Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 32 Lôi Phong Hằng, Hằng: hanh thông, không lỗi, lợi về chính, có nơi để đi thì có lợi.

Lôi Phong Hằng, Hằng: hanh thông, không lỗi, lợi về chính, có nơi để đi thì có lợi.

32 Lôi Phong Hằng

Thượng Kinh bắt đầu bằng quẻ Càn rồi tiếp đến quẻ Khôn; Khôn là phối ngẫu của Càn. Hạ Kinh bắt đầu bằng quẻ Hàm rồi tiếp đến quẻ Hằng; Hằng là sự lâu bền của Hàm. Hàm là sự nghiệp có thể trở nên lớn lao; Hằng là đức có thể lâu dài. Cái có thể lâu dài tương ứng với trời, cái có thể lớn lao tương ứng với đất; vì vậy Càn cũng mang nghĩa lâu dài, Khôn cũng mang nghĩa lớn lao. Chấn là nam, Tốn là nữ, vốn sinh từ Càn Khôn; sấm và gió chính là khí do Càn Khôn thở ra. Càn Khôn không biến đổi thì sấm gió cũng không biến đổi. Vì thế quẻ sấm gió được gọi là Hằng.

Hằng[2]: hanh thông, không lỗi, lợi về chính, có nơi để đi thì có lợi.



▲ Chữ giáp cốt của chữ “Hằng”

Chữ “Hằng” gồm phần chỉ tâm và phần chỉ sự liên tục, được giải là thường. Kinh Dịch nói: “Hằng là lâu dài.” Phàm việc gì nhất thời bị bế tắc, nếu kéo dài thì sẽ thông; đã thông thì “không lỗi”. “Chính” nghĩa là ngay thẳng. Hàm là khởi đầu của việc vợ chồng kết duyên: người nam ở dưới người nữ, nên nói “lấy vợ thì tốt lành”. Hằng là nếp thường của vợ chồng trong gia đình: người nữ ở dưới người nam, nên giữ chính thì có lợi. Tốn mềm mại và thuận theo; vì thuận theo nên có thể giữ chính. Chấn cứng mạnh và chuyển động; vì chuyển động nên có nơi để đi. “Chính” là đức của người nữ; “đi” là việc của người nam. Nghĩa lý nói: “Đạt được đạo thường hằng thì đi đâu mà chẳng có lợi?” Vì thế nói: “Có nơi để đi thì có lợi.”

Thoán truyện nói: “Hằng” nghĩa là lâu dài. Cứng ở trên, mềm ở dưới; sấm và gió tương trợ; mềm thuận mà vận động, cứng mềm đều ứng nhau, đó là Hằng. Hằng thì hanh thông, không lỗi; lợi về giữ chính. Đó là ở lâu trong đạo của mình. Đạo của trời đất bền lâu mà không ngừng. Có chỗ để đi thì tốt, vì kết thúc rồi sẽ có bắt đầu. Mặt trời và mặt trăng được trời nâng đỡ nên có thể chiếu sáng lâu dài; bốn mùa biến hóa mà có thể lâu dài thành tựu; bậc thánh nhân ở lâu trong đạo của mình, khiến thiên hạ được giáo hóa và thành tựu. Xem điều gì thường hằng thì có thể thấy được tình trạng của trời đất và muôn vật.



▲ Chữ triện của “Hằng”

Quẻ này trên là Chấn, dưới là Tốn. Tốn là gió, nên cứng ở trên, mềm ở dưới. Chấn là sấm; sấm và gió tương giao mà thành Hằng. Sấm và gió là khí sinh ra từ núi và đầm, vì vậy quẻ này đứng sau quẻ Cảm. Khí ấy thông suốt trên dưới, vận hành khắp nơi, hóa dục muôn vật, sinh sinh không dứt, nhưng biến hóa vẫn có quy luật thường hằng; đức của nó trải suốt xưa nay mà không đổi. Đó chính là “đạo của trời đất bền lâu mà không ngừng”, nên quẻ này được gọi là Hằng. Hằng nghĩa là thường và lâu. Đạo Hằng hanh thông thì không lỗi; hanh thông không lỗi thì lợi về giữ chính. Hằng có hai mặt: cái Hằng không đổi và cái Hằng không ngừng. “Lợi về giữ chính” là cái Hằng không đổi; “có chỗ để đi thì tốt” là cái Hằng không ngừng. Gộp lại gọi là thường đạo. “Hanh” là công dụng của Hằng; “chính” là bản thể của Hằng; “cứng mềm đều ứng nhau” là đức Hằng đã thành; “có chỗ để đi thì tốt” là việc làm của Hằng. Tốn kết thúc bằng sự giữ chính, Chấn bắt đầu bằng hành động. Chấn lớn đi vào Tốn, nên nói “kết thúc rồi sẽ có bắt đầu”. Xét mặt trời và mặt trăng được trời nâng đỡ mà chiếu sáng lâu dài, nghiệm bốn mùa biến hóa mà lâu dài thành tựu, chứng nơi bậc thánh nhân ở lâu trong đạo mà giáo hóa thành công, thì thấy những gì trong đạo trời và đạo thánh nhân lâu dài không suy tàn đều là đạo Hằng này.

Đem quẻ này xét về việc người, Chấn là con trai trưởng, Tốn là con gái trưởng. Hai người con út của quẻ Cảm biến thành hai người con trưởng của quẻ Hằng; đạo Hằng của vợ chồng là đạo của lễ hôn nhân. “Sấm và gió tương giao” là sự vận hành của trời đất; “cứng mềm đều ứng nhau” là cơ chế của âm dương. Người quân tử noi theo đó để giữ sự thường hằng. Dùng Hằng tu thân thì thân giáo được hanh thông; dùng Hằng tề gia thì gia đạo được hanh thông; dùng Hằng trị nước thì vận nước cũng hanh thông. Đó chính là ý “đi đâu cũng không gì bất lợi”. Đọc bài thơ Quan thư, thấy sự giáo hóa của Văn vương lan đến nơi xa, còn đức của hậu phi được tu dưỡng ở bên trong. Chẳng phải đã nắm được ý nghĩa của Hằng đó sao! Suy rộng đến việc mặt trời mặt trăng chiếu lâu, bốn mùa lâu dài thành tựu, đạo lâu dài của bậc thánh nhân giáo hóa thành công, thì ngẩng lên quan sát, cúi xuống xét nghiệm, có thể thấy tình của Hằng. Sự hanh tắc, thịnh suy trong việc người không ngoài điều ấy.

Đem quẻ này xét về quốc gia, quái trên tượng cho chính phủ, có tính mãnh liệt như sấm để chấn hưng mọi việc hành chính; quái dưới tượng cho nhân dân, có hình ảnh gió lay động, biểu thị sự thuận theo mệnh lệnh chính phủ. Quẻ Hằng Chấn trên Tốn dưới; Chấn là chồng, Tốn là vợ, thể quẻ vốn là vợ chồng. Quẻ Cảm lấy người trẻ làm tượng của tình, quẻ Hằng lấy người trưởng thành làm tượng của lễ; Hằng tức là làm cho cái gọi là cảm được bền lâu. Tuy nhiên, tu dưỡng trong nhà rồi sẽ thành dâng hiến cho triều đình; vương hóa bắt đầu từ chốn khuê môn. Tề gia và trị quốc vốn cùng một đạo xuyên suốt: vương đạo suốt đời nhân ái, công đức thánh nhân vạn năm không suy. Đó chính là đạo lâu dài của bậc thánh nhân khiến thiên hạ được giáo hóa thành tựu. Sấm động, gió tan cho thấy ân và uy cùng được thi hành; cứng trên, mềm dưới cho thấy khoan và nghiêm cùng bổ trợ. Hòa thuận lấy ở Tốn, phấn chấn lấy ở Chấn; có hành động, có gìn giữ, không biếng nhác, không bỏ bê; trong giữ chí thanh khiết chỉnh tề, ngoài thích ứng với thời thế biến đổi. Như vậy đạo được hanh thông, không lỗi; sự giáo hóa càng lâu càng thêm thần diệu; đầu cuối như một, trên dưới không nghi ngờ. Đó là ở lâu trong đạo của mình, và nền trị bình cao nhất có được sự thường hằng. Ánh sáng lâu dài của mặt trời mặt trăng, sự thành tựu lâu dài của bốn mùa, đều có thể thấy ở đây.

Xét toàn thể quẻ, Tự quái truyện nói: “Đạo vợ chồng không thể không lâu dài, nên tiếp theo là quẻ Hằng.” Cảm là khởi đầu của vợ chồng, Hằng là sự thường hằng của vợ chồng. Vì vậy Hạ kinh mở đầu bằng Cảm và Hằng, đem đạo vợ chồng phối với Càn và Khôn. Tuy nhiên, trong quẻ Hằng chỉ có hào năm nói về vợ chồng; các hào còn lại đều nói về sự không thích đáng của việc giữ Hằng, để răn dạy đời sau. Hơn nữa, sáu hào không có một lời cát nào; ngay cả lời Thoán cũng chỉ nói “không lỗi”. Hằng là thường đạo của trời đất: mặt trời mặt trăng chiếu lâu, bốn mùa lâu dài thành tựu; không Hằng thì biến đổi, có Hằng thì được chính. Vì vậy thánh nhân nói: “Người không có hằng thì không thể làm thầy cúng hay thầy thuốc”, đều dùng lời phản diện để cảnh tỉnh, chứ chưa từng có lời tán dương trực tiếp đối với Hằng. Tượng truyện nói “người quân tử đứng vững mà không đổi phương hướng”, cũng chỉ là giữ Hằng bằng cách không thay đổi. Sáu hào của quẻ ứng nhau; hai khí cứng mềm giao nhau mà làm công dụng. Cứng có đạo của cứng, mềm có đạo của mềm. Hằng hanh thông không lỗi chỉ vì ở lâu trong đạo của mình. Quẻ đảo của Hằng là Cảm, nên hào tượng của hai quẻ đều đảo ngược mà nương nhau. Sự đào sâu của hào đầu Hằng tương ứng với sự khéo nịnh của hào trên Cảm; “hối tiêu” của hào hai Hằng tương ứng với “không hối” của hào năm Cảm; “chịu nhục” của hào ba Hằng tương ứng với “bạn bè theo” của hào bốn Cảm; “không đúng vị” của hào bốn Hằng tương ứng với “theo người” của hào ba Cảm; “vợ thì tốt, chồng thì xấu” của hào năm Hằng tương ứng với “xấu, ở yên thì tốt” của hào ba Cảm; “lớn mà không công” của hào trên Hằng tương ứng với “chí ở bên ngoài” của hào đầu Cảm. Vì vậy hai quẻ cùng một thể, nhưng hào tượng đảo đi đảo lại mà tương ứng. Cảm nói: “Thánh nhân cảm động lòng người, thiên hạ hòa bình”; Hằng nói: “Thánh nhân ở lâu trong đạo, thiên hạ được giáo hóa thành tựu.” Tình của trời đất muôn vật đều có thể thấy ở đây.

Tượng truyện nói: Sấm và gió là Hằng. Người quân tử noi theo đó, đứng vững mà không đổi phương hướng.

Chấn là sấm chuyển động ở trên; Tốn là gió thấm nhập ở dưới. Sấm và gió tuy cực kỳ vận động, biến đổi, dường như không có tính thường, nhưng xét đến cùng thì tiếng sấm không sai mùa, gió thổi vật vật đều đúng thời. Từ thuở xa xưa vẫn như thế, chưa từng sai lệch, nên gọi là sấm gió Hằng. Người quân tử thể theo tượng ấy để ứng với muôn biến, nhưng đạo thì không đổi, chỉ là Hằng mà thôi. “Đứng” nghĩa là vững chắc không lay chuyển; “phương” nghĩa là giữ một chủ trương, không dời đổi. Chí có hướng nhất định, sự giữ gìn càng thêm bền chắc; không bị phú quý làm mê đắm, không bị nghèo hèn làm chuyển dời, không bị uy vũ khuất phục. Đứng riêng mà không sợ hãi—đó là lý do người quân tử là quân tử, vì đã đạt được đạo Hằng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Sấm phát ra từ đất, gió sinh từ thung lũng; đề phòng quân địch mai phục và nguy cơ pháo binh công kích. Nên giữ vững doanh lũy, không được lui; về sau có thể chuyển bại thành công.


○ Hỏi về kinh doanh: Chấn thuộc chính đông, Tốn thuộc đông nam. “Đứng vững mà không đổi phương hướng” nói rằng địa điểm buôn bán không thể thay đổi.

○ Hỏi về công danh: Chấn và Tốn đều thuộc mộc. Cây mọc đứng vững, vươn thẳng lên trời, tự có tượng đạt đến một cách thẳng thắn. Nhưng nên thành tựu lâu dài, không nên nóng vội tiến lên.

○ Hỏi về nhà cửa: Nhà này tọa tây bắc, hướng đông nam, là nhà cũ do tổ tiên để lại, thuộc điền sản lâu bền; phương hướng tuyệt đối không nên thay đổi.

○ Hỏi về hôn nhân: Nhà trai có con trưởng, nhà gái có con trưởng; hai người con trưởng kết đôi tương xứng. Hôn nhân rất tốt, có thể đoán là trăm năm cùng sống đến già.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là can hỏa xung lên, đàm hỏa gây khí suyễn; nên tiếp tục dùng phương thuốc trước, không cần thay đổi.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, nhất định là thai đầu.

Sơ lục: Đào sâu vào Hằng; giữ chính thì xấu, không có gì lợi.

Sơ lục: Đào sâu vào Hằng; giữ chính thì xấu, không có gì lợi.

Tượng truyện nói: Cái xấu của việc đào sâu vào Hằng là ngay từ đầu đã cầu cái sâu.

“Tuấn” nghĩa là sâu. Hào đầu ở lúc khởi đầu của Hằng. Lấy đầu mà cầu cuối thì phải theo thứ tự, tiến từng bước, dần dần mới có thể gần đạt được. Như nói: leo cao ắt bắt đầu từ thấp, đi xa ắt bắt đầu từ gần; cứ theo đó mà đi thì không gì bất lợi. Nếu bỏ qua các bậc mà cầu thành quả, khác nào nhặt một nắm đất mà mong thành núi, múc một gáo nước mà muốn thành biển. Nền móng vừa mới dựng đã mong kết quả về sau quá lớn; việc tuy không trái chính đạo nhưng ắt khó tránh điều xấu. Vì vậy nói: “Đào sâu vào Hằng, giữ chính thì xấu.” Tượng truyện nói “ngay từ đầu đã cầu cái sâu”; “đầu” chỉ hào đầu, nghĩa là chưa qua chỗ cạn mà đã vội cầu chỗ sâu. Đó là người muốn nhanh nên không đạt được. Chẳng những vô ích mà còn chuốc lấy điều xấu; ví như dùng trí mà thành ra khéo vặt, cầu đạo mà lại tìm điều ẩn kín. Đó đều là lỗi của người “đào sâu vào Hằng”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Nên tiến từng bước, đóng quân từng bước; tuyệt đối kiêng đưa quân đơn độc vào sâu. Tiến sâu ắt dữ.


○ Hỏi về kinh doanh: Nên có lãi là bán ngay; không được độc quyền, găm hàng đầu cơ để tham giá cao.

○ Hỏi về công danh: Nên an phận, giữ chức phận; tuyệt đối chớ vin vào sủng ái để cầu vinh, cầu may lập công, e rằng ngược lại chuốc lấy nhục.

○ Hỏi về hôn nhân: Đạo hôn nhân nên để môn đăng hộ đối; tuyệt đối chớ ham giàu, vin người sang, tham kết thân, kẻo về sau hối hận. Việc ấy thường có.

○ Hỏi về nhà cửa: Nhà mới xây, tiếc rằng cầu hoa lệ quá mức, khiến khó duy trì lâu dài.

○ Hỏi về việc kiện tụng: E rằng một khi vướng vào kiện tụng, vụ việc sẽ kéo dài lâu mà không giải quyết xong.

○ Hỏi về thai sản: Thai đầu sinh con gái, chỉ e khó nuôi.

【Ví dụ】 Tháng bảy năm Minh Trị thứ 15, biến loạn xảy ra ở Triều Tiên; Công sứ Hanabusa cùng thuộc hạ chạy về Nagasaki. Tháng tám cùng năm, triều đình phái lục quân và hải quân, lệnh cho Công sứ Hanabusa lại sang Triều Tiên để vấn tội. Tôi gieo quẻ, được Hằng biến thành Đại Tráng.

Đoán rằng: Từ lời hào đầu của Tượng truyện có thể biết Triều Tiên đang dần tiến tới khai hóa. Lần này Triều Tiên tuy thất lễ với ta, nhưng nếu chính phủ nhân cơn giận nhất thời mà quên đạo lâu dài, trách phạt quá sâu, thì sẽ đúng như lời hào: “Đào sâu vào Hằng, giữ chính thì xấu, không có gì lợi”; đó chính là điều chính phủ phải lo. Nếu việc vấn tội mà chính phủ đang tiến hành không nhằm truy xét quá sâu, mà nhằm hòa giải, thì sự việc có thể êm thấm. Dù nhất thời chưa hòa giải được, hào đầu Hằng biến thành Đại Tráng, tức chỉ dùng quân bị của Đại Tráng để gây sức ép mà thôi. Kế sách là chia quân ta thành sáu bộ phận, để bốn bộ phận ở Mã Quan, dùng hai bộ phận làm lực lượng chi viện cho Đảng Khai hóa Triều Tiên. Nếu vẫn chưa đủ, có thể cho một đạo quân từ cảng Nguyên Sơn đánh thốc vào hậu phương, giúp Đảng Khai hóa duy trì Triều Tiên. Đó là lẽ của những con số do trời định.

Sau khi gieo quẻ xong, tôi trình cho một vị quý hiển. Vị ấy lại sai người hỏi: “Việc Triều Tiên tuy không đáng lo, nhưng quan hệ với nước Thanh thực sự rất lớn. Xin ông hãy đoán quan hệ giữa nước ta và nước Thanh.” Tôi lại gieo quẻ, được quẻ Cấn bất biến.

Đoán rằng: Cấn là quẻ hai núi đối nhau. Hai núi đối nhau thì có thể nhìn thấy nhưng không thể đến gần, cũng không thể ứng với nhau. Ở quẻ không gần, không ứng như vậy, có thể khẳng định rõ là không có chiến tranh. Về sau việc Triều Tiên quả nhiên đúng như lời đoán này.

Cửu nhị: Hối tiêu.

Cửu nhị: Hối tiêu.

Tượng truyện nói: Hối của Cửu nhị tiêu tan vì có thể ở lâu nơi trung.

Hào hai là dương mà ở vị âm, nên mất vị và có hối. Tuy nhiên, hào hai ở giữa Tốn, là chủ của Tốn; lại ứng với âm của hào năm, dùng đức cứng trung để giúp vị quân chủ mềm trung. Đạo của nó đã được trung, lại có thể giữ lâu, nên nói “hối tiêu”. Tượng truyện nói “có thể ở lâu nơi trung”, nghĩa là đạo có thể lâu dài không nằm ngoài trung. Muốn “ở lâu trong đạo của mình” ắt phải ở lâu nơi trung. Hào hai làm được như vậy, nên hối tự nhiên tiêu tan.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Vị trí doanh trại không thích đáng, e sẽ hối hận về sau. Chỉ nên ở giữa, không di động, cố thủ lâu dài thì có thể tránh họa.


○ Hỏi về kinh doanh: Hàng hóa không tìm được đầu ra, gây hao tổn; nên kiên nhẫn chờ giá trong thời gian dài, có thể thu hồi vốn.

○ Hỏi về công danh: Mất cơ hội có thể ngược lại chuốc tai họa. Chờ thời rồi đi; dù không thành danh cũng không đáng trách.

○ Hỏi về nhà cửa: Vị trí ngôi nhà không thích đáng, người ở không được lợi. Sau mười năm vận nhà có thể chuyển, lúc ấy mới không lỗi.

○ Hỏi về hôn nhân: Bình thường.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Chủ tịch một công ty đến xin đoán vận hội của công ty, gieo được Hằng biến thành Tiểu Quá.

Đoán rằng: “Sấm và gió tương trợ” và “cứng mềm đều ứng nhau” là tượng của một công ty. Tên quẻ là Hằng, nên sự nghiệp ắt phải nhờ lâu dài mới thành. Nay được hào hai; hào hai lấy dương ở vị âm, không khỏi ở không đúng vị, nên công việc có trở ngại. Ngài đích thân gánh trách nhiệm chủ tịch công ty, nên xử sự theo trung chính, giữ cho sự nghiệp được lâu bền. Giữ sự chính của Tốn, noi theo sự tiến hành của Chấn; trải lâu không mỏi, đẩy mạnh mọi việc đến chỗ có lợi, thì đạo ấy sẽ hanh thông. Có gì phải hối hận?

Nghe vậy, vị chủ tịch nói: “Từ khi công ty khai nghiệp đến nay, nhiều việc không được như ý. Nay được quẻ này, ắt phải kiên trì không ngừng, mưu cầu sự nghiệp lớn lao.” Về sau công ty quả nhiên trở nên thịnh đạt.

【Ví dụ】 Tháng hai năm Minh Trị thứ 26, Uemura Tosaburo, người quản lý Công ty Khai mỏ Than và Đường sắt Hokkaido, đến nói: “Tôi làm việc công ty đã nhiều năm, công việc có nhiều mặt; tôi rất sợ sức yếu tài kém, không đảm đương nổi chức vụ. Tôi định chuyển sang chức quan nhưng còn do dự chưa quyết, xin hãy gieo cho một quẻ.” Gieo được Hằng biến thành Tiểu Quá.

Đoán rằng: Tốn ở dưới, Chấn ở trên. Tốn là củi, có tượng than đá; Tốn cũng là buôn bán, lợi ích, có tượng công ty. Chấn là đi, là chạy, có tượng đường sắt. Nay được hào hai. Cửu nhị là hào của Khảm, địa chi là Tý, ở phía trên gặp sao Hư. Hư thuộc các tinh tú phương bắc, nên công ty ở Hokkaido. Hào hai lấy dương ở vị âm, là mất vị nên có hối. Nhưng ngài đã làm việc công ty, ắt hiểu sâu lợi ích trong đó; ở lâu trong đạo ấy thì tự nhiên tinh thông, lão luyện, có thể chấn hưng sự nghiệp. Sau khi được quẻ này, ông Uemura càng thêm khuyến khích bản thân, chỉ trong vài tháng đã được giao trọng trách.

Cửu tam: Không giữ đức của mình cho hằng, có khi bị người làm nhục; giữ chính thì đáng tiếc.

Cửu tam: Không giữ đức của mình cho hằng, có khi bị người làm nhục; giữ chính thì đáng tiếc.

Tượng truyện nói: Không giữ đức của mình cho hằng thì không có chỗ nào dung thân.

Hào Cửu tam ở tận cùng quẻ Tốn. Tốn tượng trưng cho tiến lui và sự thiếu quyết đoán, nên đây là tượng “không giữ đức được lâu bền”. “Hổ thẹn” nghĩa là nhục nhã. Cửu tam lấy hào Dương ở ngôi Dương, tuy địa vị chính đáng nhưng vì lòng không định, đức tính không bền, nên sai lầm theo đó mà phát sinh. “Hoặc” là lời chỉ việc sắp xảy ra: tuy sự hổ thẹn chưa hiện rõ, nhưng có thể sẽ giáng xuống. Dù giữ chính cũng đáng tiếc. “Tiếc” nghĩa là điều đáng khinh. Tượng truyện nói “không có chỗ dung thân”; một khi đại tiết bị tổn hại thì không nơi nào giữa trời đất có thể trốn tránh. Đó là lời quở trách hết sức nghiêm khắc.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến trận: Việc quân quý ở chỗ dũng mãnh tiến lên và quyết đoán, nhờ đó mới chế ngự được đối phương. Tốn là không quyết đoán, ắt sẽ nhiều sợ hãi và lui bước, tiến lui không bền; tình thế sẽ làm nhục quốc gia, tổn hại quân đội, sao có thể thoát khỏi trách lỗi?


○ Hỏi về kinh doanh: Hào từ nói: “Không giữ đức được lâu bền”, ắt là người buôn bán không có nghề nghiệp ổn định; làm sao thu được lợi?

○ Hỏi về công danh: Đức hạnh hai ba lòng, sự nghiệp ắt không thành, danh tiếng dựa vào đâu mà nên?

○ Hỏi về nhà cửa: Hào ba ở cuối quẻ Tốn; cuối Tốn biến thành quẻ Chấn, Chấn tượng trưng cho đường lớn. Nhà này ắt ở bên đường lớn, không thuận lợi để ở lâu.

○ Hỏi về hôn nhân: Việc hôn nhân không thành, e sẽ chuốc lấy nhục nhã.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Một ngày nọ, một vị quý hiển đến thăm, nói với tôi: “Có một đồng liêu vì mắc nợ nên nhờ tôi giúp đỡ; một vị trưởng quan cũng đứng ra dàn xếp giúp. Tôi đã nhận lời, nhưng đến hạn thì người ấy hoàn toàn không có khả năng trả. Xin hãy gieo quẻ xem được mất thế nào.” Bói được quẻ Hằng biến thành quẻ Giải.

Đoán rằng: Quẻ này là “bền lâu mà không dứt”, có thể biết khoản cho vay sẽ vĩnh viễn không được hoàn trả. Hào từ nói “không giữ đức được lâu bền”, nghĩa là người ấy khốn quẫn đến thế, ắt sẽ thay lòng đổi dạ, không thể giữ trọn lời hứa và giao ước này. “Có khi phải chịu nhục” nghĩa là nếu ông nổi giận trách cứ, người ấy ắt sẽ nói lời vô lễ, khiến chính ông phải chịu nhục. Về sau quả nhiên đúng như lời đoán.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ hai mươi tám, bói vận nước nhà Thanh, được quẻ Hằng biến thành quẻ Giải.

Đoán rằng: Hằng nghĩa là lâu dài. Xét lại quan hệ giao thiệp giữa nước ta với các nước ngoài, chỉ có nước Thanh là lâu đời nhất; đó là tượng của Hằng. Hai nước đứng cạnh nhau ở châu Á, nương tựa nhau như má với hàm, lại là những nước cùng dùng một nền văn tự nên đặc biệt thân mật. Những năm gần đây, các nước Âu Mỹ văn minh khai hóa, ngày một đổi mới. Nước ta thấy vậy, bèn lấy sở trường của họ để bổ khuyết sở đoản của mình: đưa con em thanh niên sang Âu Mỹ du học, lại mời giáo viên phương Tây đến dạy dỗ con em. Còn nước Thanh cố chấp giữ tục cũ, tự phô bày vẻ tôn đại, không thể nhìn thấu đại thế trong thiên hạ. Triều Tiên nằm giữa hai nước ta và Thanh. Nước ta bàn với Thanh, định cùng nhau bảo hộ lẫn nhau, nhưng Thanh nghi ngờ nước ta, rốt cuộc hai bên phải đối trận. Nay được hào ba. Hào từ nói: “Không giữ đức được lâu bền, có khi phải chịu nhục, giữ chính thì đáng tiếc.” Tốn là tiến lui, ý nói Thanh tiến lui không có thường định, ắt sẽ chịu nhục.

Cửu tứ: Ngoài đồng không có chim thú.

Cửu tứ: Ngoài đồng không có chim thú.

Tượng truyện nói: Ở lâu nơi không phải địa vị của mình, làm sao bắt được chim thú?

“Cầm” là tên gọi chung của chim thú. Chấn là thợ săn, Tốn là chim thú. Cửu tứ ở đầu quẻ Chấn, đã ra khỏi Tốn; tức là thợ săn của Chấn tiến lên, còn chim thú của Tốn lui xuống. Săn trong tình thế ấy ắt không thu hoạch gì, nên nói “ngoài đồng không có chim thú”, để ví với việc mất lòng dân. Điều đáng quý trong đạo Hằng là đức xứng với ngôi, tài vượt quá trọng trách: thờ bề trên thì có điều kiến giải, cai trị kẻ dưới thì đem lại an ninh và cứu giúp. Ngày tháng lâu dài, công lao bổ ích tất sẽ nhiều. Cửu tứ lấy Dương ở ngôi Dương, ứng với Sơ lục. Sơ lục nói “đào sâu vào Hằng, không có gì lợi”; cái không lợi chính là ý “không có chim thú”. Tượng truyện nói “ở lâu nơi không phải địa vị của mình, làm sao bắt được chim thú?” Nói chung, ở sai chỗ, gặp sai thời, làm sai phương pháp, giao du sai người, thì dù kéo dài bao lâu cũng không có thành công. Quan hệ giữa đồng ruộng và chim thú làm rõ nhất chuyện được mất, nên được dùng làm tượng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến trận: Dựng doanh trại sai vị trí, ắt quân đội mỏi mệt mà không có công.


○ Hỏi về kinh doanh: Hàng hóa bán ra đều có nơi thích hợp. Như đi hỏi gỗ nơi người đánh cá, hỏi cá nơi người đốn củi, dù làm nghề ấy lâu đến đâu cũng ắt không thu hoạch được gì.

○ Hỏi về công danh: Không vào trường thi mà mong đỗ khoa cao, không bước vào triều đình mà cầu chức hiển, ở sai địa vị thì dù lâu dài cũng chẳng thu hoạch được gì.

○ Hỏi về nhà cửa: Phương vị ngôi nhà này không thuận, không thể ở lâu, nên nhanh chóng dời đi.

○ Hỏi về hôn nhân: Hai họ kết đôi không hòa hợp.

○ Hỏi về lục giáp: Sinh con trai, e khó nuôi dưỡng.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ hai mươi ba, một vị thân sĩ đến nhờ bói vận khí của một quý hiển. Gieo được quẻ Hằng biến thành quẻ Thăng.

Đoán rằng: Tôi sẽ nói thẳng theo lý của quẻ, mong ngài chớ trách. Nay ngài bói vận khí của vị quý hiển kia, được hào tứ của quẻ Hằng. Hào tứ lấy Dương ở ngôi Âm, ở không đúng vị. Hào từ nói “ngoài đồng không có chim thú”, cũng như nói mưu tính mà không thành công. Biết rằng vị quý hiển ấy tuy đã ở địa vị cao lâu ngày, nhưng thời vận hiện nay đã suy, tài lực cũng yếu đi; mọi việc làm phần nhiều không có hiệu quả. Tốt nhất nên lui về ở ẩn, chớ để mang tiếng chiếm giữ địa vị không xứng đáng.

Lục ngũ: Giữ đức được lâu bền. Giữ chính thì người phụ nữ tốt lành, người đàn ông hung.

Lục ngũ: Giữ đức được lâu bền. Giữ chính thì người phụ nữ tốt lành, người đàn ông hung.

Tượng truyện nói: Người phụ nữ giữ chính thì tốt lành, vì theo một người mà giữ trọn đến cuối đời. Người đàn ông để việc hành động của mình bị phụ nữ chi phối thì hung.

Lục ngũ ở ngôi tôn quý, làm chủ quẻ Hằng, bên dưới ứng với Cửu nhị. Cửu nhị ở quẻ Tốn, Tốn tượng phụ nữ; Lục ngũ ở quẻ Chấn, Chấn tượng người chồng. Lục ngũ chỉ chuyên giữ sự ứng với Cửu nhị, khiến đức của mình trở nên một mực không đổi. Giữ chính quả là giữ chính, nhưng làm phụ nữ thì tốt lành, làm đàn ông thì hung. Phải biết hào năm là hào chủ của Chấn, mà Chấn tượng hành động. Chí hướng của người chồng phải là dùng nghĩa để quyết đoán công việc, thi hành sao cho lợi ích được lan rộng, và dựng nên sự nghiệp lâu dài. Nếu chỉ coi việc theo một người là chính đáng, đó là đạo của thiếp phụ, là điều Mạnh Tử gọi là “kẻ đàn ông thấp hèn”. Tượng truyện nói “theo một người mà đến cuối”, nghĩa là chỉ thích hợp với đức của người phụ nữ, nên nói “giữ chính thì tốt”. Còn “có chỗ để đi thì lợi” là nói người đàn ông. Hành vi của người đàn ông thích hợp nhất là xét rõ điều nghĩa. Nghĩa không hại sự chính, nhưng sự chính đôi khi có thể làm tổn hại điều nghĩa, nên nói “theo phụ nữ thì hung”. “Giữ chính thì tốt” trong Tượng truyện chỉ người phụ nữ; “có chỗ để đi thì lợi” chỉ người đàn ông. Hiểu được điều này thì sẽ nắm được đạo Hằng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến trận: Người xưa nói trong quân có phụ nữ thì sĩ khí không phấn chấn. Thất bại của Hạng Vũ hẳn không phải không liên quan đến việc Ngu Cơ làm vướng bận ông ta. Khi hành quân nên hết sức răn dè điều này.


○ Hỏi về kinh doanh: Kinh doanh nên tùy thời biến thông. Nếu câu nệ chấp nhất một đường lối, mang cái nhìn nhỏ nhen ham chút lợi của phụ nữ trẻ con, ắt không có lợi lớn.

○ Hỏi về công danh: Chí hướng của người đàn ông ở bốn phương, tiền đồ rộng lớn. Nếu chỉ quyến luyến chốn phòng the, sẽ hại thân mất danh; không có điều hung nào lớn hơn.

○ Hỏi về gia trạch: Người xưa có câu: “Gà mái mà gáy sáng thì nhà cửa chỉ có suy bại”; quả thật cần hết sức lấy đó làm điều răn.

○ Hỏi về hôn nhân: Nhà gái được quẻ này thì tốt, nhà trai được quẻ này thì hung.

○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.

【Ví dụ】 Một phú thương đến nhờ bói vận khí, được quẻ Hằng biến thành quẻ Đại Quá.

Đoán rằng: Tôi vốn biết ông kinh doanh đã lâu, sáng suốt, mạnh mẽ và tháo vát. Nay ông hỏi vận khí, được hào năm của quẻ Hằng. Hào năm là hào chủ của Chấn, Chấn tượng sự theo thuận, nên Tượng nói “theo phụ nữ thì hung”. Phụ nữ và kẻ tiểu nhân đều thuộc tượng Âm. Việc kinh doanh cần tùy nghi tự chủ, không thể nghe theo lời người khác. Ngay cả đạo trị gia cũng không nên thiên lệch chỉ nghe lời phụ nữ. Lời hào và tượng hàm ý răn dạy sâu sắc; ông nên hết sức thận trọng.

Thượng lục: Rung động không ngừng. Hung.

Thượng lục: Rung động không ngừng. Hung.

Tượng truyện nói: Ở trên cùng mà làm Hằng rung động, ắt hoàn toàn không có công.

Chấn là động, nên khi Hằng đến hào trên thì có tượng rung chuyển. Thượng lục ở cuối Chấn, là cực điểm của sự động. Kẻ động nên lấy tĩnh mà giữ; cái kết thúc nên trở về với khởi đầu. Như vậy đức mới toàn vẹn đến cuối đường, sự nghiệp không thất bại ngay trước lúc thành công, và đạo Hằng mới hoàn tất. Nay Thượng lục ở cực điểm của Hằng mà vẫn rung động không ngừng, lấy rung động làm điều thường hằng; Hằng có lúc kết thúc nhưng rung động không có hồi kết, vì vậy là hung. Chấn tượng sự nóng nảy quyết liệt, Tốn cũng là quẻ táo động. Táo động không ngừng giống như sấm phát ra mà không thu lại, gió thổi mà không dừng; làm sao có thể lập công? Vì thế Tượng truyện nói “hoàn toàn không có công”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến trận: Hào trên tượng vị chủ soái. Đạo hành quân cốt ở sự trấn tĩnh. Nếu vọng động, ham lập công, ắt không thành.


○ Hỏi về kinh doanh: Hào trên là chỗ quy kết của một quẻ, cũng là lúc việc buôn bán phải được kết thúc. Đến lúc nên kết toán mà không kết toán, xuất nhập không có thời điểm cố định, rốt cuộc sẽ không có kết cục.

○ Hỏi về công danh: Thượng hào ở cuối quẻ, công danh đã đến tận cùng. Nếu còn si tâm vọng cầu, không những không thành mà e còn chuốc họa.

○ Hỏi về nhà cửa: Nhà này đã cũ, không cần sửa xây lại; sửa xây ắt hung.

○ Hỏi về hôn nhân: Ắt là tái hôn vào tuổi già. Không cần cưới lại; nếu cưới ắt hung.

○ Hỏi về việc kiện tụng: Nên khẩn trương chấm dứt việc kiện tụng.

○ Hỏi về đồ thất lạc: Không tìm lại được.

【Ví dụ】 Một thương nhân đến nhờ bói vận khí, được quẻ Hằng biến thành quẻ Đỉnh.

Đoán rằng: Phàm bói gặp thượng hào, thượng hào là cục kết của quẻ; vận tốt của người ấy ắt đã hết, chỉ nên tĩnh thủ. Nay Thượng lục của Hằng nói “lấy rung động làm Hằng”: quẻ đã hết mà động chưa hết, nên nói là hung. Ông được hào này, nên giữ tĩnh để chế động, như vậy có thể không mắc lỗi.