng mộc’; màu trắng là màu tang phục, ông ấy không thể tránh khỏi cái chết.” Chưa đầy một tháng sau, quả nhiên tin báo tử của ông được chuyển đến.