☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 60 Thủy Trạch Tiết, Tiết: Hanh, khổ tiết bất khả trinh.
䷻
Thủy Trạch Tiết, Tiết: Hanh, khổ tiết bất khả trinh.
Tiết: Hanh, khổ tiết bất khả trinh.
60 Thủy Trạch Tiết
Tạo thành quẻ bởi Đoài ở dưới, Khảm ở trên, Đoài là đầm, Khảm là nước. Nước đổ về đầm, đầy thì tiến, gặp hố (Khảm) thì dừng, nước vốn tự có dung lượng của nó; đầm chứa nước, bằng thì nhận, đầy thì tràn, đầm cũng tự có hạn chế của nó, đó gọi là Tiết. Quẻ đảo vị trí với Khốn, đầm ở trên nước gọi là đầm rò, đầm rò thì không có nước nên gọi là Khốn; nước ở trên đầm gọi là đầm sâu, đầm sâu thì có nước nên gọi là Tiết. Đó là lý do quẻ này có tên là Thủy Trạch Tiết.
Tiết [82]: Hanh, khổ tiết bất khả trinh.
▲ Kim văn chữ 'Tiết'
Thể quẻ có hỗ trên là Cấn, 'Cấn là dừng', hỗ dưới là Chấn, 'Chấn là đi'; có thể đi thì đi, có thể dừng thì dừng, đi hay dừng đều đạt sự trung dung, mới gọi là Tiết. Đi hay dừng đạt sự trung dung nên mới hanh thông, nếu uốn nắn quá trớn, cố chấp giữ mình, thì sự tiết chế cũng thành cay đắng. Tiết chế mà cay đắng thì không còn khoảng trống để đối xử với người, cũng không còn khoảng trống để tự xử với mình, lâm vào đường cùng không còn chốn dung thân, nên nói 'Khổ tiết bất khả trinh'.
"Thoán truyện" nói: Tiết, heng. Cứng mềm phân chia mà cứng được trung. Tiết khắc khổ không thể giữ trinh, vì đạo ấy sẽ cùng cực. Vui vẻ mà đi qua hiểm trở, đúng vị trí mà tiết chế, trung chính để thông suốt. Trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành; dùng chế độ để tiết chế thì không hại tài sản, không hại nhân dân.
"Tự quái truyện" nói: "Hoán nghĩa là lìa tan. Vật không thể lìa tan mãi, cho nên tiếp nối bằng quẻ Tiết." Tiết có nghĩa là tiết chế, hạn chế. Tiết là để tiết chế sự quá độ mà khiến cho hợp với mức trung tiết. Quẻ gồm ba âm ba dương, âm dương cân bằng, Khảm cứng ở trên, Đoái mềm ở dưới, đó là điều gọi là "cứng mềm phân chia". Cứng mềm phân chia mà trên dưới không rối loạn, ấy là được trung; được trung thì heng thông, nên nói "Tiết heng". Tiết chế mà không được trung, như kiệm ước không đúng lễ, bắn cung không trúng đích, chỉ tự làm khổ mình, không thể làm điều chính, sao có thể heng thông? Không heng thông thì cùng cực, đó không phải lỗi của việc tiết chế, mà là lỗi của tiết chế không đúng mức trung. "Tượng" đặc biệt nêu ra để răn đe, nhằm cứu vớt sự lệch lạc ấy. Khảm là hiểm, Đoái là vui, dùng Đoái để tiết Khảm, khiến người ta có niềm vui mà không cảm thấy bách bức, đó là "vui vẻ mà đi qua hiểm trở". Hào năm ở vị trí tôn quý, làm chủ quẻ Tiết, đó là "đúng vị trí mà tiết chế". Trung mà lại chính, vị và đức cùng lập, có thể định đoạt mọi người, làm cho mọi việc heng thông, đó là "trung chính để thông suốt". Thể quẻ vốn từ quẻ Thái mà đến; đạo của quẻ Tiết cũng bắt đầu từ trời đất, mặt trời mặt trăng thay nhau chiếu sáng, bốn mùa luân chuyển, rét nóng qua lại, công việc cả năm nhờ đó mà thành, đây là sự tiết chế của trời đất, nên nói "trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành". Phỏng theo sự tiết chế của trời đất để làm chế độ, thì dùng cái này để tiết chế tiền tài mà tài sản không bị thương tổn, dùng cái này để tiết chế nhân dân mà dân không bị tổn hại. Mong sao thiên hạ đều vui vẻ theo sự tiết chế của ta, mới có thể thực thi không bị cản trở, áp dụng ở đâu cũng đúng đắn. Yếu điểm chỉ ở sự được trung của cứng và mềm, há lại gọi là "tiết khắc khổ" sao!
Lấy quẻ này ví với việc người, ăn uống không tiết chế dẫn đến bệnh tật, lời nói không tiết chế để lại hổ xấu, tiêu dùng không tiết chế làm phá nhà, sắc dục không tiết chế làm hại thân, đều là cái hại của việc người vậy. Muốn uốn nắn những mối tệ ấy mà đến mức nhịn ăn, khóa miệng, tiếc tiền, cắt đứt ham muốn, tuy gọi là tiết chế, nhưng không chịu nổi nỗi khổ ấy, đó là tiết chế không được trung, mà ngược lại dẫn đến cùng cực, làm sao có thể heng thông? Việc người không heng thông, đều do sự mất cân bằng của cứng và mềm mà ra; quá cứng thì xa xỉ, quá mềm thì keo kiệt, đạo vì thế mà cùng cực. Quẻ này Khảm trên Đoái dưới, cứng mềm chia đều, lấy cái vui của Đoái tiết chế cái hiểm của Khảm, làm cho lòng người được niềm vui mà hành động quên đi sự hiểm trở, đúng vị trí mà định đoạt muôn việc, thì muôn việc đều heng thông. Trung và chính thì không lệch lạc; heng và thông thì không tắc nghẽn. Cho nên hỉ nộ ai lạc của con người chính là mưa sương sấm sét của trời; ăn ở nghỉ ngơi của con người chính là ngày đêm tối sáng của trời. Thân người có chế độ tự nhiên, trời đất cũng có vận hành tự nhiên, điều gọi là "trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành" chính là thế này. Việc người rốt cuộc không nằm ngoài đạo trời vậy.
Lấy quẻ này ví với quốc gia, việc chính trị quốc gia muôn vàn chi tiết, tóm lại một câu chỉ ở chỗ tiết chế bằng chế độ mà thôi. Chế độ đạt được trung đạo thì sự tiết chế ấy có ngọt ngào mà không có cay đắng, có thể thông suốt mà cũng có thể giữ vững chính đạo. Cương nhu chia đều thì đạo không bị cùng tận; vui vẻ và hiểm trở nương tựa lẫn nhau thì vị trí đạt được sự thỏa đáng. Lấy điều này quản lý tài chính thì tài sản không tổn hại, lấy điều này sử dụng dân chúng thì dân chúng không bị tổn hại. Trong bốn biển rộng lớn, muôn dân đông đúc, thánh nhân dùng chế độ để tiết chế, khiến mọi người đều cảm nhận sự vui vẻ, mọi người đều quên đi hiểm trở, lại làm cho mọi người đều vui vẻ tuân theo tiết độ ấy, cái gọi là "đương vị để tiết chế, trung chính để thông suốt" chính là ở đạo này vậy. Tóm lại, thánh nhân vốn dùng sự vui vẻ để tiết chế sự hiểm trở, không lệch về cương, không lệch về nhu, chỉ phỏng theo sự tiết độ của trời đất làm chuẩn mực. Trời đất có tiết độ thì bốn mùa hình thành, thánh nhân có tiết độ thì muôn dân vui vẻ, đạo ấy là một. Mở rộng bàn về các hào, "đương vị" là chỉ Hào Cửu Ngũ, vì ở vị trí trung tâm nên gọi là "cam tiết" (tiết chế ngọt ngào). Đạo cùng tận là chỉ Hào Thượng Lục, chữ "khổ tiết" (tiết chế đắng cay) trong Thoán truyện chính do Hào Thượng Lục đảm nhận. Hào Lục Tứ đạt được chữ "heng" (thông suốt) của Thoán truyện, nên gọi là "an tiết" (tiết chế an lành). Hào Sơ Cửu "không ra khỏi" là cẩn trọng để tiết chế. Hào Cửu Nhị thất vị là mất trung đạo. Hào Lục Tam "than thở" là tai họa tự chuốc lấy. Tóm lại, đạt được trung đạo thì tốt lành, quá trung đạo thì hung tai; điều mà Thoán truyện gọi là "Tiết heng" trước hết nằm ở chỗ "cương nhu phân định mà cương đạt được trung đạo".
Quán thông quẻ này, tượng quẻ lấy dưới là Khảm, trên là Đoài, các hào chia đều cương nhu, đúng vị thì cát. Dương thực âm hư, thực thì tắc mà hư thì thông. "Tiết" là đốt tre vậy, chỗ thông của tre gọi là trống, chỗ tắc gọi là đốt. Nhược bằng lập liêm ngóc, phân ranh giới, đều là ý nghĩa của Tiết vậy. Cho nên người mà không có tiết, giống như thời gian mà không có thứ tự. Cái sự lạnh nóng tạnh mưa, dịch chuyển thay thế, nếu mất đi tiết độ, thì trời đất khép tắc, công việc cả năm không thành; người mà không có tiết độ, thì mê muội rối loạn, đi đứng đều cùng đường, đó là lỗi ở chỗ không biết tiết độ vậy. Không biết không tiết vốn dĩ hung, quá tiết cũng hung, muốn mong tiết ấy được trinh, cầu cho tiết ấy được hông, duy ở chỗ cương nhu đạt được trung vậy. Thể quẻ trong vui ngoài hiểm, cương nhu chia đều, Cửu Ngũ đúng vị, cương đạt được trung, vui để tiết chế hiểm, trung mà lại chính, thì đạo ấy không đâu là không thông vậy. Cho nên ở bậc thánh nhân, lấy chỗ hết sức trung bình làm "Tiết", cái tiết ấy không có lòng riêng; ở trời đất lấy sự tuần hoàn làm "Tiết", cái tiết ấy không có hình trạng; ở quẻ lấy Khảm và Đoài thành tựu lẫn nhau làm "Tiết", cái "Tiết" ấy có tượng vậy. Bậc thánh nhân ở dưới tiếp nối nước đất, cho nên lấy tượng ấy để tỏ cho người ta biết. Thoán Truyện nói "khổ", nói "cùng", là răn cái lỗi của nó; nói "hông", nói "thông", là làm rõ hiệu quả của nó; nói "đạt trung", nói "đúng vị", là tỏ ra quy tắc của nó; nói "không hại tài", nói "không hại dân", là khen ngợi đức tốt của nó. Quẻ này lại do quẻ Thái mà đến, cho nên ở quẻ Tiết cũng có thể thấy tượng trời đất giao thái vậy. Nước chảy gặp Khảm mà dừng, có ý nghĩa thông tắc, vì thế cả sáu hào đều lấy thông tắc để làm cát hung. Sơ biết tắc mà dừng tắc, nên "không ra", "không lỗi"; Hai đáng thông mà tắc, nên "mất thời" là hung; Ba không tắc mà "than thở", lỗi còn chối vào đâu? Tư tắc mà có thể "an", đạt được cái hông của Thoán Truyện; Ngũ là chủ cả quẻ, "trung chính để thông"; Sáu tắc mà không thông, ấy gọi là "khổ tiết". Đại để đạo Kinh Dịch răn sự đầy tràn, tiết chế để phòng đầy tràn, phòng quá mức, hoặc ngập ngừng mà hỏng việc, hoặc keo kiệt mà mất xứng đáng. Trái thời trời, ngược lòng người, đều khó tránh khỏi hung lỗi vậy. Đạo lấy cương trung làm cát, đây là lý do bậc thánh nhân coi trọng thời trung vậy.
"Đại Tượng" nói: Trên đầm có nước là quẻ Tiết. Quân tử lấy đó mà định ra số độ, bàn luận về đức hạnh.
"Đầm không có nước" gọi là quẻ Khốn, đầm có nước gọi là quẻ Tiết, có nước mà không tiết chế thì đầm cũng cạn khô, vì thế quân tử lấy tượng từ quẻ Tiết. "Số độ" là chỉ cân đo đong đếm và phép tắc; "đức hạnh" là chỉ chuyện đạo đức và tính mệnh. Đoái do Khôn biến thành, Khôn là nặng, là ít, tượng cho "số độ"; Khảm do Càn biến thành, Càn là đạo, là tính, tượng cho đức hạnh, Khảm là bằng phẳng, nghĩa là định đoạt được sự công bằng; Đoái là miệng, nghĩa là bàn luận xuất phát từ miệng, vì thế quân tử "định ra số độ, bàn luận về đức hạnh".
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình trung chính, nguồn tài chính phong phú, chỉ nên bên ngoài tiết chế thu chi, bên trong tiết chế thân tâm. Cát.
○ Dự đoán quân sự: Quân đội có kỷ luật tiết chế, trèo cao qua hiểm, có thể giữ mà cũng có thể đánh.
○ Dự đoán thương mại: Đầm có nước, là tượng giàu có. Pháp chế đã tinh vi, bàn luận cũng xác đáng, không gì là không thu được lợi nhuận.
○ Dự đoán công danh: Phẩm hạnh đoan chính, quy luật chi tiết rõ ràng, có tượng cá rồng gặp nước.
○ Dự đoán hôn nhân: Nam quẻ Khảm nữ quẻ Đoái, nước và đầm hợp thành, cát.
○ Dự đoán nhà ở: Nhà gần đầm lớn, gia đạo giàu có, cát.
○ Dự đoán bệnh tật: Bệnh nên tiết chế ăn uống, cẩn trọng hành động.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
60 Thủy Trạch Tiết
Tạo thành quẻ bởi Đoài ở dưới, Khảm ở trên, Đoài là đầm, Khảm là nước. Nước đổ về đầm, đầy thì tiến, gặp hố (Khảm) thì dừng, nước vốn tự có dung lượng của nó; đầm chứa nước, bằng thì nhận, đầy thì tràn, đầm cũng tự có hạn chế của nó, đó gọi là Tiết. Quẻ đảo vị trí với Khốn, đầm ở trên nước gọi là đầm rò, đầm rò thì không có nước nên gọi là Khốn; nước ở trên đầm gọi là đầm sâu, đầm sâu thì có nước nên gọi là Tiết. Đó là lý do quẻ này có tên là Thủy Trạch Tiết.
Tiết [82]: Hanh, khổ tiết bất khả trinh.
▲ Kim văn chữ 'Tiết'
Thể quẻ có hỗ trên là Cấn, 'Cấn là dừng', hỗ dưới là Chấn, 'Chấn là đi'; có thể đi thì đi, có thể dừng thì dừng, đi hay dừng đều đạt sự trung dung, mới gọi là Tiết. Đi hay dừng đạt sự trung dung nên mới hanh thông, nếu uốn nắn quá trớn, cố chấp giữ mình, thì sự tiết chế cũng thành cay đắng. Tiết chế mà cay đắng thì không còn khoảng trống để đối xử với người, cũng không còn khoảng trống để tự xử với mình, lâm vào đường cùng không còn chốn dung thân, nên nói 'Khổ tiết bất khả trinh'.
"Thoán truyện" nói: Tiết, heng. Cứng mềm phân chia mà cứng được trung. Tiết khắc khổ không thể giữ trinh, vì đạo ấy sẽ cùng cực. Vui vẻ mà đi qua hiểm trở, đúng vị trí mà tiết chế, trung chính để thông suốt. Trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành; dùng chế độ để tiết chế thì không hại tài sản, không hại nhân dân.
"Tự quái truyện" nói: "Hoán nghĩa là lìa tan. Vật không thể lìa tan mãi, cho nên tiếp nối bằng quẻ Tiết." Tiết có nghĩa là tiết chế, hạn chế. Tiết là để tiết chế sự quá độ mà khiến cho hợp với mức trung tiết. Quẻ gồm ba âm ba dương, âm dương cân bằng, Khảm cứng ở trên, Đoái mềm ở dưới, đó là điều gọi là "cứng mềm phân chia". Cứng mềm phân chia mà trên dưới không rối loạn, ấy là được trung; được trung thì heng thông, nên nói "Tiết heng". Tiết chế mà không được trung, như kiệm ước không đúng lễ, bắn cung không trúng đích, chỉ tự làm khổ mình, không thể làm điều chính, sao có thể heng thông? Không heng thông thì cùng cực, đó không phải lỗi của việc tiết chế, mà là lỗi của tiết chế không đúng mức trung. "Tượng" đặc biệt nêu ra để răn đe, nhằm cứu vớt sự lệch lạc ấy. Khảm là hiểm, Đoái là vui, dùng Đoái để tiết Khảm, khiến người ta có niềm vui mà không cảm thấy bách bức, đó là "vui vẻ mà đi qua hiểm trở". Hào năm ở vị trí tôn quý, làm chủ quẻ Tiết, đó là "đúng vị trí mà tiết chế". Trung mà lại chính, vị và đức cùng lập, có thể định đoạt mọi người, làm cho mọi việc heng thông, đó là "trung chính để thông suốt". Thể quẻ vốn từ quẻ Thái mà đến; đạo của quẻ Tiết cũng bắt đầu từ trời đất, mặt trời mặt trăng thay nhau chiếu sáng, bốn mùa luân chuyển, rét nóng qua lại, công việc cả năm nhờ đó mà thành, đây là sự tiết chế của trời đất, nên nói "trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành". Phỏng theo sự tiết chế của trời đất để làm chế độ, thì dùng cái này để tiết chế tiền tài mà tài sản không bị thương tổn, dùng cái này để tiết chế nhân dân mà dân không bị tổn hại. Mong sao thiên hạ đều vui vẻ theo sự tiết chế của ta, mới có thể thực thi không bị cản trở, áp dụng ở đâu cũng đúng đắn. Yếu điểm chỉ ở sự được trung của cứng và mềm, há lại gọi là "tiết khắc khổ" sao!
Lấy quẻ này ví với việc người, ăn uống không tiết chế dẫn đến bệnh tật, lời nói không tiết chế để lại hổ xấu, tiêu dùng không tiết chế làm phá nhà, sắc dục không tiết chế làm hại thân, đều là cái hại của việc người vậy. Muốn uốn nắn những mối tệ ấy mà đến mức nhịn ăn, khóa miệng, tiếc tiền, cắt đứt ham muốn, tuy gọi là tiết chế, nhưng không chịu nổi nỗi khổ ấy, đó là tiết chế không được trung, mà ngược lại dẫn đến cùng cực, làm sao có thể heng thông? Việc người không heng thông, đều do sự mất cân bằng của cứng và mềm mà ra; quá cứng thì xa xỉ, quá mềm thì keo kiệt, đạo vì thế mà cùng cực. Quẻ này Khảm trên Đoái dưới, cứng mềm chia đều, lấy cái vui của Đoái tiết chế cái hiểm của Khảm, làm cho lòng người được niềm vui mà hành động quên đi sự hiểm trở, đúng vị trí mà định đoạt muôn việc, thì muôn việc đều heng thông. Trung và chính thì không lệch lạc; heng và thông thì không tắc nghẽn. Cho nên hỉ nộ ai lạc của con người chính là mưa sương sấm sét của trời; ăn ở nghỉ ngơi của con người chính là ngày đêm tối sáng của trời. Thân người có chế độ tự nhiên, trời đất cũng có vận hành tự nhiên, điều gọi là "trời đất có tiết chế mà bốn mùa hoàn thành" chính là thế này. Việc người rốt cuộc không nằm ngoài đạo trời vậy.
Lấy quẻ này ví với quốc gia, việc chính trị quốc gia muôn vàn chi tiết, tóm lại một câu chỉ ở chỗ tiết chế bằng chế độ mà thôi. Chế độ đạt được trung đạo thì sự tiết chế ấy có ngọt ngào mà không có cay đắng, có thể thông suốt mà cũng có thể giữ vững chính đạo. Cương nhu chia đều thì đạo không bị cùng tận; vui vẻ và hiểm trở nương tựa lẫn nhau thì vị trí đạt được sự thỏa đáng. Lấy điều này quản lý tài chính thì tài sản không tổn hại, lấy điều này sử dụng dân chúng thì dân chúng không bị tổn hại. Trong bốn biển rộng lớn, muôn dân đông đúc, thánh nhân dùng chế độ để tiết chế, khiến mọi người đều cảm nhận sự vui vẻ, mọi người đều quên đi hiểm trở, lại làm cho mọi người đều vui vẻ tuân theo tiết độ ấy, cái gọi là "đương vị để tiết chế, trung chính để thông suốt" chính là ở đạo này vậy. Tóm lại, thánh nhân vốn dùng sự vui vẻ để tiết chế sự hiểm trở, không lệch về cương, không lệch về nhu, chỉ phỏng theo sự tiết độ của trời đất làm chuẩn mực. Trời đất có tiết độ thì bốn mùa hình thành, thánh nhân có tiết độ thì muôn dân vui vẻ, đạo ấy là một. Mở rộng bàn về các hào, "đương vị" là chỉ Hào Cửu Ngũ, vì ở vị trí trung tâm nên gọi là "cam tiết" (tiết chế ngọt ngào). Đạo cùng tận là chỉ Hào Thượng Lục, chữ "khổ tiết" (tiết chế đắng cay) trong Thoán truyện chính do Hào Thượng Lục đảm nhận. Hào Lục Tứ đạt được chữ "heng" (thông suốt) của Thoán truyện, nên gọi là "an tiết" (tiết chế an lành). Hào Sơ Cửu "không ra khỏi" là cẩn trọng để tiết chế. Hào Cửu Nhị thất vị là mất trung đạo. Hào Lục Tam "than thở" là tai họa tự chuốc lấy. Tóm lại, đạt được trung đạo thì tốt lành, quá trung đạo thì hung tai; điều mà Thoán truyện gọi là "Tiết heng" trước hết nằm ở chỗ "cương nhu phân định mà cương đạt được trung đạo".
Quán thông quẻ này, tượng quẻ lấy dưới là Khảm, trên là Đoài, các hào chia đều cương nhu, đúng vị thì cát. Dương thực âm hư, thực thì tắc mà hư thì thông. "Tiết" là đốt tre vậy, chỗ thông của tre gọi là trống, chỗ tắc gọi là đốt. Nhược bằng lập liêm ngóc, phân ranh giới, đều là ý nghĩa của Tiết vậy. Cho nên người mà không có tiết, giống như thời gian mà không có thứ tự. Cái sự lạnh nóng tạnh mưa, dịch chuyển thay thế, nếu mất đi tiết độ, thì trời đất khép tắc, công việc cả năm không thành; người mà không có tiết độ, thì mê muội rối loạn, đi đứng đều cùng đường, đó là lỗi ở chỗ không biết tiết độ vậy. Không biết không tiết vốn dĩ hung, quá tiết cũng hung, muốn mong tiết ấy được trinh, cầu cho tiết ấy được hông, duy ở chỗ cương nhu đạt được trung vậy. Thể quẻ trong vui ngoài hiểm, cương nhu chia đều, Cửu Ngũ đúng vị, cương đạt được trung, vui để tiết chế hiểm, trung mà lại chính, thì đạo ấy không đâu là không thông vậy. Cho nên ở bậc thánh nhân, lấy chỗ hết sức trung bình làm "Tiết", cái tiết ấy không có lòng riêng; ở trời đất lấy sự tuần hoàn làm "Tiết", cái tiết ấy không có hình trạng; ở quẻ lấy Khảm và Đoài thành tựu lẫn nhau làm "Tiết", cái "Tiết" ấy có tượng vậy. Bậc thánh nhân ở dưới tiếp nối nước đất, cho nên lấy tượng ấy để tỏ cho người ta biết. Thoán Truyện nói "khổ", nói "cùng", là răn cái lỗi của nó; nói "hông", nói "thông", là làm rõ hiệu quả của nó; nói "đạt trung", nói "đúng vị", là tỏ ra quy tắc của nó; nói "không hại tài", nói "không hại dân", là khen ngợi đức tốt của nó. Quẻ này lại do quẻ Thái mà đến, cho nên ở quẻ Tiết cũng có thể thấy tượng trời đất giao thái vậy. Nước chảy gặp Khảm mà dừng, có ý nghĩa thông tắc, vì thế cả sáu hào đều lấy thông tắc để làm cát hung. Sơ biết tắc mà dừng tắc, nên "không ra", "không lỗi"; Hai đáng thông mà tắc, nên "mất thời" là hung; Ba không tắc mà "than thở", lỗi còn chối vào đâu? Tư tắc mà có thể "an", đạt được cái hông của Thoán Truyện; Ngũ là chủ cả quẻ, "trung chính để thông"; Sáu tắc mà không thông, ấy gọi là "khổ tiết". Đại để đạo Kinh Dịch răn sự đầy tràn, tiết chế để phòng đầy tràn, phòng quá mức, hoặc ngập ngừng mà hỏng việc, hoặc keo kiệt mà mất xứng đáng. Trái thời trời, ngược lòng người, đều khó tránh khỏi hung lỗi vậy. Đạo lấy cương trung làm cát, đây là lý do bậc thánh nhân coi trọng thời trung vậy.
"Đại Tượng" nói: Trên đầm có nước là quẻ Tiết. Quân tử lấy đó mà định ra số độ, bàn luận về đức hạnh.
"Đầm không có nước" gọi là quẻ Khốn, đầm có nước gọi là quẻ Tiết, có nước mà không tiết chế thì đầm cũng cạn khô, vì thế quân tử lấy tượng từ quẻ Tiết. "Số độ" là chỉ cân đo đong đếm và phép tắc; "đức hạnh" là chỉ chuyện đạo đức và tính mệnh. Đoái do Khôn biến thành, Khôn là nặng, là ít, tượng cho "số độ"; Khảm do Càn biến thành, Càn là đạo, là tính, tượng cho đức hạnh, Khảm là bằng phẳng, nghĩa là định đoạt được sự công bằng; Đoái là miệng, nghĩa là bàn luận xuất phát từ miệng, vì thế quân tử "định ra số độ, bàn luận về đức hạnh".
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình trung chính, nguồn tài chính phong phú, chỉ nên bên ngoài tiết chế thu chi, bên trong tiết chế thân tâm. Cát.
○ Dự đoán quân sự: Quân đội có kỷ luật tiết chế, trèo cao qua hiểm, có thể giữ mà cũng có thể đánh.
○ Dự đoán thương mại: Đầm có nước, là tượng giàu có. Pháp chế đã tinh vi, bàn luận cũng xác đáng, không gì là không thu được lợi nhuận.
○ Dự đoán công danh: Phẩm hạnh đoan chính, quy luật chi tiết rõ ràng, có tượng cá rồng gặp nước.
○ Dự đoán hôn nhân: Nam quẻ Khảm nữ quẻ Đoái, nước và đầm hợp thành, cát.
○ Dự đoán nhà ở: Nhà gần đầm lớn, gia đạo giàu có, cát.
○ Dự đoán bệnh tật: Bệnh nên tiết chế ăn uống, cẩn trọng hành động.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
Sơ Cửu: Không ra khỏi sân trong nhà, không lỗi.
Sơ Cửu: Không ra khỏi sân trong nhà, không lỗi.
"Tượng truyện" nói: Không ra khỏi sân trong nhà, là biết sự thông và tắc vậy.
Hào sơ lấy dương ở vị dương, là đầu quẻ Tiết. Dương là thực, âm là hư, hào sơ gặp dương cứng, một nét ngang lấp miệng quẻ Đoái, nên làm "không ra". Quẻ hỗ trên là Cấn, Cấn là cửa sổ, là nhà ở, có tượng "sân trong nhà"; Cấn lại là dừng, có tượng không ra, nên nói "không ra khỏi sân trong nhà". Quẻ nối tiếp sau quẻ Hoán, sơ sáu ly tán vừa mới tụ lại, chính nên đóng lấp chứ không nên thông mở, dù gần như sân trong nhà cũng không dám ra, thì mỗi bước đi đều là tiết chế, nên được "không lỗi". Hào sơ động thể biến thành Khảm, nước Khảm là trí, có trí thì có thể xét thời đo thế, có thể thông có thể tắc, có thể ra có thể vào, đều có tiết chế, nên "Tượng truyện" lấy "biết thông tắc" để giải thích.
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình chưa hưng thịnh, nên cẩn trọng giữ gìn nhà cửa, mới có thể tránh khỏi lỗi.
○ Dự đoán thương mại: Nên làm thương nhân ngồi một chỗ, không nên làm thương nhân đi xa, không lỗi.
○ Dự đoán công danh: Hiện tại nên đóng cửa giữ mình yên tĩnh, đến hào tư có thể thành danh.
○ Dự đoán quân sự: Hào sơ gặp lúc sau sự ly tán, quân dân mới tụ lại, nên nuôi dưỡng nhuệ khí, không nên ra trận đánh nhau.
○ Dự đoán hôn nhân: Hào sơ tương ứng với hào tư, hào tư được đạo vâng thuận, tức là cái chính của đạo làm vợ, nên không lỗi.
○ Dự đoán bệnh tật: Nên ở yên dưỡng bệnh, không hại.
○ Dự đoán mất đồ: Còn ở trong sân nhà, có thể tìm thấy.
○ Dự đoán người đi xa: Chưa khởi hành.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
[Ví dụ] Một người bạn đến nhờ xem quẻ nhà ở, bói được quẻ Tiết biến thành quẻ Khảm.
Đoán rằng: Tượng quẻ là Đoái tây Khảm bắc, tượng hào là cửa ngoài sân trong. Hào sơ ở dưới Đoái, một nét dương cứng, như sân nhà có chìa khóa để tiết chế việc ra vào, nên nói "không ra khỏi sân trong nhà"; ở ẩn tránh họa nên nói "không lỗi". Nay ông xem nhà ở mà được hào sơ quẻ Tiết, nhà này e là lần đầu chuyển đến, mọi việc nhà đang chờ sắp xếp, muốn giữ sự đầy đủ bình an thì nên giữ phong thái tiết kiệm, đóng cửa từ chối công việc, mới có thể không lỗi.
"Tượng truyện" nói: Không ra khỏi sân trong nhà, là biết sự thông và tắc vậy.
Hào sơ lấy dương ở vị dương, là đầu quẻ Tiết. Dương là thực, âm là hư, hào sơ gặp dương cứng, một nét ngang lấp miệng quẻ Đoái, nên làm "không ra". Quẻ hỗ trên là Cấn, Cấn là cửa sổ, là nhà ở, có tượng "sân trong nhà"; Cấn lại là dừng, có tượng không ra, nên nói "không ra khỏi sân trong nhà". Quẻ nối tiếp sau quẻ Hoán, sơ sáu ly tán vừa mới tụ lại, chính nên đóng lấp chứ không nên thông mở, dù gần như sân trong nhà cũng không dám ra, thì mỗi bước đi đều là tiết chế, nên được "không lỗi". Hào sơ động thể biến thành Khảm, nước Khảm là trí, có trí thì có thể xét thời đo thế, có thể thông có thể tắc, có thể ra có thể vào, đều có tiết chế, nên "Tượng truyện" lấy "biết thông tắc" để giải thích.
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình chưa hưng thịnh, nên cẩn trọng giữ gìn nhà cửa, mới có thể tránh khỏi lỗi.
○ Dự đoán thương mại: Nên làm thương nhân ngồi một chỗ, không nên làm thương nhân đi xa, không lỗi.
○ Dự đoán công danh: Hiện tại nên đóng cửa giữ mình yên tĩnh, đến hào tư có thể thành danh.
○ Dự đoán quân sự: Hào sơ gặp lúc sau sự ly tán, quân dân mới tụ lại, nên nuôi dưỡng nhuệ khí, không nên ra trận đánh nhau.
○ Dự đoán hôn nhân: Hào sơ tương ứng với hào tư, hào tư được đạo vâng thuận, tức là cái chính của đạo làm vợ, nên không lỗi.
○ Dự đoán bệnh tật: Nên ở yên dưỡng bệnh, không hại.
○ Dự đoán mất đồ: Còn ở trong sân nhà, có thể tìm thấy.
○ Dự đoán người đi xa: Chưa khởi hành.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
[Ví dụ] Một người bạn đến nhờ xem quẻ nhà ở, bói được quẻ Tiết biến thành quẻ Khảm.
Đoán rằng: Tượng quẻ là Đoái tây Khảm bắc, tượng hào là cửa ngoài sân trong. Hào sơ ở dưới Đoái, một nét dương cứng, như sân nhà có chìa khóa để tiết chế việc ra vào, nên nói "không ra khỏi sân trong nhà"; ở ẩn tránh họa nên nói "không lỗi". Nay ông xem nhà ở mà được hào sơ quẻ Tiết, nhà này e là lần đầu chuyển đến, mọi việc nhà đang chờ sắp xếp, muốn giữ sự đầy đủ bình an thì nên giữ phong thái tiết kiệm, đóng cửa từ chối công việc, mới có thể không lỗi.
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa sân, hung.
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa sân, hung.
"Tượng truyện" nói: Không ra khỏi cửa sân, hung, là vì mất thời gian đến cực điểm vậy.
Cửa trong ở trong, cửa ngoài ở ngoài, hào sơ là cửa trong, hào hai là cửa ngoài, từ trong ra ngoài vậy. Hào sơ là trong, nước Khảm mới đến, lấp lại để phòng rò rỉ; hào hai thì dần ra ngoài, nước đã đầy đủ, nên khai thông nó, mà vẫn nói "không ra khỏi cửa sân", đó là biết lấp mà không biết thông. Hào hai có tài cứng trung, chính đáng thừa thời ứng biến, ra gánh vác công việc, làm cho thiên hạ được cái dụng của tiết chế. Quẻ từ sơ đến ba hỗ quẻ Chấn, tư đến sáu hỗ quẻ Cấn, lại không làm cái hành động của Chấn, mà cố giữ sự dừng lại của Cấn, đóng cửa dứt vết chân, ngồi nhìn mất thời cơ, cho nên hung vậy. Vì thế "Tượng truyện" lấy việc mất thời đến cực điểm để quở trách.
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình đang thịnh, cơ hội thời thế cũng tốt, lỗi ở chỗ chần chừ tự làm hỏng việc, thật đáng tiếc.
○ Dự đoán quân sự: Thời cơ có thể tiến thủ, lại sợ đầu sợ đuôi, cố giữ không ra, ngược lại dẫn đến hung.
○ Dự đoán thương mại: Hàng hóa đầy đủ, giá cả hợp thời, vốn có thể thu lợi, lại vì chấp nệ mất thời cơ, ngược lại dẫn đến tổn thất. Đoái là hủy hoại, đó là mất tượng vậy.
○ Dự đoán công danh: Cơ hội thời thế chưa gặp, khó mong thành danh.
○ Dự đoán hôn nhân: Mất thời kỳ hoa đào nở, khó tránh khỏi nỗi oán hận cô đơn, hung.
○ Dự đoán nhà ở: Cửa ngõ khóa chặt, có tượng không người, hung.
○ Dự đoán bệnh tật: Bệnh do đi lại khó khăn, suýt thành chứng tê liệt.
○ Dự đoán mất đồ: Là người trong nhà trộm.
○ Dự đoán kiện tụng: E có họa giam giữ tù tù.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
[Ví dụ] Có một viên cảnh sát đến nói: "Bạn tôi là một cựu thần gia phái, thời Duy Tân đã tận trung hy sinh, hậu duệ sa sút không ai nương tựa. Tôi vì nhớ tình cũ, dốc lực giúp đỡ, gọi ba người con cháu họ đến kinh đô đi học mười mấy năm, vì thế tốn kém tích lũy đến sáu bảy nghìn lượng vàng. Tuy nhiên vẫn nghĩ tiền điền sản ở quê nhà có giá vạn lượng vàng có thể đền bù. Đâu ngờ lãi suất tăng gấp đôi, đến nay đã lên tới mười ba nghìn lượng vàng, mà toàn bộ gia sản lại vì giá cả sụt giảm mà bớt đi hơn nửa, muốn trả thì không có số tiền ấy, không trả thì nợ nần không sạch, tiến thoái lưỡng nan, không biết làm sao, rốt cuộc lo âu thành bệnh, không thể làm việc. May nhờ ngài chỉ giáo cho." Tôi bèn giúp gieo một quẻ, bói được quẻ Tiết biến thành quẻ Truân.
Đoán rằng: Cửu Nhị ở giữa quẻ Đoài, Thoán truyện nói 'vui vẻ mà đi qua tai hiểm', hào Nhị thật đúng với điều đó. Hào Nhị nói 'không ra khỏi sân nhà', ấy là an phận trong tai hiểm mà không thể vượt qua tai hiểm, vì không ra nên mới xấu. Ngài dự đoán về việc xử lý nợ nần, được hào Hai của quẻ Tiết. Lời hào nói 'Không ra khỏi sân nhà, xấu', thì biết không ra là xấu, ra ngoài thì có thể tránh được tai họa. Tuy nhiên, chữ 'ra' có hai nghĩa: một là ra ngoài để né tránh, hai là đem hết tài sản ra để bồi hoàn, đều gọi là 'ra'. Trong việc này nhất định phải có sự tiết chế. Tôi dựa vào ý của lời hào mà tính toán nợ nần cho ngài. Tổng số nợ là 13.000 lượng vàng, bán tháo điền sản ở quê nhà được khoảng 3.000 lượng vàng để đền bù cho chủ nợ; lại lấy 120 lượng còn thừa từ khoản lương tháng 200 lượng (sau khi trừ 80 lượng chi tiêu gia đình) để hoàn trả theo từng tháng, tổng cộng một năm trả được 1.440 lượng. Đây là tiết kiệm phần thừa bù vào chỗ thiếu, chưa đầy mười năm là có thể trả sạch. Lời hào nói 'Không ra khỏi sân nhà, xấu', như lời răn dạy rõ ràng cho ngài. Ngài chớ nên chần chừ sợ hãi mà ngồi mất thời cơ, phải mau chóng ra gặp chủ nợ thương lượng, trước tiên dùng tiền bán tài sản trả bớt, sau đó dùng tiền lương hằng tháng trả dần, xin họ miễn lãi và gia hạn thời gian. Nếu chủ nợ không chịu thì nợ này khó mà trả nổi, nhưng nếu chủ nợ đồng ý thì ngài không đến mức phá sản, chủ nợ cuối cùng cũng thu lại được tiền, họ hà cớ gì mà không đồng ý? Quẻ Đoài là miệng, là bạn bè, có tượng bàn bạc với bằng hữu; hào quẻ Đoài nói 'Bàn bạc vui vẻ, chưa yên, giữ vững nguyên tắc khống chế bệnh tật thì có hỷ sự', chính là thời sự hôm nayของ ngài. Ngài hãy mau chóng ra ngoài mưu tính, đừng bỏ lỡ thời cơ này.
Người nọ nghe xong trong lòng mừng rỡ, nói: Đây là diệu kế hay nhất! Mấy ngày sau tin báo tới nói rằng, đã làm theo lời đoán này, ra ngoài giải quyết xong mọi việc.
"Tượng truyện" nói: Không ra khỏi cửa sân, hung, là vì mất thời gian đến cực điểm vậy.
Cửa trong ở trong, cửa ngoài ở ngoài, hào sơ là cửa trong, hào hai là cửa ngoài, từ trong ra ngoài vậy. Hào sơ là trong, nước Khảm mới đến, lấp lại để phòng rò rỉ; hào hai thì dần ra ngoài, nước đã đầy đủ, nên khai thông nó, mà vẫn nói "không ra khỏi cửa sân", đó là biết lấp mà không biết thông. Hào hai có tài cứng trung, chính đáng thừa thời ứng biến, ra gánh vác công việc, làm cho thiên hạ được cái dụng của tiết chế. Quẻ từ sơ đến ba hỗ quẻ Chấn, tư đến sáu hỗ quẻ Cấn, lại không làm cái hành động của Chấn, mà cố giữ sự dừng lại của Cấn, đóng cửa dứt vết chân, ngồi nhìn mất thời cơ, cho nên hung vậy. Vì thế "Tượng truyện" lấy việc mất thời đến cực điểm để quở trách.
【Dự đoán】
○ Dự đoán vận thế: Vận trình đang thịnh, cơ hội thời thế cũng tốt, lỗi ở chỗ chần chừ tự làm hỏng việc, thật đáng tiếc.
○ Dự đoán quân sự: Thời cơ có thể tiến thủ, lại sợ đầu sợ đuôi, cố giữ không ra, ngược lại dẫn đến hung.
○ Dự đoán thương mại: Hàng hóa đầy đủ, giá cả hợp thời, vốn có thể thu lợi, lại vì chấp nệ mất thời cơ, ngược lại dẫn đến tổn thất. Đoái là hủy hoại, đó là mất tượng vậy.
○ Dự đoán công danh: Cơ hội thời thế chưa gặp, khó mong thành danh.
○ Dự đoán hôn nhân: Mất thời kỳ hoa đào nở, khó tránh khỏi nỗi oán hận cô đơn, hung.
○ Dự đoán nhà ở: Cửa ngõ khóa chặt, có tượng không người, hung.
○ Dự đoán bệnh tật: Bệnh do đi lại khó khăn, suýt thành chứng tê liệt.
○ Dự đoán mất đồ: Là người trong nhà trộm.
○ Dự đoán kiện tụng: E có họa giam giữ tù tù.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
[Ví dụ] Có một viên cảnh sát đến nói: "Bạn tôi là một cựu thần gia phái, thời Duy Tân đã tận trung hy sinh, hậu duệ sa sút không ai nương tựa. Tôi vì nhớ tình cũ, dốc lực giúp đỡ, gọi ba người con cháu họ đến kinh đô đi học mười mấy năm, vì thế tốn kém tích lũy đến sáu bảy nghìn lượng vàng. Tuy nhiên vẫn nghĩ tiền điền sản ở quê nhà có giá vạn lượng vàng có thể đền bù. Đâu ngờ lãi suất tăng gấp đôi, đến nay đã lên tới mười ba nghìn lượng vàng, mà toàn bộ gia sản lại vì giá cả sụt giảm mà bớt đi hơn nửa, muốn trả thì không có số tiền ấy, không trả thì nợ nần không sạch, tiến thoái lưỡng nan, không biết làm sao, rốt cuộc lo âu thành bệnh, không thể làm việc. May nhờ ngài chỉ giáo cho." Tôi bèn giúp gieo một quẻ, bói được quẻ Tiết biến thành quẻ Truân.
Đoán rằng: Cửu Nhị ở giữa quẻ Đoài, Thoán truyện nói 'vui vẻ mà đi qua tai hiểm', hào Nhị thật đúng với điều đó. Hào Nhị nói 'không ra khỏi sân nhà', ấy là an phận trong tai hiểm mà không thể vượt qua tai hiểm, vì không ra nên mới xấu. Ngài dự đoán về việc xử lý nợ nần, được hào Hai của quẻ Tiết. Lời hào nói 'Không ra khỏi sân nhà, xấu', thì biết không ra là xấu, ra ngoài thì có thể tránh được tai họa. Tuy nhiên, chữ 'ra' có hai nghĩa: một là ra ngoài để né tránh, hai là đem hết tài sản ra để bồi hoàn, đều gọi là 'ra'. Trong việc này nhất định phải có sự tiết chế. Tôi dựa vào ý của lời hào mà tính toán nợ nần cho ngài. Tổng số nợ là 13.000 lượng vàng, bán tháo điền sản ở quê nhà được khoảng 3.000 lượng vàng để đền bù cho chủ nợ; lại lấy 120 lượng còn thừa từ khoản lương tháng 200 lượng (sau khi trừ 80 lượng chi tiêu gia đình) để hoàn trả theo từng tháng, tổng cộng một năm trả được 1.440 lượng. Đây là tiết kiệm phần thừa bù vào chỗ thiếu, chưa đầy mười năm là có thể trả sạch. Lời hào nói 'Không ra khỏi sân nhà, xấu', như lời răn dạy rõ ràng cho ngài. Ngài chớ nên chần chừ sợ hãi mà ngồi mất thời cơ, phải mau chóng ra gặp chủ nợ thương lượng, trước tiên dùng tiền bán tài sản trả bớt, sau đó dùng tiền lương hằng tháng trả dần, xin họ miễn lãi và gia hạn thời gian. Nếu chủ nợ không chịu thì nợ này khó mà trả nổi, nhưng nếu chủ nợ đồng ý thì ngài không đến mức phá sản, chủ nợ cuối cùng cũng thu lại được tiền, họ hà cớ gì mà không đồng ý? Quẻ Đoài là miệng, là bạn bè, có tượng bàn bạc với bằng hữu; hào quẻ Đoài nói 'Bàn bạc vui vẻ, chưa yên, giữ vững nguyên tắc khống chế bệnh tật thì có hỷ sự', chính là thời sự hôm nayของ ngài. Ngài hãy mau chóng ra ngoài mưu tính, đừng bỏ lỡ thời cơ này.
Người nọ nghe xong trong lòng mừng rỡ, nói: Đây là diệu kế hay nhất! Mấy ngày sau tin báo tới nói rằng, đã làm theo lời đoán này, ra ngoài giải quyết xong mọi việc.
Lục Tam: Không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối, không có lỗi.
Lục Tam: Không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối, không có lỗi.
Tượng truyện nói: Tiếng thở dài vì không tiết chế, còn biết trách ai nữa.
Hào Ba ở trên quẻ Đoài, nét trên cùng mở ra, là đầm nước bị rò rỉ, tượng của sự không biết tiết chế. Đầm Đoài đến hào Ba, nước Khảm đã đầy, một thời cứ xách múc tùy ý mà không biết tiết kiệm, đến sau không nối tiếp được nữa, không khỏi than thở hối hận, nên nói 'không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối'. Đó là vui cực sinh buồn, tai họa do mình tự chuốc lấy, không trách được ai, nên nói 'không có lỗi'. Tượng truyện nói 'còn biết trách ai nữa', nghĩa là đáng tiết chế mà không tiết chế, 'không tiết' tại mình, 'thở dài' cũng tại mình, còn trách ai được nữa?
【Dự đoán】
○ Vận thế: Trẻ trung không tự kiềm chế, già cả chỉ biết than van, còn trách ai được?
○ Chinh chiến: Đến lâm sự không lo mưu tính, hối hận không kịp.
○ Kinh doanh: Khi thu lợi thì kiêu xa vô độ, một khi tổn thất liền dẫn đến than van, lỗi do tự mình chuốc lấy mà thôi.
○ Hôn nhân: Có tượng trước vui sau buồn.
○ Công danh: Vừa có được đã lại mất đi.
○ Nhà cửa: Hào Ba lấy âm ở vị trí dương, vị trí không hợp quy cách. Tất dẫn đến trước giàu sau nghèo.
○ Bệnh tật: Bệnh do ăn uống không tiết chế gây ra, may mắn không có tai họa lớn.
○ Mất đồ: Đành thở dài một tiếng, không cần trách người.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】 Tháng 11 năm Minh Trị thứ ZXKEEP20XZ, cựu Lãnh chúa phiên Ogaki là Bá tước Toda Ujitomo được bổ nhiệm làm Toàn quyền Công sứ tại Áo, cùng gia quyến sang đảm nhận chức vụ, trước khi rời Yokohama đã ghé thăm nhà tôi. Lúc đó người tiễn đưa không dưới vài chục người, Bá tước nói: Xin hãy đoán giúp sự bình an trên biển. Bói được quẻ Tiết chuyển sang Nhu.
Đoán rằng: Hào Ba nằm ở giao điểm giữa ngoại quẻ và nội quẻ, rất hợp với điềm ngài ra ngoài đi xa; Khảm là nước, Đoài là đầm, có tượng biển lớn. Hào Ba động thể biến thành Nhu, Thoán truyện quẻ Nhu nói 'hiểm nguy ở phía trước', biết chuyến đi này cần phòng ngừa hiểm nguy. Quẻ đảo lại là Hoán, tượng quẻ Hoán là 'gió đi trên nước', biết chắc sẽ có gió lớn; Đoài là chính Tây, Khảm là chính Bắc, biết gió tất từ Tây sang Bắc. Lời hào nói 'không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối', nghĩa là không giữ đúng tiết độ mà đi thì tất dẫn đến than van. Nay ngài đi sứ mang trọng trách hoàng gia, cờ tiết kiếm lệnh tại thân, nhất định khiến thần biển tuân phục, bách thần che chở, dù gặp sóng gió hiểm nguy cũng nhất định không có lỗi. Lời Thoán quẻ Nhu lại nói 'lợi cho việc qua sông lớn, đi thì có công', đó là điều đáng chúc mừng ngài vậy.
Lúc đó những người tiễn đưa như cựu thần gia tộc Ida Gorazo, Thống đốc tỉnh Aomori Hishida Bunzo, Thẩm phán Tòa án Tối cao Torii Danzo, Giáo chính Thần đạo Otori Setsuso đều có mặt tại tòa. Sau khi chăm chú lắng nghe, có người nói rằng dựa theo lời phán này, sóng gió trên biển như hiện ra trước mắt, việc tương lai đều biết trước, nghi ngờ tôi đoán mò chưa chắc đã đáng tin. Riêng ông Otori Setsuso nói: Quẻ Dịch của ông Takashima vốn nổi tiếng là xuất thần nhập hóa, nhiều người không thể hiểu nổi. Tôi nói: Tôi chỉ dựa vào hào mà đoán, ứng nghiệm hay không không phải do tôi biết, nhưng những gì tôi từng đoán từ trước đến nay chưa từng có sai sót, hầu như phản ứng như tiếng vang đáp lại lời gọi. Các vị khách gật đầu đồng ý, không nói thêm gì nữa. Bốn năm sau, Bá tước Toda trở về triều, kể lại với tôi rằng những khó khăn trên biển lúc đó hoàn toàn đúng như quẻ Dịch đã đoán.
Tượng truyện nói: Tiếng thở dài vì không tiết chế, còn biết trách ai nữa.
Hào Ba ở trên quẻ Đoài, nét trên cùng mở ra, là đầm nước bị rò rỉ, tượng của sự không biết tiết chế. Đầm Đoài đến hào Ba, nước Khảm đã đầy, một thời cứ xách múc tùy ý mà không biết tiết kiệm, đến sau không nối tiếp được nữa, không khỏi than thở hối hận, nên nói 'không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối'. Đó là vui cực sinh buồn, tai họa do mình tự chuốc lấy, không trách được ai, nên nói 'không có lỗi'. Tượng truyện nói 'còn biết trách ai nữa', nghĩa là đáng tiết chế mà không tiết chế, 'không tiết' tại mình, 'thở dài' cũng tại mình, còn trách ai được nữa?
【Dự đoán】
○ Vận thế: Trẻ trung không tự kiềm chế, già cả chỉ biết than van, còn trách ai được?
○ Chinh chiến: Đến lâm sự không lo mưu tính, hối hận không kịp.
○ Kinh doanh: Khi thu lợi thì kiêu xa vô độ, một khi tổn thất liền dẫn đến than van, lỗi do tự mình chuốc lấy mà thôi.
○ Hôn nhân: Có tượng trước vui sau buồn.
○ Công danh: Vừa có được đã lại mất đi.
○ Nhà cửa: Hào Ba lấy âm ở vị trí dương, vị trí không hợp quy cách. Tất dẫn đến trước giàu sau nghèo.
○ Bệnh tật: Bệnh do ăn uống không tiết chế gây ra, may mắn không có tai họa lớn.
○ Mất đồ: Đành thở dài một tiếng, không cần trách người.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】 Tháng 11 năm Minh Trị thứ ZXKEEP20XZ, cựu Lãnh chúa phiên Ogaki là Bá tước Toda Ujitomo được bổ nhiệm làm Toàn quyền Công sứ tại Áo, cùng gia quyến sang đảm nhận chức vụ, trước khi rời Yokohama đã ghé thăm nhà tôi. Lúc đó người tiễn đưa không dưới vài chục người, Bá tước nói: Xin hãy đoán giúp sự bình an trên biển. Bói được quẻ Tiết chuyển sang Nhu.
Đoán rằng: Hào Ba nằm ở giao điểm giữa ngoại quẻ và nội quẻ, rất hợp với điềm ngài ra ngoài đi xa; Khảm là nước, Đoài là đầm, có tượng biển lớn. Hào Ba động thể biến thành Nhu, Thoán truyện quẻ Nhu nói 'hiểm nguy ở phía trước', biết chuyến đi này cần phòng ngừa hiểm nguy. Quẻ đảo lại là Hoán, tượng quẻ Hoán là 'gió đi trên nước', biết chắc sẽ có gió lớn; Đoài là chính Tây, Khảm là chính Bắc, biết gió tất từ Tây sang Bắc. Lời hào nói 'không biết tiết chế thì thở dài tiếc nuối', nghĩa là không giữ đúng tiết độ mà đi thì tất dẫn đến than van. Nay ngài đi sứ mang trọng trách hoàng gia, cờ tiết kiếm lệnh tại thân, nhất định khiến thần biển tuân phục, bách thần che chở, dù gặp sóng gió hiểm nguy cũng nhất định không có lỗi. Lời Thoán quẻ Nhu lại nói 'lợi cho việc qua sông lớn, đi thì có công', đó là điều đáng chúc mừng ngài vậy.
Lúc đó những người tiễn đưa như cựu thần gia tộc Ida Gorazo, Thống đốc tỉnh Aomori Hishida Bunzo, Thẩm phán Tòa án Tối cao Torii Danzo, Giáo chính Thần đạo Otori Setsuso đều có mặt tại tòa. Sau khi chăm chú lắng nghe, có người nói rằng dựa theo lời phán này, sóng gió trên biển như hiện ra trước mắt, việc tương lai đều biết trước, nghi ngờ tôi đoán mò chưa chắc đã đáng tin. Riêng ông Otori Setsuso nói: Quẻ Dịch của ông Takashima vốn nổi tiếng là xuất thần nhập hóa, nhiều người không thể hiểu nổi. Tôi nói: Tôi chỉ dựa vào hào mà đoán, ứng nghiệm hay không không phải do tôi biết, nhưng những gì tôi từng đoán từ trước đến nay chưa từng có sai sót, hầu như phản ứng như tiếng vang đáp lại lời gọi. Các vị khách gật đầu đồng ý, không nói thêm gì nữa. Bốn năm sau, Bá tước Toda trở về triều, kể lại với tôi rằng những khó khăn trên biển lúc đó hoàn toàn đúng như quẻ Dịch đã đoán.
Lục Tứ: An tiết, hanh.
Lục Tứ: An tiết, hanh.
Tượng truyện nói: An tiết hanh thông, là vâng theo đạo của cấp trên.
Hào Tứ vốn là thể Khôn, Khôn là an, nên gọi là 'an'; ở đầu quẻ Khảm, Khảm là hiểm, lấy Đoài để tiết chế nó, mới biến nguy thành an, nên gọi là 'an tiết'. 'An tiết' nghĩa là thong thả mà làm, không mất tiết độ, thì đi đâu mà chẳng thông suốt? Nên nói 'An tiết, hanh'. Hào Tứ đắc vị vâng theo hào Năm, hào Năm 'trung chính để thông suốt', hào Tứ thông trước, vì thế sự hanh thông của Thoán truyện chỉ thuộc về hào Tứ; hào Tứ nhờ vâng theo hào Năm mà được hanh thông, thì thiên hạ không đâu là không hanh thông. Tượng truyện nói 'vâng theo đạo của cấp trên', cấp trên chỉ hào Năm, đạo tức là đạo Tiết, nghĩa là hào Năm dùng phong thái tiết chế tỏ ra cho thiên hạ, hào Tứ gần kề hào Năm, có thể đầu tiên vâng nhận đạo ấy.
【Dự đoán】
○ Vận thế: Nhất lộ bình an, suốt đường thuận lợi.
○ Chinh chiến: Người giỏi đánh trận trước tiên phải làm an lòng quân; lòng quân đã an thì gặp nguy không sợ, đi đến đâu cũng lập công.
○ Kinh doanh: Hào Tứ ở đầu ngoại quẻ, tất là lần đầu mang hàng ra ngoài buôn bán, nếu biết tiết kiệm mọi việc thì mới an cư ở xứ người, mà việc mưu tính cũng được hanh thông.
○ Công danh: Biết vâng theo ý cấp trên, tất đạt được danh tiếng.
○ Hôn nhân: Hào Tứ lấy âm ở vị trí âm, đắc vị vâng theo hào dương, tự nhiên gia đình được an toàn.
○ Nhà cửa: Bình an nhận được điều lành.
○ Bệnh tật: Bệnh từ miệng vào, nếu biết tiết chế ăn uống thì tự nhiên được an thái.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một quan chức đến nhờ đoán về việc thăng quan tiến chức, bói được quẻ Tiết chuyển sang Đoài.
Đoán rằng: Lục Tứ là trùng âm, tượng hào yên tĩnh, việc gì cũng đúng tiết độ, cho nên mới hanh thông. Tượng truyện nói 'vâng theo đạo của cấp trên', cấp trên chỉ hào Năm, hào Tứ kề cận hào Năm, có thể vâng theo ý trên mà thực hiện tiết chế. Nay ngài đoán về việc thăng quan tiến chức, được hào Bốn quẻ Tiết, hào Bốn tương ứng với hào Một, hào Một 'biết khi nào thông khi nào tắc', nên hào Bốn có thể an phận thủ thường, không mất tiết độ. Chỉ vâng theo ý chỉ của cấp trên mà làm, cho nên phát ra đều đúng tiết độ, không đâu là không hanh thông, thăng chức là chắc chắn. Hào Bốn và hào Năm cách nhau một hào, việc thăng chức sẽ vào năm sau.
Tượng truyện nói: An tiết hanh thông, là vâng theo đạo của cấp trên.
Hào Tứ vốn là thể Khôn, Khôn là an, nên gọi là 'an'; ở đầu quẻ Khảm, Khảm là hiểm, lấy Đoài để tiết chế nó, mới biến nguy thành an, nên gọi là 'an tiết'. 'An tiết' nghĩa là thong thả mà làm, không mất tiết độ, thì đi đâu mà chẳng thông suốt? Nên nói 'An tiết, hanh'. Hào Tứ đắc vị vâng theo hào Năm, hào Năm 'trung chính để thông suốt', hào Tứ thông trước, vì thế sự hanh thông của Thoán truyện chỉ thuộc về hào Tứ; hào Tứ nhờ vâng theo hào Năm mà được hanh thông, thì thiên hạ không đâu là không hanh thông. Tượng truyện nói 'vâng theo đạo của cấp trên', cấp trên chỉ hào Năm, đạo tức là đạo Tiết, nghĩa là hào Năm dùng phong thái tiết chế tỏ ra cho thiên hạ, hào Tứ gần kề hào Năm, có thể đầu tiên vâng nhận đạo ấy.
【Dự đoán】
○ Vận thế: Nhất lộ bình an, suốt đường thuận lợi.
○ Chinh chiến: Người giỏi đánh trận trước tiên phải làm an lòng quân; lòng quân đã an thì gặp nguy không sợ, đi đến đâu cũng lập công.
○ Kinh doanh: Hào Tứ ở đầu ngoại quẻ, tất là lần đầu mang hàng ra ngoài buôn bán, nếu biết tiết kiệm mọi việc thì mới an cư ở xứ người, mà việc mưu tính cũng được hanh thông.
○ Công danh: Biết vâng theo ý cấp trên, tất đạt được danh tiếng.
○ Hôn nhân: Hào Tứ lấy âm ở vị trí âm, đắc vị vâng theo hào dương, tự nhiên gia đình được an toàn.
○ Nhà cửa: Bình an nhận được điều lành.
○ Bệnh tật: Bệnh từ miệng vào, nếu biết tiết chế ăn uống thì tự nhiên được an thái.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một quan chức đến nhờ đoán về việc thăng quan tiến chức, bói được quẻ Tiết chuyển sang Đoài.
Đoán rằng: Lục Tứ là trùng âm, tượng hào yên tĩnh, việc gì cũng đúng tiết độ, cho nên mới hanh thông. Tượng truyện nói 'vâng theo đạo của cấp trên', cấp trên chỉ hào Năm, hào Tứ kề cận hào Năm, có thể vâng theo ý trên mà thực hiện tiết chế. Nay ngài đoán về việc thăng quan tiến chức, được hào Bốn quẻ Tiết, hào Bốn tương ứng với hào Một, hào Một 'biết khi nào thông khi nào tắc', nên hào Bốn có thể an phận thủ thường, không mất tiết độ. Chỉ vâng theo ý chỉ của cấp trên mà làm, cho nên phát ra đều đúng tiết độ, không đâu là không hanh thông, thăng chức là chắc chắn. Hào Bốn và hào Năm cách nhau một hào, việc thăng chức sẽ vào năm sau.
Cửu Ngũ: Cam tiết, cát, vãng hữu thượng.
Cửu Ngũ: Cam tiết, cát, vãng hữu thượng.
Tượng truyện nói: Cam tiết cát, vì ở vị trí trung vậy.
Hào Năm ở vị trí tôn quý, là chủ của quẻ Tiết, điều Thoán truyện gọi là 'đúng vị trí để tiết chế, trung chính để thông suốt', chỉ có hào Năm đảm nhận. Thoán răn trước rằng 'tiết chế đắng cay, không thể giữ vững', đổi đắng thành ngọt, đạo ấy tất giữ vững được chính đạo, chính đạo thì cát tường, nên nói 'Cam tiết, cát'. Hào Tứ ở giữa quẻ Khảm, Thoán truyện quẻ Khảm nói 'đi thì được tôn vinh', câu 'vãng hữu thượng' ở hào Năm quẻ Tiết chính là từ Thoán truyện quẻ Khảm mà ra. 'Vãng' tức là 'hành', nói rằng có thể thực hành điều đó mà tiến lên, quả thật đáng tán thưởng. Xét ngũ vị thì lấy vị ngọt làm thu được sự trung hòa, còn mặn, đắng, chua, cay đều là lệch lạc. Tiết chế sự lệch lạc của hương vị mà đạt tới sự vừa vặn trung hòa, gọi là 'cam tiết'. Ngọt ngào thì ai ai cũng vui vẻ noi theo, không lấy làm gian nan cực khổ, đó là lý do vì sao 'cam tiết' mang lại cát tường. Tượng truyện lấy câu 'vị trung' để giải thích, sách Lễ Ký - Nguyệt Lệnh viết: 'Thổ ở trung ương, vị nó ngọt', vị ngọt ở vị trí trung tâm, hào Năm là vua, vị vua cũng ở trung tâm, ý giải thích của Tượng truyện lấy từ đây.
【Dự đoán】
○ Vận thế: Vận như nhai mía, càng về già càng ngọt ngào.
○ Kinh doanh: Trồng trọt làm ra vị ngọt, nên buôn bán vận chuyển lương thực gạo mì là cát tường. 'Vãng hữu thượng', vãng là ra bên ngoài, càng nên buôn gạo xuất khẩu ra nước ngoài, nhất định thu lợi.
○ Công danh: Khổ tận cam lai, công danh nhất định rạng rỡ.
○ Nhà cửa: Hào Năm đắc vị, trung ương là vị ngọt, biết rằng nhà này vị trí trung chính, gia phong chính trực, tiết kiệm đáng được khen ngợi.
○ Hôn nhân: Con gái đi lấy chồng gọi là 'vãng', 'vãng hữu thượng' nghĩa là đi để thành lễ. 'Cam' nghĩa là vui lòng đi theo nhau, có tượng trăm năm hạnh phúc, cát tường.
○ Bệnh tật: Bệnh ở trung cung, ngọt thì trướng bụng đầy hơi, nên tiết chế ăn uống làm điều cốt yếu.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một thương nhân đến nhờ đoán về việc lời lỗ trong kinh doanh, bói được quẻ Tiết chuyển sang Lâm.
Đoán rằng: Vị ngọt là thứ ai cũng ưa thích, nhưng ngọt quá thì hương vị cũng biến đổi, sự tiết chế chính là làm cho vừa vặn trung hòa, đối với hương vị là vậy, đối với muôn việc cũng không khác. 'Vãng hữu thượng' nghĩa là từ đây trở đi, mọi việc đều đáng tôn vinh, mọi việc đều thu được cát tường. Nay ngài đoán về việc lời lỗ trong kinh doanh, được hào Năm quẻ Tiết, biết ngài kinh doanh đã lâu, trước đây vì không biết tiết kiệm nên mới dẫn đến tiếc nuối. Năm ngoái đã được an bình, năm nay nhất định thu được vị ngọt, nên biết gia giảm tiết chế. Mọi việc đều tuân theo tiết chế, đừng vì đầy đủ mà tự kiêu xa, như thế sự đầy đủ mới giữ được lâu dài, cho nên cát tường. 'Vãng' là tuân theo đạo Tiết này mà tiến lên, 'vãng hữu thượng' cũng là đi thì có công. Ngài từ đây về sau kinh doanh thu lợi lớn.
Tượng truyện nói: Cam tiết cát, vì ở vị trí trung vậy.
Hào Năm ở vị trí tôn quý, là chủ của quẻ Tiết, điều Thoán truyện gọi là 'đúng vị trí để tiết chế, trung chính để thông suốt', chỉ có hào Năm đảm nhận. Thoán răn trước rằng 'tiết chế đắng cay, không thể giữ vững', đổi đắng thành ngọt, đạo ấy tất giữ vững được chính đạo, chính đạo thì cát tường, nên nói 'Cam tiết, cát'. Hào Tứ ở giữa quẻ Khảm, Thoán truyện quẻ Khảm nói 'đi thì được tôn vinh', câu 'vãng hữu thượng' ở hào Năm quẻ Tiết chính là từ Thoán truyện quẻ Khảm mà ra. 'Vãng' tức là 'hành', nói rằng có thể thực hành điều đó mà tiến lên, quả thật đáng tán thưởng. Xét ngũ vị thì lấy vị ngọt làm thu được sự trung hòa, còn mặn, đắng, chua, cay đều là lệch lạc. Tiết chế sự lệch lạc của hương vị mà đạt tới sự vừa vặn trung hòa, gọi là 'cam tiết'. Ngọt ngào thì ai ai cũng vui vẻ noi theo, không lấy làm gian nan cực khổ, đó là lý do vì sao 'cam tiết' mang lại cát tường. Tượng truyện lấy câu 'vị trung' để giải thích, sách Lễ Ký - Nguyệt Lệnh viết: 'Thổ ở trung ương, vị nó ngọt', vị ngọt ở vị trí trung tâm, hào Năm là vua, vị vua cũng ở trung tâm, ý giải thích của Tượng truyện lấy từ đây.
【Dự đoán】
○ Vận thế: Vận như nhai mía, càng về già càng ngọt ngào.
○ Kinh doanh: Trồng trọt làm ra vị ngọt, nên buôn bán vận chuyển lương thực gạo mì là cát tường. 'Vãng hữu thượng', vãng là ra bên ngoài, càng nên buôn gạo xuất khẩu ra nước ngoài, nhất định thu lợi.
○ Công danh: Khổ tận cam lai, công danh nhất định rạng rỡ.
○ Nhà cửa: Hào Năm đắc vị, trung ương là vị ngọt, biết rằng nhà này vị trí trung chính, gia phong chính trực, tiết kiệm đáng được khen ngợi.
○ Hôn nhân: Con gái đi lấy chồng gọi là 'vãng', 'vãng hữu thượng' nghĩa là đi để thành lễ. 'Cam' nghĩa là vui lòng đi theo nhau, có tượng trăm năm hạnh phúc, cát tường.
○ Bệnh tật: Bệnh ở trung cung, ngọt thì trướng bụng đầy hơi, nên tiết chế ăn uống làm điều cốt yếu.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một thương nhân đến nhờ đoán về việc lời lỗ trong kinh doanh, bói được quẻ Tiết chuyển sang Lâm.
Đoán rằng: Vị ngọt là thứ ai cũng ưa thích, nhưng ngọt quá thì hương vị cũng biến đổi, sự tiết chế chính là làm cho vừa vặn trung hòa, đối với hương vị là vậy, đối với muôn việc cũng không khác. 'Vãng hữu thượng' nghĩa là từ đây trở đi, mọi việc đều đáng tôn vinh, mọi việc đều thu được cát tường. Nay ngài đoán về việc lời lỗ trong kinh doanh, được hào Năm quẻ Tiết, biết ngài kinh doanh đã lâu, trước đây vì không biết tiết kiệm nên mới dẫn đến tiếc nuối. Năm ngoái đã được an bình, năm nay nhất định thu được vị ngọt, nên biết gia giảm tiết chế. Mọi việc đều tuân theo tiết chế, đừng vì đầy đủ mà tự kiêu xa, như thế sự đầy đủ mới giữ được lâu dài, cho nên cát tường. 'Vãng' là tuân theo đạo Tiết này mà tiến lên, 'vãng hữu thượng' cũng là đi thì có công. Ngài từ đây về sau kinh doanh thu lợi lớn.
Thượng Lục: Khổ tiết, trinh hung, hối vong.
Thượng Lục: Khổ tiết, trinh hung, hối vong.
Tượng truyện nói: Khổ tiết trinh hung, vì đạo ấy đã cùng kiệt.
Hào Trên là trùng âm không trung chính, ở cực điểm của quẻ Tiết, ấy là người tiết chế quá mức. Sách Nhĩ Nhã nói: 'Đất mặn là đắng ngắt', nước Khảm thấm xuống sinh ra vị mặn, Đoài là đất mặn khô cứng, ấy là vị đắng của hương vị vậy. Hào Trên và hào Đầu khởi đầu và kết thúc cùng nhau, hào Đầu ở đáy đầm, tiết chế để phòng rò rỉ, hào Trên ở miệng đầm, xuất nhập đều do đó, mà lại tiết chế tất cả mọi thứ, ấy là không biết khi nào thông khi nào tắc. Cảnh tượng khốn khổ đó là thứ muôn vật khó lòng chịu nổi, có kẻ không thể sống qua nổi một ngày, cho nên câu 'khổ tiết' của Thoán truyện chỉ dành riêng cho hào Trên. 'Hối vong' nghĩa là xa hoa không bằng tiết kiệm, lấy đó tu thân thì hối hận tự mất đi. Tượng truyện nói 'đạo ấy cùng kiệt', tức là lấy lời giải thích Thoán truyện để giải thích. Còn 'khổ tiết trinh hung' nghĩa là từ xưa như Long Phùng, Tỷ Can, vì nước quên thân, giữ trọn tiết làm thần tử, tai họa tuy hung hiểm, nhưng đạo của họ thì chính đính, đủ làm khuôn mẫu cho muôn đời, còn gì để hối hận nữa?
【Dự đoán】
○ Vận thế: Vận trình cũng chính đính, nhưng vì cố chấp không thông suốt, dẫn đến suốt đời khốn khổ.
○ Kinh doanh: Cơ hội đã đến cùng cực, không biết biến thông, dẫn đến cùng thuẫn ép bách, chỉ tự làm khổ mình mà thôi.
○ Công danh: Người đó giữ chính không nịnh hót, chịu khốn khổ tự giữ mình, khó lòng mong thành danh.
○ Chinh chiến: Tượng hào trùng âm, yếu đuối không có lực, lại gặp lúc đất cùng thế kiệt, chỉ biết cố thủ không ra, cuối cùng tất gặp xấu.
○ Bệnh tật: Âm thịnh dương suy, bệnh thế đã đến cùng cực, xấu.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Có người bạn thương gia đến nhờ đoán về giá cổ phiếu cao thấp, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: Quẻ này có tượng trên đầm có nước, đầm có nước, đầy thì khai thông, không đầy thì ngăn lại. Khai thông hay ngăn lại, đó là sự tiết chế của nước. Hào Trên ở miệng trên của đầm, đáng ra phải thông mà lại tắc, ấy là tiết chế quá mức. Nước chảy không ngừng là nước ngọt, phía trên bị tắc không chảy được thì thành nước đọng, ngọt cũng hóa đắng, nên nói 'khổ tiết trinh hung'. Nay ngài đoán giá cổ phiếu cao thấp, được tượng hào này, cổ phiếu là nguồn vốn tài chính, nguồn tài chính giống như nguồn nước, nên lưu thông, không nên tắc nghẽn; huống hồ hào Trên thời vị đã đến cùng cực, nếu tắc nghẽn không chịu mở, thích đầu cơ tích trữ để mong giá cao, khiến người ta khốn đốn chèn ép không sống nổi, phải phòng khổ cực sinh biến, kẻ làm người khác khổ lại tự làm mình khổ, đó là con đường chuốc lấy họa, cũng là con đường chuốc lấy cùng kiệt. Nên mau chóng bán ra lưu thông, mới có thể tránh được tai họa.
Người đó nghe xong, ngay trong ngày đã bán sạch. Sau đó giá cổ phiếu lập tức sụt giảm.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ ZXKEEP31XZ, bói về tình hình trị an quản lý của Tòa hành chính Hokkaido, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: Hào Trên ở miệng đầm Đoài, dòng nước Khảm đã tràn đầy, lại tiết chế không cho thông, khiến người ta không được hưởng ơn huệ, đó gọi là 'khổ tiết', đạo ấy tất nhiên xấu. Nay đoán về chính trị của Tòa hành chính Hokkaido, được tượng hào này, biết rằng việc thi hành chính sách có điều không hợp địa thế, không thông dân tình, trên dưới tắc nghẽn, mệnh lệnh không hành chủ trì được. Hào Trên động biến thành Trung Phù, nên mau chóng biến thông đưa ra giải pháp, mới có thể tạo niềm tin mà cảm hóa đất nước. Xét về ngoại tượng, đầm Đoài nước đầy, đầy thì tất tràn, Đoài là mùa thu, phải phòng ngừa tai họa lũ lụt vào mùa thu.
Tháng 9 năm đó quả nhiên có nạn lũ lụt, nhân dân đau khổ, tượng hung hiểm đúng như vậy.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ ZXKEEP31XZ, đoán về tình hình đối ngoại, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: 'Khổ tiết' ở hào Trên là tiết chế quá mức. Tiết chế vừa đúng mức trung hòa thì ngọt ngào, quá mức thì cay đắng. Mọi việc trên đời đều quý ở chỗ vừa vặn, quá mức thì khốn khổ đi theo, tai họa cũng đi theo, đó là thế tất nhiên. Nay đoán về ngoại giao, được tượng hào này, biết rằng thời thế hiện nay chính là lúc nước đầm đầy tràn, lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Điều nên làm là lưu thông bốn biển, thay đổi sự tiết chế để thích ứng với tình thế, mới tránh được khốn khổ. Nếu cứ keo kiệt không đưa ra, cố chấp tự giữ mình, thì cái xấu là chắc chắn.
Tượng truyện nói: Khổ tiết trinh hung, vì đạo ấy đã cùng kiệt.
Hào Trên là trùng âm không trung chính, ở cực điểm của quẻ Tiết, ấy là người tiết chế quá mức. Sách Nhĩ Nhã nói: 'Đất mặn là đắng ngắt', nước Khảm thấm xuống sinh ra vị mặn, Đoài là đất mặn khô cứng, ấy là vị đắng của hương vị vậy. Hào Trên và hào Đầu khởi đầu và kết thúc cùng nhau, hào Đầu ở đáy đầm, tiết chế để phòng rò rỉ, hào Trên ở miệng đầm, xuất nhập đều do đó, mà lại tiết chế tất cả mọi thứ, ấy là không biết khi nào thông khi nào tắc. Cảnh tượng khốn khổ đó là thứ muôn vật khó lòng chịu nổi, có kẻ không thể sống qua nổi một ngày, cho nên câu 'khổ tiết' của Thoán truyện chỉ dành riêng cho hào Trên. 'Hối vong' nghĩa là xa hoa không bằng tiết kiệm, lấy đó tu thân thì hối hận tự mất đi. Tượng truyện nói 'đạo ấy cùng kiệt', tức là lấy lời giải thích Thoán truyện để giải thích. Còn 'khổ tiết trinh hung' nghĩa là từ xưa như Long Phùng, Tỷ Can, vì nước quên thân, giữ trọn tiết làm thần tử, tai họa tuy hung hiểm, nhưng đạo của họ thì chính đính, đủ làm khuôn mẫu cho muôn đời, còn gì để hối hận nữa?
【Dự đoán】
○ Vận thế: Vận trình cũng chính đính, nhưng vì cố chấp không thông suốt, dẫn đến suốt đời khốn khổ.
○ Kinh doanh: Cơ hội đã đến cùng cực, không biết biến thông, dẫn đến cùng thuẫn ép bách, chỉ tự làm khổ mình mà thôi.
○ Công danh: Người đó giữ chính không nịnh hót, chịu khốn khổ tự giữ mình, khó lòng mong thành danh.
○ Chinh chiến: Tượng hào trùng âm, yếu đuối không có lực, lại gặp lúc đất cùng thế kiệt, chỉ biết cố thủ không ra, cuối cùng tất gặp xấu.
○ Bệnh tật: Âm thịnh dương suy, bệnh thế đã đến cùng cực, xấu.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Có người bạn thương gia đến nhờ đoán về giá cổ phiếu cao thấp, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: Quẻ này có tượng trên đầm có nước, đầm có nước, đầy thì khai thông, không đầy thì ngăn lại. Khai thông hay ngăn lại, đó là sự tiết chế của nước. Hào Trên ở miệng trên của đầm, đáng ra phải thông mà lại tắc, ấy là tiết chế quá mức. Nước chảy không ngừng là nước ngọt, phía trên bị tắc không chảy được thì thành nước đọng, ngọt cũng hóa đắng, nên nói 'khổ tiết trinh hung'. Nay ngài đoán giá cổ phiếu cao thấp, được tượng hào này, cổ phiếu là nguồn vốn tài chính, nguồn tài chính giống như nguồn nước, nên lưu thông, không nên tắc nghẽn; huống hồ hào Trên thời vị đã đến cùng cực, nếu tắc nghẽn không chịu mở, thích đầu cơ tích trữ để mong giá cao, khiến người ta khốn đốn chèn ép không sống nổi, phải phòng khổ cực sinh biến, kẻ làm người khác khổ lại tự làm mình khổ, đó là con đường chuốc lấy họa, cũng là con đường chuốc lấy cùng kiệt. Nên mau chóng bán ra lưu thông, mới có thể tránh được tai họa.
Người đó nghe xong, ngay trong ngày đã bán sạch. Sau đó giá cổ phiếu lập tức sụt giảm.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ ZXKEEP31XZ, bói về tình hình trị an quản lý của Tòa hành chính Hokkaido, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: Hào Trên ở miệng đầm Đoài, dòng nước Khảm đã tràn đầy, lại tiết chế không cho thông, khiến người ta không được hưởng ơn huệ, đó gọi là 'khổ tiết', đạo ấy tất nhiên xấu. Nay đoán về chính trị của Tòa hành chính Hokkaido, được tượng hào này, biết rằng việc thi hành chính sách có điều không hợp địa thế, không thông dân tình, trên dưới tắc nghẽn, mệnh lệnh không hành chủ trì được. Hào Trên động biến thành Trung Phù, nên mau chóng biến thông đưa ra giải pháp, mới có thể tạo niềm tin mà cảm hóa đất nước. Xét về ngoại tượng, đầm Đoài nước đầy, đầy thì tất tràn, Đoài là mùa thu, phải phòng ngừa tai họa lũ lụt vào mùa thu.
Tháng 9 năm đó quả nhiên có nạn lũ lụt, nhân dân đau khổ, tượng hung hiểm đúng như vậy.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ ZXKEEP31XZ, đoán về tình hình đối ngoại, bói được quẻ Tiết chuyển sang Trung Phù.
Đoán rằng: 'Khổ tiết' ở hào Trên là tiết chế quá mức. Tiết chế vừa đúng mức trung hòa thì ngọt ngào, quá mức thì cay đắng. Mọi việc trên đời đều quý ở chỗ vừa vặn, quá mức thì khốn khổ đi theo, tai họa cũng đi theo, đó là thế tất nhiên. Nay đoán về ngoại giao, được tượng hào này, biết rằng thời thế hiện nay chính là lúc nước đầm đầy tràn, lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Điều nên làm là lưu thông bốn biển, thay đổi sự tiết chế để thích ứng với tình thế, mới tránh được khốn khổ. Nếu cứ keo kiệt không đưa ra, cố chấp tự giữ mình, thì cái xấu là chắc chắn.