Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 52 Cấn vi Sơn. Cấn: Dừng ở lưng mình, không thấy được thân mình; đi trong sân nhà, không thấy người ấy. Không lỗi.

Cấn vi Sơn. Cấn: Dừng ở lưng mình, không thấy được thân mình; đi trong sân nhà, không thấy người ấy. Không lỗi.

Cấn: Dừng ở lưng mình, không thấy được thân mình; đi trong sân nhà, không thấy người ấy. Không lỗi.

52 Cấn vi Sơn

Quẻ Cấn gồm hai hào âm và một hào dương, được thể của Đất. Hào trên của Khôn biến đổi thành Càn, nên được hào dương trên cùng của Càn. Càn là Trời, vốn vận động; hào trên cùng của Trời, khi vận động đến cực điểm thì trở nên tĩnh, nên tượng là dừng. Một hào dương đứng cao trên đất Khôn, vì vậy tượng là núi. Quẻ này trái ngược với Chấn: Chấn có một hào dương khởi lên từ bên trong, Cấn có một hào dương ngăn chặn ở bên ngoài. Khởi từ trong là động, bị chặn ở ngoài là dừng. Tự quái truyện nói: “Chấn là động. Vạn vật không thể động mãi; phải dừng lại, nên tiếp đến là Cấn. Cấn là dừng.” Đó là lý do Cấn nối tiếp Chấn.

Cấn[60]: Dừng ở lưng mình, không thấy được thân mình; đi trong sân nhà, không thấy người ấy. Không lỗi.

Quẻ Cấn có một hào dương cao lớn ở trên, hai hào âm chia ra ở dưới. Một hào dương ở trên tượng cho đạo người; hai hào âm ở dưới tượng cho thân người. Từ đầu trở xuống, phần trước gồm lông mày, mắt, tay chân đều do hai hào âm biểu thị; chỉ có xương sống chạy thẳng xuống sau lưng là hào dương. Vì vậy lông mày, mắt, tay chân đều động, chỉ lưng không động. Không động là Cấn; Cấn là dừng, nên nói “dừng ở lưng mình”. Người ta phải đối mặt mới gặp nhau. “Dừng ở lưng mình” thì quay lưng, không gặp nhau; lưng ở phía sau, thân ở phía trước, nên nói “không thấy được thân mình”. Cấn là cổng sân; lòng quay lưng thì hành động cũng quay lưng. Quay lưng thì không gặp, không gặp thì tất nhiên không thấy. Vì vậy nói “đi trong sân nhà mà không thấy người ấy”. Tất cả đều lấy ý từ cái lưng.

Thoán truyện nói: “Cấn là dừng. Đến lúc dừng thì dừng, đến lúc đi thì đi; động hay tĩnh đều không lỡ thời, đạo ấy sáng rõ. Dừng ở chỗ phải dừng là dừng đúng nơi của mình. Trên dưới đối địch, không giao kết. Vì thế không thấy được thân mình; đi trong sân nhà mà không thấy người ấy. Không lỗi.”

Quẻ này trên dưới đều là núi, có tượng hai ngọn núi đứng song song. Hai núi đứng đối nhau, không qua lại, đó là tượng dừng. Người ta chỉ thấy tĩnh là dừng, động là đi, không biết tĩnh có sự dừng của tĩnh, động cũng có sự dừng của động: dừng là dừng, mà đi cũng là dừng. “Chỗ” là nơi dừng có định; “thời” là lúc dừng không cố định. Dừng đúng thời thì thời chính là chỗ dừng; tưởng như không định mà thực ra có định. Hào dương ở hào ba và hào trên của Cấn chính là hào dương ở hào ba và hào trên của Càn. Hào ba Càn nói “cùng đi với thời”, hào trên nói “cùng thời đạt đến cực điểm”. Tĩnh thì thu lại, động thì mở ra; từ xưa đến nay chưa từng trái thời. Không mất thời của Trời thì sự dừng của Trời được đúng chỗ. Vì thế có thể dừng, có thể đi, có thể động, có thể tĩnh, không hề có chướng ngại nhỏ nào; đó là cội nguồn của sáng suốt. Người có thể dừng đúng chỗ thì hợp người với Trời, tâm thể tự nhiên sáng rõ, không bị che lấp. Đó chính là ý nghĩa “minh đức” trong Đại học. Từ biết chỗ dừng, trải qua định và tĩnh, đến có thể suy xét mà đạt được, tự nhiên có thể tiến thoái theo thời. Bản thể của “làm sáng tỏ minh đức” phát ra thành công dụng của “làm sáng tỏ minh đức”, quyết không phải thứ giáo lý “hư vô tịch diệt” của Phật giáo có thể mượn để nương tựa. “Trên dưới đối địch, không giao kết” nghĩa là mọi ứng đều phải một cương một nhu; nếu đều cương hoặc đều nhu thì là “địch ứng”, tức không ứng. Trong tám quẻ thuần, các hào đều không ứng, nhưng chỉ riêng Cấn được nói như vậy vì Cấn gồm núi chồng lên nhau, mỗi bên dừng ở nơi phải dừng, đứng đối nhau sừng sững, không giao tiếp, nên đạt nghĩa dừng. Theo Âm hội, “phía bắc của thân gọi là lưng”. Lưng là nơi mắt tai không với tới; vì vậy bên trong không thấy thân, bên ngoài không thấy người. Do đó nói “không thấy được thân mình, đi trong sân mà không thấy người ấy”. Vì dừng do không giao kết, nên dừng mà không lỗi.

Đem quẻ này suy vào việc người, Thoán truyện nói “lưng”, nói “thân”, nói “thấy”, đều lấy tượng ở thân người; còn nói “đi”, “dừng”, “động”, “tĩnh” thì cũng chẳng ngoài việc người. Việc người có cái từ động mà vào tĩnh, có cái từ tĩnh mà vào động. Từ tĩnh mà động là quẻ Chấn: trên có hai hào âm, dưới phát ra một hào dương, ấy là dương động. Từ động mà tĩnh là quẻ Cấn: dưới có hai hào âm, trên có một hào dương ngồi yên, ấy là dương chỉ. Dương chỉ là tĩnh mà không phải chỉ có tĩnh, động mà không phải chỉ có động; chẳng phải không tĩnh, cũng chẳng phải không động, lúc động lúc tĩnh, đáng dừng thì dừng, đáng đi thì đi. Vì thế trong động tĩnh, điều quý là “không mất đúng thời”. Nếu như Lão Tử nói về huyền, Phật gia nói về vô, đều lấy tĩnh chế động rồi lánh vào chỗ khô héo, đoạn diệt, thì đạo ấy ắt tối tăm không sáng. Đó là lấy âm ngăn dương, ngăn đúng chỗ cần ngăn, chứ không phải cái chỉ của quẻ Cấn. Cái chỉ của Cấn là xét đúng thời, được đúng chỗ; vì vậy là dương ngăn âm. Một nét trên của Cấn thành quẻ Càn, Càn là sáng; từ hào ba đến hào trên là tượng quẻ Ly, Ly là ánh sáng, nên nói “đạo của nó sáng tỏ”. Hào trên và hào dưới của quẻ không ứng nhau, nên nói “không tương dữ”. Không tương dữ thì không có gì lôi kéo lay động; thấy như không thấy, nghe như không nghe. Người ta có thể không nghe không thấy thì mọi việc trong thiên hạ đều không khiến tâm suy nghĩ lo lắng. Vì vậy được lưng mà không còn được thân, đi là ở nơi ta, không còn thấy người kia. Đem cách ấy xử việc người thì việc người còn có lỗi gì nữa?

Đem quẻ này suy vào quốc gia, “Cấn là dừng”, cho nên dùng để ngăn bạo lực và định loạn. Hai hào âm phục ở dưới, có ý mưu kín làm điều trái; một hào dương ở trên chế ngự chúng, khiến hai hào âm không thể âm thầm chuyển động, vì vậy là dừng. “Lưng” là vật không nhìn thấy. “Dừng ở lưng” nghĩa là ngăn từ khi chưa thấy, tức có thể phòng trước khi loạn chưa manh nha. Vì vậy, công dụng của sự dừng là ở chỗ được đúng thời, còn tượng của sự dừng thì lấy từ thân thể. Thân người là nơi dương khí hội tụ; lưng thuộc âm, âm thì tối, dương thì sáng. Lấy dương ngăn âm, dừng được đúng chỗ, nên nói “đạo của nó sáng tỏ”. Bậc thánh thiên tử ở ngôi dương mà ra trị, còn quần âm lui phục, dừng mà không động; tất cả đều âm thầm được cảm hóa dưới bầu trời sáng sủa. Đó là tượng ấy. Sáu hào lấy sơ ứng với tứ, nhị ứng với ngũ, tam ứng với thượng. Thường thì trên động, dưới ứng; dưới động, trên ứng, đôi bên lôi kéo nhau. Chỉ tám quẻ thuần là trên dưới một thể, nên không ứng nhau. Quẻ Cấn nói “núi chồng núi”: núi có trước có sau, cũng như người có thân có lưng. Núi ở trước không thể thấy phía sau, người đứng ở thân mình cũng không thể thấy lưng mình, nên hai bên không tương dữ. Vì thế nói “không được thân mình, đi trong sân mình mà không thấy người của mình”; do đó không có lỗi.

Xét toàn quẻ, theo Thuyết văn giải tự, chữ Cấn vốn là chữ mang nghĩa “trừng mắt dữ dằn”, gồm bộ “chủy” và “mục”; hình ảnh chủy-mục biểu thị hai mắt cùng hướng lên nhìn nhau, không nhìn xuống. Hình tượng ấy mang ý nghĩa hung dữ, cứng rắn, không chịu tiến bước. Lục thư bản nghĩa nói: “Chữ này theo bộ chủy, lấy hình hai mắt đặt song song, nhìn đối nhau.” Tượng truyện của quẻ Cấn nói: “Cấn là dừng lại”, tức là chỉ sự cứng rắn, dữ dằn, không tiến lên. “Không thấy người ấy” chính là tượng hai mắt nhìn lên nhau mà không nhìn xuống. Cấn được tượng bằng hai ngọn núi đứng song song, lấy hình hai mắt đặt cạnh nhau. Nói chung, một động một tĩnh là ống bễ của tự nhiên trời đất; một tiến một dừng là then chốt cố định của thân người. Thể quẻ là một hào dương dừng ở trên hai hào âm; ngoài thực, trong hư, âm hư ở bên trong, dương thực che phủ bên ngoài. Nó giống như người quay lưng về phương bắc mà đứng, nhìn vào bên trong và lắng nghe bên trong, vì thế nói “đạo của mình sáng tỏ”. Về vị trí các quẻ, Cấn và Chấn nương nhau mà sinh: Chấn dựa vào sự dừng của Cấn, Cấn dựa vào sự động của Chấn. Trong thiên hạ, không có động mà không dừng, cũng không có dừng mà không động. Vì động rồi dừng nên Chấn đứng trước Cấn; vì dừng rồi động nên Cấn nối sau Chấn. Tượng của sáu hào đều lấy từ thân thể con người. Hào đầu là “ngón chân”; hào hai là “bắp chân”, phần bụng của chân, ở phía sau. Hào ba là “sống lưng”; hào bốn là “thân”. Không nói đến tim vì tim ở phía trước; không nói đến lưng vì hào ba đã tượng trưng cho lưng. Hào năm là “má”, không thấy mặt mà thấy phần má bên cạnh nâng đỡ mặt. Hào trên ở ngoài quẻ, nên không nói dừng ở chỗ nào mà nói “dừng một cách đôn hậu”, tượng núi tiếp tục cao thêm. Xét tượng các hào, ba hào bên trong không cát bằng ba hào bên ngoài. Hào hai nói “không vui”, hào ba nói “hun đốt lòng”; chỉ hào đầu còn được lợi. Hào bốn nói “không lỗi”, hào năm nói “hối hận tiêu tan”, hào trên nói “kết cuộc dày hậu”. Vì vậy, quẻ Cấn nhìn chung có nhiều điều cát ở phía ngoài. Việc trong thiên hạ, hễ kết thúc mà có thể dừng lại thì chưa từng có điều gì là không tốt. Điều đáng quý là biết dừng đúng thời.

Tượng truyện nói: Núi chồng núi, ấy là Cấn. Người quân tử noi theo đó, giữ cho tư tưởng không vượt khỏi địa vị của mình.

Trong tượng quẻ, ngoài một ngọn núi lại có thêm một ngọn núi, hai núi đối nhau, thế núi liên tiếp, nên gọi là “núi chồng”. Tám quẻ thuần đều có trên dưới là một thể, liên kết với nhau; chỉ quẻ Cấn thì hai núi trên dưới mỗi núi dừng ở chỗ của mình, không qua lại. Đó là ý Cấn, tức dừng. Người quân tử noi theo tượng Cấn: núi là nơi dừng của Cấn, còn địa vị là nơi dừng của con người. Suy nghĩ kỹ càng nhưng không dám vượt ra ngoài. Đó chính là điều Trung Dung nói: “Ở yên nơi địa vị của mình mà hành động, không mong cầu điều ở ngoài địa vị ấy.”

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Vận thế bình thường, nên lui về giữ vững, không nên vọng động.


○ Hỏi việc chinh chiến: Nên mỗi bên giữ cương giới, không được nuôi ý vượt ra ngoài lãnh vực.

○ Hỏi kinh doanh: Nên giữ vững nghề nghiệp vốn có, không được tham của cải ngoài dự liệu.

○ Hỏi công danh: Nên giữ như cũ, chớ vin vào may mắn mà cầu tiến càn.

○ Hỏi nhà cửa: Nhà này tuy vị trí chật hẹp, không nên tùy tiện sửa sang cải tạo.

○ Hỏi hôn nhân: Duyên phận đã định từ trước, không nên tham giàu khinh nghèo.

○ Hỏi việc kiện tụng: Không thể lấy điều cong làm điều ngay.

○ Hỏi đồ thất lạc: Hãy tìm ngay tại chỗ cũ, sẽ tìm thấy.

○ Hỏi bệnh tật: “Dừng” là hết; chỉ có thể mang bệnh mà kéo dài tuổi thọ.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

Sơ lục: Dừng ở ngón chân, không lỗi. Lợi về giữ chính bền lâu.

Sơ lục: Dừng ở ngón chân, không lỗi. Lợi về giữ chính bền lâu.

Tượng truyện nói: Dừng ở ngón chân là chưa mất sự chính đáng.

Ở hào đầu của quẻ Cấn, hào này ứng với vị trí ngón chân. Người ta hễ động hay dừng thì tất phải bắt đầu từ ngón chân. Vì thế muốn dừng tâm thì trước hết phải dừng thân; muốn dừng thân thì trước hết phải dừng ngón chân. Ngón chân dừng thì không vọng động; không vọng động thì dừng đúng chỗ, không bị mất mát, nên nói “không lỗi”. Cát hung, hối lận thường sinh từ động. Dừng ngón chân là dừng sự động ngay lúc đầu, ngăn lòng ham muốn trước khi nảy mầm, giữ đạo trời trước khi hiển lộ. Điều đã hoạch định từ đầu càng phải giữ bền lâu, nên nói “lợi về giữ chính bền lâu”. Tượng truyện nói “chưa mất chính” nghĩa là tuy âm ở ngôi dương, địa vị xét ra chưa chính, nhưng vì dừng đúng chỗ cần dừng nên nền tảng ban đầu vẫn chính; do đó chưa mất sự chính đáng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Vận trình mới bắt đầu, nên vững bước giữ mình, không được vọng tiến, tự nhiên sẽ không lỗi.


○ Hỏi chinh chiến: Đóng quân ở chân núi, nên tĩnh thủ, không nên vọng động.

○ Hỏi kinh doanh: Nên biết đủ.

○ Hỏi công danh: Bước đầu tuy nhỏ bé nhưng không mất chính.

○ Hỏi nhà cửa: Nhà này ở gần chân núi, có thể ở lâu dài, không lỗi.

○ Hỏi hôn nhân: Trăm năm hòa hợp, không lỗi.

○ Hỏi bệnh tật: Bệnh ở chân, đi lại khó khăn, nhất thời khó khỏi.

○ Hỏi kiện tụng: Không mất chính, không lỗi.

○ Hỏi người đi xa: Vì chân không thể đi nên một thời gian chưa về.

○ Hỏi đồ thất lạc: Nhất định chưa mất, nên tìm ở chỗ khuất dưới đất.

○ Hỏi lục giáp: Sinh con gái, đề phòng bệnh ở chân.

【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ hai mươi bốn, xem vận khí của một vị đại thần, được quẻ Cấn biến thành quẻ Bí.

Lời đoán nói: Cấn là quẻ hai núi đứng song song; hai núi đứng song song thì không thể tiến lên, có tượng dừng mà không động. Nay ngài xem vận khí mà được hào đầu này. “Ngón chân” là ngón ở bàn chân. Phàm con người hành động, chân ở phía trước. “Dừng ngón chân” thì ngón chân không động, toàn thân cũng theo đó mà bất động. Đó chính là điều Tượng truyện gọi là “người quân tử giữ cho tư tưởng không vượt khỏi địa vị của mình”. Ngài nên biết rằng phải giữ chính đạo lâu dài, bảo toàn tước vị này, không cần lại cầu được bổ dụng hay thăng tiến. Nếu vọng động, ắt khó tránh khỏi lỗi.

Lục nhị: Dừng ở bắp chân, không cứu được cái theo mình, lòng không vui.

Lục nhị: Dừng ở bắp chân, không cứu được cái theo mình, lòng không vui.

Tượng truyện nói: Không cứu được cái theo mình là chưa lui xuống nghe theo.

“Bắp chân”, theo Bản nghĩa, được giải thích là phần bụng chân; Chính tự thông nói đó là thịt phía sau ống chân. Bắp chân ở trên ngón chân, nên lấy làm tượng cho hào nhị. Hào nhị quẻ Hàm nói “cảm ở bắp chân”, Hàm lấy cảm ứng làm chủ; hào nhị quẻ Cấn nói “dừng bắp chân”, Cấn lấy sự dừng làm chủ, nên là yên ổn đứng im, không động. Nhưng ngón chân và bắp chân đều là bộ phận vận động, vốn không muốn dừng. Cái cần dừng là tâm. Tâm muốn dừng thì ngón chân không thể không dừng; ngón chân đã dừng thì bắp chân cũng theo đó. Vì vậy bắp chân là phần theo ngón chân mà động và dừng. “Cứu” nghĩa là viện trợ. “Không cứu được cái theo mình” là nói hào tam, tức “hạn”, ở trên, không chịu cúi xuống lắng nghe; ngón chân và bắp chân cùng chuyển động, nên lòng hào nhị “không vui”. Tượng truyện nói “chưa lui xuống nghe theo”, nghĩa là vừa không thể cứu sự động của nó, vừa không thể lui lại nghe mệnh lệnh để theo sự dừng của nó; vì thế lòng không vui.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Vận trình bị ngăn trở, nên bó chân không tiến, không nên hành động theo lòng mình.


○ Hỏi chinh chiến: Dừng là không tiến; phải cố thủ không động, lại không có viện trợ bên ngoài, nên lo buồn.

○ Hỏi kinh doanh: Hàng hóa đình trệ không bán được, rất đáng lo.

○ Hỏi công danh: Không tiến được một tấc, lại khổ vì thiếu người trợ lực lớn.

○ Hỏi bệnh tật: “Phỉ” còn có nghĩa là tàn héo. Kinh Thi nói “trăm loài cỏ đều tàn héo”, vì bị gió thu làm tổn hại. Bệnh này cũng hẳn là chứng bệnh mùa thu, e rằng sức thuốc không thể cứu được, rất đáng lo.

○ Hỏi hôn nhân: “Phỉ” cũng có nghĩa là tránh; nên tránh và tuyệt giao.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】Theo lời thỉnh cầu của người bạn là ông Ishisaka, xem việc mỏ quặng, được quẻ Cấn biến thành quẻ Cổ.

Lời đoán nói: Cấn là núi, bắp chân ở phía trên chân núi. Thoán truyện nói “dừng ở lưng”; lưng là phía sau thân, và các hào lấy tượng đều ở phía sau. Hỏi việc núi mỏ mà được hào này, biết rằng cửa mỏ nên ở phía sau núi. Sơ là ngón chân, nhị là bắp chân; bắp chân ở trên ngón chân, nên biết cửa mỏ lại ở dưới đùi, trên bàn chân. “Cấn là dừng”; xét về việc thì nghĩa là đình chỉ. Ngón chân và bắp chân vốn thích động, không thích dừng; nay ứng sự dừng thì lòng ắt không vui. Hiện nay người khởi xướng chắc sẽ đề nghị đình chỉ, người đi theo cũng không đủ sức cứu vãn, vậy lui bước là đúng. Phải đợi đến hào ngũ, “hối tiêu tan”, được sự trợ giúp của nó rồi mới có thể tiếp tục tham gia. Tính theo hào thì phải ba năm sau.

【Ví dụ】Đông chí năm Minh Trị thứ hai mươi bảy, xem tình hình sau chiến tranh, được quẻ Cấn biến thành quẻ Cổ, rồi trình lên Thủ tướng Nội các.

Lời đoán nói: Thể quẻ lấy tượng ở núi, còn tượng quẻ lấy ở thân người. Thân vốn là vật động, núi thì dừng mà không động. Quẻ này lại đối với Chấn: Chấn động, Cấn dừng, tức động đến cực điểm thì dừng. Nay xem tình hình sau chiến tranh mà được hào nhị của Cấn. Sơ là ngón chân, nhị là bắp chân. Bắp chân tiến lên trên ngón chân, có thể co duỗi, sự động càng mạnh, sức cũng lớn hơn. Xét tình hình sau chiến tranh, đó là tượng mạnh hơn trước. Sau chiến tranh, nhận được khoản tiền bồi thường rất lớn, các binh sĩ tham chiến đều khoe sức mạnh võ công của mình, nhiều lần coi thường quan văn. Còn các đại thần trong triều, xét toàn cục, phải lấy khoản tiền ấy mở rộng quân bị làm việc trước nhất, nhưng không thể thuận theo lòng quân sĩ, nên lòng họ ắt không vui. Hơn nữa, Tự quái truyện nói “Cấn là dừng”: sau đại chiến nên nghỉ ngơi dưỡng sức, không nên nóng nảy vọng động. Người xưa gọi việc dừng binh khí là võ, đây chính là chứng nghiệm. Lòng võ sĩ vốn thích động, không thích tĩnh; nay bị bắt dừng mà không được động, nhiều người buồn bực không vui cũng là tình thế tất nhiên. Xét sự động của bắp chân, hễ bắp chân tự động thì do tâm khiến nó động. Đối với sự động của võ sĩ cũng vậy, không phải võ sĩ có thể tự quyết, mà là triều đình khiến họ động. Vì thế triều đình phải bình tĩnh trấn giữ.

Cửu tam: Dừng ở thắt lưng, làm tách xương sống. Nguy hiểm, xông khói vào lòng.

Cửu tam: Dừng ở thắt lưng, làm tách xương sống[61], nguy hiểm, xông khói vào lòng.

Tượng truyện nói: Dừng ở thắt lưng là nguy hiểm xông khói vào lòng.

“Hạn” là ngưỡng cửa, ranh giới giữa bên trong và bên ngoài. Ở hào ba, giữa phần trong và phần ngoài có một nét ngang chắn qua, nên mang tượng cái ngưỡng. “Liệt” nghĩa là chia tách; bản của Ngu thị dùng chữ “liệt” với nghĩa xé ra. “Dần” thông với “muội”; Mã Vân nói đó là thịt bên cạnh xương sống. Hào năm quẻ Hàm dùng chữ “muội”; Dịch truyện nói “thịt ở xương sống gọi là muội”, còn Trịnh nói “muội là thịt sống lưng”. Vì vậy, dần và muội tuy chữ khác nhau nhưng nghĩa giống nhau. “Huân” thông với “xông”, nghĩa là đốt cháy. “Hạn” ở hào ba quẻ Cấn ngăn cách phần trên và phần dưới của thân thể, khiến chúng không giao thông, làm tâm và lưng bị chia làm hai, giống như ngưỡng cửa ngăn cách trong và ngoài. Đây là điều Phật giáo gọi là “hàng phục tâm”. Dùng sức cưỡng ép khuất phục tâm thì tâm là lửa, lửa trong tâm bốc lên thiêu đốt dữ dội trong lồng ngực; nếu không thể dập tắt, tâm sẽ nguy hiểm. Kinh Thi nói: “Lòng lo âu của ta âm ỉ như khói lửa”, chính là nói điều này. Nhưng nào ai biết tâm vốn rỗng không mà linh diệu, cảm ứng rồi liền thông suốt? “Cảm ở thịt sống lưng” của quẻ Hàm và “dừng ở ngưỡng” của quẻ Cấn, một bên là cảm, một bên là dừng, vốn chẳng khác nhau. Thoán truyện nói: “Đến lúc nên dừng thì dừng, đến lúc nên đi thì đi; động hay tĩnh đều không trái thời.” Hãy để tâm thuận theo tự nhiên, không thể coi ngăn cách là dừng. Ngăn cách để dừng là muốn làm tâm an định, nhưng lại thích hợp làm tâm nguy hại. Tâm há có thể bị cưỡng chế ư? Kinh mạch, huyết khí của con người phải lưu thông xuyên suốt trên dưới, trước sau, không bị ngăn trở; khi ấy tâm tự nhiên thư thái. Nếu phần trên không giáng xuống, phần dưới không thăng lên, kinh mạch không thông, máu thịt chia lìa, tâm làm sao yên được? Vì thế nói là “nguy”. Tượng truyện đổi chữ “lệ” thành “nguy”, vì “nguy” đáng sợ hơn “lệ”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về thời vận: Vận trình thuận hay nghịch đều phải thuận theo thời; cưỡng ép ắt nguy.


○ Hỏi về chiến tranh: Hai quân đối diện, mỗi bên đều tranh giành cương giới; há có thể vạch ranh giới rồi chỉ tự thủ sao? Kẻ chỉ biết tự thủ ắt nguy.

○ Hỏi về kinh doanh: Hàng hóa phải lưu thông mới có thể sinh lợi, huống hồ hiện nay các nước giao thương với nhau, xuất nhập khẩu và trao đổi lẫn nhau. Nếu đóng cửa tự hạn chế thì ắt là con đường dẫn đến nghèo túng, cực kỳ nguy hiểm.

○ Hỏi về công danh: Người chỉ chuyên giữ một nghề ắt không phải bậc đại tài.

○ Hỏi về gia trạch: Đạo trị gia, việc ra vào trong ngoài cố nhiên nên nghiêm cẩn, nhưng không nên cách tuyệt. Cách tuyệt thì tài dụng không lưu thông, gia đạo sẽ nguy.

○ Hỏi về hôn nhân: Đạo hôn nhân vốn do trời se duyên. Nếu chỉ khư khư giữ cửa nhà mình thì không thể thành niềm vui của hai họ.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng bệnh bị ngăn bế, trên dưới không giao nhau, huyết mạch không thông, bệnh thế đáng nguy.

○ Hỏi về kiện tụng: Tình ý trên dưới không thông đạt, khó phân rõ phải trái.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái, nên đề phòng khó sinh.

【Thí dụ】 Một người đến xin bói vận khí của một vị quý hiển, được quẻ Cấn biến sang quẻ Bác.

Đoán rằng: Tượng hào là huyết mạch không thông, tâm và lưng chia lìa, thế rất đáng nguy. Nay quý hạ hỏi vận khí mà được hào này, biết rằng trong ngoài chính phủ, tình giao của quý hạ phần nhiều không hòa hợp. Nguyên do là địa vị tự cao, không muốn qua lại với người khác, nên thế lực dần cách tuyệt, tình ý không thông, gần thành cô lập. Tuy có tài trí nhưng không có chỗ thi triển, thân mình đã nguy. Hào từ nói: “Dừng ở ngưỡng, xé thịt bên sống lưng; nguy, lòng bừng cháy.” Tượng chính là như vậy. Quý hạ nên tìm đến đạo của quẻ Hàm. Hào năm quẻ Hàm nói: “Cảm ở thịt sống lưng,” như thế sẽ không hối tiếc.

Sáu ở hào bốn: Dừng ở thân, không lỗi.

Sáu ở hào bốn: Dừng ở thân, không lỗi.

Tượng truyện nói: “Dừng ở thân” là dừng nơi chính thân mình.

“Thân” nói chung là toàn thể con người; xét riêng thì trong một thân cũng có phân biệt trên dưới. Hào sáu bốn ở trên quái dưới và dưới quái trên, đúng vào vị trí của tâm, ở giữa thân người. Hào này là âm nhu mà đắc chính, bên trên gần hào sáu năm, nên có thể “dừng ở chỗ đáng dừng”, giữ mình trong sạch và tự xử tốt đẹp. Tuy không thể làm lợi cho cả thiên hạ, vẫn có thể tự thiện bản thân. So với ba hào của nội quái, nó có phần hơn. Nhưng vì âm ở ngôi âm nên không đủ sức làm nên việc lớn, chỉ có thể lấy thân mình làm khuôn mẫu cho thiên hạ. Vì vậy nói: “Dừng ở thân, không lỗi.” Hào ba nói về tâm, hào bốn nói về thân: tâm là hư, thân là thực. Người ta cần hàm chứa cái hư mà thực hành cái thực, nhờ đó không rơi vào tệ hư vô của Phật giáo. Tượng truyện giải thích là “dừng nơi chính mình”; “cung” cũng có nghĩa là thân. Lấy thân để dừng tâm chính là điều Đại tượng gọi là “suy nghĩ không vượt khỏi địa vị của mình”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về thời vận: Vận trình mềm thuận; biết giữ mình thì tự nhiên không lỗi.


○ Hỏi về chiến tranh: Khó mong tiến thủ, nhưng nếu bản thân không bị tổn thương hay thất bại thì còn lỗi gì nữa?

○ Hỏi về kinh doanh: Chỉ có thể giữ vốn.

○ Hỏi về công danh: Không được cũng không mất.

○ Hỏi về gia trạch: Ở yên thì không lỗi.

○ Hỏi về hôn nhân: Bình thường.

○ Hỏi về bệnh tật: Đây là chứng bệnh mang bệnh mà vẫn kéo dài được tuổi thọ.

○ Hỏi về đồ thất lạc: Hãy tìm ngay trên người mình.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Thí dụ】 Năm Minh Trị thứ hai mươi, bói vận khí của một vị quý hiển, được quẻ Cấn biến sang quẻ Lữ.

Đoán rằng: Hào bốn nằm ở chỗ giao nhau của trên và dưới, đúng vị trí của tâm. Tâm ở trong, thân ở ngoài, nên “dừng ở thân” là nói gồm cả thân lẫn tâm. Tuy nhiên quẻ Cấn chủ về dừng; dừng thì không làm nên việc, không đủ để lập công, chỉ cầu không lỗi mà thôi. Nay quý hạ hỏi vận khí mà được hào bốn quẻ Cấn; lời hào “dừng ở thân” là tượng giữ thân, an mệnh. Hào bốn gần ngôi tôn, biết rằng tước vị của quý hạ đã hiển đạt. Nên cẩn thận giữ chức phận, sớm tối không lười nhác, để bảo toàn danh vọng, bổng lộc và địa vị của bản thân, an hưởng phúc thái bình này; còn lỗi gì nữa? Đại tượng nói: “Bậc quân tử suy nghĩ không vượt khỏi địa vị của mình”, điều ấy quả thực ứng với quý hạ.

Sáu ở hào năm: Dừng ở hàm; lời nói có thứ tự, hối tiếc tiêu tan.

Sáu ở hào năm: Dừng ở hàm; lời nói có thứ tự, hối tiếc tiêu tan.

Tượng truyện nói: “Dừng ở hàm” là vì giữ được trung chính.

Hào năm ở giữa ngoại quái, hai hào âm xếp hai bên, nên có tượng quai hàm. Theo hào thượng quẻ Hàm, “hàm là miệng chuyển động làm vui”, tức hàm là nơi phát ra lời nói. “Dừng ở hàm” là không nói sai lời. Đạo của người quân tử là ít nói thì ít hối. “Dừng ở hàm” dĩ nhiên không phải ngăn hàm lại để không nói một lời, mà là chỉ nói khi đúng thời. Nói đúng thời thì lời có thứ tự: khi có thể im thì im, khi có thể nói thì nói. Nói hay im đều không trái thời, nên hối tiếc tiêu tan. Tượng truyện giải bằng “trung chính”: “Dừng ở hàm” nghĩa là hào trên đạt được trung chính, vì vậy lời nói có thứ tự và không hối.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về thời vận: Vận được trung chính, nên không có hối tiếc hay lo buồn.


○ Hỏi về chiến tranh: Khi hành quân, điều kỵ nhất là lời đồn và lời nói càn bậy làm rối lòng quân. “Dừng ở hàm” khiến không nói bừa; nhờ vậy hiệu lệnh nghiêm minh, đi đến đâu cũng vô địch.

○ Hỏi về kinh doanh: Tình hình thương mại cũng như tình hình quân sự, tin tức không thể để lộ. “Dừng ở hàm” thì lời nói nắm được điều cốt yếu.

○ Hỏi về công danh: Lời xảo trá ắt bị truất bỏ, lời chính trực ắt được trọng dụng. Nói được trung chính thì chỉ qua một cuộc trò chuyện ngắn cũng có thể được cất nhắc làm khanh tướng.

○ Hỏi về gia trạch: Nhà này được vị trí trung chính, ở đó không hối.

○ Hỏi về hôn nhân: Lời người mai mối thường nhiều hư dối, người nghe nên thận trọng.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng khớp hàm khép chặt, miệng không phát ra tiếng; nếu phát được tiếng thì bệnh còn có thể chữa.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Thí dụ】 Tháng mười một năm Minh Trị thứ hai mươi tư, Công Hino-Nishi, nghị viên Viện Quý tộc, cùng Inaba Masakuni, Tổng tài Thần đạo, đến thăm và nói: “Mùa xuân năm nay, dịch bệnh dữ dội lan tràn; từ Tể tướng Sanjo trở xuống, hai ba vị nguyên lão lần lượt đột ngột qua đời, quả là bất hạnh của quốc gia. Chẳng bao lâu sau lại xảy ra vụ bạo loạn ở Otsu, thảm họa động đất Nobi, cùng việc đèn sân trong Thần cung Ise bỗng tắt dù không có gió. Tất cả đều là những biến cố hung dữ ngoài ý muốn, từ xưa hiếm khi nghe nói, vậy mà năm nay lại liên tiếp xuất hiện. Người ta nói quốc gia sắp hưng thịnh ắt có điềm lành, quốc gia sắp diệt vong ắt có yêu nghiệt. Đây chính là điềm báo ấy chăng? Sao có thể không sợ? Nay ngày khai mở nghị hội đã gần, đây là việc thần dân trên dưới đặc biệt chú ý. Xin ngài bói một quẻ để thấy nghị viện sẽ hưng hay bại.” Tôi đáp: “Tháng mười hai năm ngoái tôi đã bói việc này, đem hào từ trình lên Tổng lý Matsukata, Công Dinh bộ Doi và một vị nữa. Quẻ và hào được là Cấn biến sang Tiệm.”

Đoán rằng: Đại tượng nói “núi nối nhau”, tức hai núi cùng đứng, ngăn cản qua lại, có tượng trên dưới không thông. Nay hỏi về Hạ nghị viện mà được hào năm quẻ Cấn. Hào từ “dừng ở hàm” nghĩa là kiềm chế cái miệng của các cuộc nghị luận, khiến lời vô căn cứ không được tùy tiện truyền đến tai bề trên. “Lời nói có thứ tự” nghĩa là lời của người tranh luận phải được sắp xếp ngay ngắn, có trật tự thì mới đáng nghe nhận. Tượng hào dường như đã biết trước rằng trong cuộc nghị luận lần này sẽ có nhiều lời bất kính, có người cố ý gây khó dễ cho chính phủ, cuối cùng dẫn đến việc nghị viện bị giải tán theo chiếu chỉ; xét theo thế, đó là điều tất yếu. Dù mọi lời nghị luận đều có thứ tự, cũng chỉ đạt “không hối”, chưa đủ để thấy có công. Điềm của Hạ nghị viện là như vậy.

Hai vị nghe xong rất cảm phục. Đến tháng mười hai, Hạ nghị viện quả nhiên bị giải tán theo chiếu chỉ.

Thượng cửu: Dừng một cách dày sâu; tốt lành.

Thượng cửu: Dừng một cách dày sâu; tốt lành.

Tượng truyện nói: “Cái tốt lành của sự dừng dày sâu” là vì kết thúc bằng sự hậu trọng.

Hào trên cùng ở cuối quẻ Cấn, tức tận cùng của sự dừng. “Đôn” nghĩa là làm cho dày thêm. Người ta nói Thái Sơn không từ chối đất đá nên mới thành cao; đó là ý nghĩa của đôn hậu. Hào trên có thể lấy sự đôn hậu để tự dừng, vì thế được tốt lành. Trong sáu hào quẻ Cấn, chỉ hào trên nói tốt lành, bởi đạo của Cấn được tận cùng ở hào trên. Giữ vững tâm này, biết chỗ nên dừng, thì sẽ nặng dày như núi, không thể lay chuyển; không gì tốt lành hơn thế. Tượng truyện giải là “kết thúc bằng sự hậu trọng”: dừng bằng sự dày sâu thì được yên ổn; càng kết thúc trong sự dày sâu thì càng thêm dày. Điều khiến Cấn “thành tựu sự kết thúc” nằm ở cái dày này, mà điều khiến nó “thành tựu sự khởi đầu” cũng chính ở cái dày này.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về thời vận: Vận trình đến đây thì không thể tiến thêm; chỉ có làm cho sự hậu trọng ngày càng tăng mới được tốt lành.


○ Hỏi về chiến tranh: Địa vị đã lên đến tột bậc; cốt yếu là làm cho binh lực thêm hùng hậu, ắt được tốt lành.

○ Hỏi về kinh doanh: Đây là mối làm ăn thượng hạng, giá cao hàng tốt, lợi nhuận ắt dồi dào.

○ Hỏi về công danh: Ắt được tuyển vào hàng thượng tuyển. Tốt lành.

○ Hỏi về gia trạch: Ắt là nhà nhiều đời trung hậu. Tốt lành.

○ Hỏi về hôn nhân: Tốt lành.

○ Hỏi về bệnh tật: Thể chất vốn dày khỏe, không dùng thuốc cũng có tin vui.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Thí dụ】 Tháng ba năm Minh Trị thứ hai mươi bảy, một vị quý hiển đến xin bói vận khí, được quẻ Cấn biến sang quẻ Khiêm.

Đoán rằng: Hào trên cùng ở tận cực của Cấn trùng, tức trên đỉnh của hai núi chồng nhau. Bản thể của núi là dày nặng; núi càng cao thì càng dày. Vì thế ý nghĩa toàn quẻ quy tụ ở hào trên, và chỉ hào trên được nói là tốt lành; có thể thấy vận về sau sẽ hanh thông. Nay quý hạ hỏi vận khí mà được hào thượng; biết quý hạ đứng trên dân chúng, tước vị cao sang, được nhân dân ngưỡng vọng, nghiễm nhiên như núi cao. Lại vốn ôm lòng trung hậu, chưa từng lấy quyền thế áp người. “Đôn” là dày, Cấn là dừng. Quý hạ nên dừng ở chỗ đáng dừng, làm cho sự hậu trọng ngày càng thêm hậu trọng; đối với mình cũng như đối với người, không gì là không được tốt lành. Sự thịnh vượng của đại vận được thấy rõ ở đây.