☯
Kinh Dịch · 64 Quẻ
Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 3, quẻ Truân, Thủy Lôi Truân, Khảm trên Chấn dưới
䷂
Truân: Đại hanh, lợi về chính bền. Chớ dùng việc tiến đi, có lợi cho việc dựng chư hầu.
Thoán truyện nói: Truân là lúc cương và nhu mới bắt đầu giao nhau nên khó khăn phát sinh. Vận động trong hiểm nguy, giữ chính thì đại hanh. Sấm mưa vận động tràn đầy, Trời tạo dựng giữa cảnh mờ mịt hỗn độn; thích hợp dựng chư hầu nhưng chưa được yên ổn.
Tượng truyện nói: Mây và sấm là Truân; người quân tử noi theo đó mà kinh luân, sắp đặt và cai quản sự việc.

Quẻ 3 — nguyên văn và tổng quan
Giải thích chi tiết quẻ thứ ba của Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Truân
Truân: Nguyên, hanh, lợi, trinh. Chớ dùng; có chỗ để đi; có lợi cho việc dựng chư hầu.
Tượng truyện nói: Mây và sấm là Truân; người quân tử noi theo đó mà kinh luân, sắp đặt và cai quản sự việc.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Truân: Đại cát đại lợi, điềm bói cát. Không lợi cho việc ra ngoài. Có lợi cho việc dựng nước phong hầu.
Tượng truyện nói: Thượng quái của Truân là Khảm, Khảm là mây; hạ quái là Chấn, Chấn là sấm. Mây vận hành ở trên, sấm chuyển động ở dưới, đó là quái tượng của Truân. Người quân tử quan sát tượng ấy, noi theo ân trạch của mây và uy nghiêm của sấm để cai quản việc nước.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Truân có Khảm trên Chấn dưới, là quẻ thế thứ hai của cung Khảm. Truân cho thấy có khó khăn, đồng thời tượng trưng cho động mà gặp hiểm; phải cương nghị quả cảm mới được cát.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Muôn vật mới bắt đầu sinh, nên khởi đầu gian nan; trước lao nhọc sau nhàn nhã, hết đắng cay rồi sẽ đến ngọt bùi.
Người gieo được quẻ này đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, nên thủ không nên tiến; phải chịu khó nỗ lực hơn, loại trừ trở ngại thì mới thông đạt. Đây là tượng ban đầu gian nan, về sau được giải quyết.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nên thủ, không nên tiến.
Tài vận: Khởi nghiệp gian nan.
Gia trạch: Sửa sang nhà cửa; hôn nhân đầu không hòa thuận.
Sức khỏe: Bảo tồn nguyên khí.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị (Chấn ở dưới, Khảm ở trên) chồng lên nhau. Chấn là sấm, ví cho động; Khảm là mưa, ví cho hiểm. Sấm mưa đan xen, hiểm tượng nảy sinh khắp nơi, hoàn cảnh khắc nghiệt. “Truân” vốn chỉ cây cỏ nảy mầm từ lòng đất, muôn vật mới sinh đầy gian nan hiểm trở; tuy nhiên thuận thời ứng vận thì tất sẽ sinh sôi hưng thịnh.
Đại tượng: Truân là khó khăn, mọi việc muốn tiến mà không thể tiến.
Vận thế: Ở trong cảnh khó khăn, phải tiến từng bước, có ý ban đầu khó rồi sau được giải.
Sự nghiệp: Ban đầu có nhiều điều bất lợi; phải biết khó mà tiến, cẩn thận, dũng cảm tiến về phía trước và linh hoạt cơ động thì có thể đạt thành công lớn. Khi thời cơ đến nhất định phải nắm lấy, nhưng không được quá vội vàng. Khó khăn vẫn còn, nhất thiết cần người khác giúp đỡ, vì vậy ngày thường nên ban ân, tạo thiện duyên.
Kinh doanh: Thời kỳ đầu khởi nghiệp bước đi gian nan, nhiều thất bại. Kiên định niềm tin là quan trọng nhất, không để hiện tượng bề ngoài mê hoặc; phải tích cực tiến thủ, hành động quyết đoán, mở lối thoát. Nếu vẫn không thoát được khốn cảnh thì nên lui để bảo toàn, chờ cơ hội rồi lại mở rộng hoài bão.
Cầu danh: Tích cực tranh thủ, chủ động theo đuổi thì có thể thành công.
Hôn nhân tình cảm: Việc tốt thường lắm gian nan; nếu thủy chung trong sáng, mạnh dạn theo đuổi thì có thể thành công, hôn nhân mỹ mãn.
Quyết định: Ban đầu khó khăn, nhưng nếu có nghị lực bền bỉ và tinh thần phấn đấu không ngừng thì tiền đồ không thể lường. Tuy nhiên thường không được người khác thấu hiểu, rơi vào cô độc khổ muộn, khiến sự nghiệp gặp khó khăn; cần được người hiền đức giúp đỡ mới thoát ra. Nếu xử thế bằng tinh thần lạc quan, có thể đạt thành tựu.
Ý nghĩa triết học của quẻ thứ ba
Trong Kinh Dịch, mỗi quẻ đều là một biểu tượng, đại diện cho nhiều ý nghĩa cụ thể. Càn tượng trưng cho trời, Khôn tượng trưng cho đất; Càn tượng trưng cho cha, Khôn tượng trưng cho mẹ, v.v. Hai quẻ Càn Khôn được gọi là quẻ cha mẹ; sự biến hóa giao nhau của hai quẻ sinh ra muôn sự muôn vật trong vũ trụ. Còn Truân, quẻ thứ ba, tượng trưng cho sự bắt đầu của sự vật.
Tự Quái truyện nói: “Vật lấp đầy khoảng giữa trời đất chỉ là muôn vật, nên tiếp đó là quẻ Truân. Truân là đầy đủ; Truân là lúc vật mới bắt đầu sinh.” Thứ tràn đầy giữa trời đất là muôn vật, nên tiếp theo xuất hiện quẻ Truân. Truân có nghĩa là đầy đặn, cũng có nghĩa là muôn vật bắt đầu sinh ra.
Quẻ Truân là tượng khó tiến, tượng trưng cho gian nan ở giai đoạn khởi đầu, tức “vạn sự khởi đầu nan”. Xét về quái tượng, nguyên nhân là thượng quái Khảm, đại diện cho gian hiểm và nguy hiểm. Hạ quái muốn tiến nhưng bị Khảm ngăn trở, phải tiến bước giữa khó khăn. Quẻ này thuộc hạ hạ quái. Tượng truyện phán: “Gió thổi tơ rối chẳng thấy đầu, đảo điên rối ren sinh ưu sầu; chậm rãi khoan hòa thì bên trái được thuận, hấp tấp lại chuốc lấy bất tự do.”
Thượng quái của Truân là Khảm, tượng nước; hạ quái là Chấn, tượng sấm, nên quái tượng tổng thể là Thủy Lôi Truân. Nói cách khác, sự kết hợp của nước và sấm là ý nghĩa tượng trưng của Truân. Nhưng chữ “Truân” biểu thị hình ảnh mầm non, còn quái tượng lại là nước và sấm; giữa chúng có liên hệ gì? Khảm ở trên biểu thị mây, Chấn ở dưới biểu thị sấm. Mây đen xuất hiện, rồi có tiếng sấm, tự nhiên sẽ mưa. Chỉ khi có mưa, cây cối trên mặt đất mới sinh trưởng, mầm non mới có hy vọng thành cây. Có thể thấy tên quẻ và quẻ họa kết hợp hết sức khéo léo.
Quẻ 3 — giải nghĩa từng hào
Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ ba trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Dùng dằng quanh quẩn; có lợi ở yên giữ chính; có lợi dựng chư hầu.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Dùng dằng khó tiến. Đây là lời bói có lợi cho việc ở yên. Thầy đồng gieo được hào này thì có lợi cho việc dựng nước phong hầu.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng khó tiến, chí hướng và hành vi vẫn chính trực. Sơ Cửu ở dưới hào âm Lục Nhị, tượng trưng cho người tôn quý hạ mình thuận theo người thấp kém, nhờ đó được lòng dân rất lớn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này, nếu an phận giữ mình thì không lo; người nóng nảy hành động thì bất lợi. Người làm quan tạm thời chưa được trọng dụng, nhưng giữ chính đạo thì có thể mong vận tốt. Với nữ mệnh, là người vợ tốt làm gia đình hưng thịnh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Muốn tiến mà chưa tiến, hãy giữ chính đạo.
Tài vận: Không lợi kinh doanh; có thể dùng người chính nhân quân tử.
Gia trạch: Ở yên nơi nhà sang; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Khỏe mạnh, không đáng lo.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Khi hào Sơ Cửu động, biến thành quẻ thứ 8 của Chu Dịch: quẻ Tỷ, Thủy Địa Tỷ. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Khảm ở trên) chồng lên nhau. Khôn là đất, Khảm là nước. Nước bám vào đất, đất tiếp nhận sông biển; đôi bên nương tựa, thân mật không cách ngăn. Quẻ này hoàn toàn đối lập với quẻ Sư, là quẻ tổng đối của nhau. Nó trình bày đạo lý thân ái tương trợ, khoan dung vô tư và chân thành đoàn kết.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Trong quẻ Truân, câu “có lợi cho việc dựng chư hầu” được nhấn mạnh nhiều lần, vì khi mọi việc bắt đầu cũng chính là lúc khó khăn, cần có sự giúp đỡ của người khác. Khi mới bắt tay vào một việc mới, nếu cảm thấy chưa nắm chắc, có thể điều chỉnh mục tiêu và chiến lược, thỉnh giáo cấp dưới giàu kinh nghiệm, tiến hành “phong thưởng” cho họ: vừa cho họ một số lợi ích, vừa giao trách nhiệm và nghĩa vụ, giống như phân phong chư hầu. Như vậy sẽ có lợi cho công việc của mình.
Người gieo được quẻ này có thể đang ở trong cảnh khó khăn, dùng dằng không tiến, không thể phát huy tiềm năng. Lúc này không nên hành động, mà nên ở nhà giữ gìn đức hạnh. Hãy xây dựng uy tín, vun đắp các mối quan hệ, hoặc đợi đến khi có thành tựu nhất định rồi mới xuất hiện và làm một phen lớn. Lúc đầu sự nghiệp khởi bước gian nan, khó làm nên thành tích, nhưng nếu vẫn giữ chính trực, không chịu khuất phục và dám tiến thủ thì tiền đồ nhất định có lợi.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Ý câu này là: Tuy do dự chưa thể tiến, nhưng ý chí tiến lên là chính đáng; tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì có thể được nhân dân ủng hộ rộng rãi.
Hào đầu nói với người ta rằng gặp khó khăn chớ nản chí, phải có lòng tiến lên; đồng thời cần lưu ý “lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn”, nghĩa là vua phải đối xử tốt với bề tôi, lãnh đạo phải kính trọng cấp dưới, tức phải lễ đãi người hiền tài.
Người gieo được quẻ này có thể được nhiều người tiến cử làm một việc gì đó, hoặc làm lãnh đạo, người đứng đầu nhỏ. Tuy bản thân có năng lực ấy nhưng thời cơ không thuận, rất khó thực hiện nguyện vọng; có thể nói là chí lớn chưa thành.
Sơ Cửu là hào dương đắc vị, giống như một nhân viên ở chức vụ thấp nhưng mang chí lớn. Trong Chu Dịch, dương được tôn quý, âm bị xem là thấp kém, nên nói Sơ Cửu là “lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn”, tức người có thân phận tôn quý đến ở địa vị thấp. Ngày nay không thể cho rằng dương đại diện cho nam, âm đại diện cho nữ. Thực ra, bất cứ người nào có chí lớn đều tôn quý, vì chí khí có thể khiến người ấy trở thành người tôn quý. Người mang chí lớn mà ở địa vị thấp phải kiên định như bàn thạch, tự lập tự cường như cột biểu. Chỉ như vậy mới làm nên sự nghiệp lớn.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ ba trong Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục Nhị: Gian nan, dùng dằng; ngựa cưỡi đi từng hàng. Không phải giặc mà là người cầu hôn; người con gái giữ trinh không lấy chồng, mười năm sau mới lấy.
Tượng truyện nói: Cái khó của Lục Nhị là do cưỡi lên hào cương. “Mười năm sau mới lấy chồng” nghĩa là trở về lẽ thường.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Nhị: Chần chừ, không tiến lên. Trên đường đi do dự, cho xe ngựa quay vòng tại chỗ; không phải đến cướp bóc mà là đến cưới cô dâu. Bói được hào này thì người phụ nữ ấy không thể sinh nở, phải mười năm sau mới có thai.
Tượng truyện nói: Hào Lục Nhị báo hiệu gian nan vì ở trên hào Dương Cửu Sơ. Mười năm mới có thai là hiện tượng trái thường.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này sẽ có niềm vui hôn nhân. Người làm quan thì quyền thế ngày càng tăng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tạm thời chưa thành, mười năm sau có thể thành.
Tài vận: Bán ra gặp khó khăn, khá tốn thời gian.
Gia trạch: Là mối lương duyên tốt, nhưng phải chờ đợi.
Sức khỏe: Duy trì thói quen vận động.
Quẻ biến của hào Lục Nhị
Hào Lục Nhị biến thành quẻ thứ 60 của Chu Dịch: Thủy Trạch Tiết. Đây là quẻ dị, do Đoài ở dưới và Khảm ở trên chồng lên nhau. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy hữu hạn; quá nhiều sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy phải có tiết độ, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết trái ngược với quẻ Hoán, hai quẻ là tổng quái của nhau và được dùng hỗ tương. Trời đất có tiết độ thì mới luôn đổi mới; quốc gia có tiết độ thì mới yên ổn; cá nhân có tiết độ thì mới hoàn thiện.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị
Sở dĩ Lục Nhị gặp nhiều điều không thuận như vậy, Tượng truyện giải thích: “Nỗi khó của Lục Nhị là vì cưỡi lên hào Cương. Mười năm mới sinh con, trái với lẽ thường.” Nghĩa là tình thế khó khăn của Lục Nhị do ở trên hào Cương; mười năm sau mới xuất giá, cuối cùng mọi việc trở lại bình thường.
Từ quẻ này, ta có thể hiểu điểm cốt yếu khi chọn bạn đời: không ở tiền bạc, không ở địa vị, mà chỉ ở chỗ người ấy có phải người mình yêu hay không, có ôm chí lớn và có triển vọng hay không. Vì vậy, Lục Nhị sáng suốt cuối cùng, sau mười năm, đã gả cho người mình yêu là Cửu Sơ, người đã thành đạt trong sự nghiệp. Từ hào này, các độc giả nữ nên được gợi mở để hiểu cách lựa chọn người mình yêu.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Hào Lục Tam: Đuổi hươu mà không có người dẫn đường, chỉ đi vào trong rừng. Người quân tử thấy thời cơ, biết rằng thà bỏ cuộc còn hơn. Tiến tới sẽ chuốc lấy hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là chạy theo thú vật một cách buông thả. Người quân tử bỏ nó, vì biết tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tam: Đuổi bắt hươu rừng mà không có quan dẫn đường. Nghĩ rằng hươu đã chạy vào rừng núi, người quân tử sáng suốt cho rằng nên từ bỏ. Đi sâu vào rừng núi sẽ nguy hiểm.
Tượng truyện nói: Đuổi hươu rừng mà không có người dẫn đường là chỉ nhằm chạy theo thú săn. Người quân tử bỏ con hươu ấy vì biết đi sâu vào rừng sẽ nguy hiểm, nên không còn cách nào khác.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải an phận, giữ mình; nếu không sẽ gặp tai họa. Người làm quan có nguy cơ bị nghi tham nhũng, bị đình chức hoặc giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cầu của báu được lợi cũng không đáng kể.
Tài vận: E rằng có tổn thất, thà bỏ đi còn hơn.
Gia trạch: Cầu hôn không theo chính đạo sẽ gặp khó khăn.
Sức khỏe: Không được phóng túng dục vọng mà làm tổn hại thân thể.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Hào Lục Tam biến thành quẻ thứ 63 của Chu Dịch: Thủy Hỏa Ký Tế. Đây là quẻ dị, do Ly ở dưới và Khảm ở trên chồng lên nhau. Khảm là nước, Ly là lửa. Nước và lửa giao nhau, nước ở trên lửa; thế nước áp đảo thế lửa, công cuộc dập lửa lớn đã hoàn thành. “Ký” nghĩa là đã, “Tế” nghĩa là thành. Ký Tế nghĩa là việc đã thành công, nhưng cuối cùng sẽ xảy ra biến đổi.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Hãy xem xét kỹ hào này. Lục Tam ở trong hạ quái; hạ quái thuộc Chấn, mà Chấn biểu thị hành động. Lục Tam cũng nằm trong hỗ quái Khôn; Khôn biểu thị ruộng đất. Từ vị trí của Lục Tam, có thể phân tích rằng đây là việc săn bắn ngoài đồng. Lục Tam là hào Âm nhưng lại ở vị trí Cương là “Tam”, phía trên không có người lãnh đạo. Vì thế, tuy chỉ việc đi vào đồng rừng nhưng không có đối tượng để nghe theo, không ai chỉ huy hay dẫn dắt. Bản thân lại thuộc Âm, không có năng lực ấy. Trong tình huống này, thà bỏ việc đuổi bắt con mồi, nếu không sẽ gặp khó khăn.
Người được hào này phải học cách thấy thời cơ mà hành động. Nếu không có trợ thủ đắc lực hoặc sự ủng hộ của lãnh đạo, bản thân lại không giỏi việc ấy thì hãy từ bỏ, đừng làm. Nếu mình không phải người tài trong một lĩnh vực mà vẫn cố làm nên việc thuộc lĩnh vực đó, chẳng những việc không thành mà còn chuốc lấy tai họa.
Tượng truyện phân tích hào này như sau: “Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là đi theo thú săn. Người quân tử bỏ nó; tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.”
Câu này có nghĩa là: Đuổi hươu rừng mà không có quan săn dẫn dắt chỉ là vì tham con thú mà chạy theo nó. Người quân tử nên bỏ đi; nếu tiếp tục đuổi sẽ gặp khó khăn, thậm chí rơi vào cảnh khốn cùng.
Người được hào này khi làm việc phải chú ý: có việc có thể làm, khi thuận, địa lợi, nhân hòa, bản thân lại có năng lực thì đương nhiên nên làm không chút do dự. Có việc không thể làm, bản thân cũng không đủ năng lực; dù trước mặt có núi vàng núi bạc cũng không được làm. Nếu chỉ tham vinh hoa phú quý mà không xét mình có thể hay không, tất sẽ xảy ra tai họa. Gặp tình huống ấy, việc nên bỏ thì phải bỏ, nhất định phải khống chế lòng tham, đừng chỉ mải đuổi theo con mồi mà không xét hoàn cảnh của mình.
Lục Tam ở vị trí cao nhất của quái Chấn, mà Chấn là hành động. Ở vị trí cao nhất, Lục Tam khó tránh biểu hiện hành động quá mức; đi thêm lên trên sẽ vào quái Khảm, Khảm là hiểm, phía trước có nguy hiểm. Vì vậy hào từ dùng một ví dụ hết sức sinh động để đưa ra lời khuyên rất xác đáng. Người quân tử đuổi theo một con hươu vào rừng, một khu rừng xa lạ. Vì nóng lòng muốn có con hươu, ông đi săn mà không có quan săn giàu kinh nghiệm, nên đối mặt nguy cơ lạc đường. Phải làm gì: tiếp tục đuổi hay từ bỏ? Người quân tử này sáng suốt và chọn từ bỏ.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Hào Lục Tứ: Cưỡi ngựa quay vòng tại chỗ, tìm cầu hôn nhân. Tiến lên thì tốt lành, không gì bất lợi.
Tượng truyện nói: Cầu mà tiến lên là sáng suốt.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tứ: Lái xe ngựa quay vòng tại chỗ, đây là tìm cầu hôn phối. Mạnh dạn tiến lên thì chắc chắn tốt lành.
Tượng truyện nói: Dám cầu tìm, dũng cảm tiến sâu vì người ấy hiểu rõ tình thế.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này mưu việc có thể thành, trăm việc hòa hợp, được bạn bè giúp đỡ, đại cát đại lợi. Người làm quan sẽ danh tiếng hiển hách, có cơ hội thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thuận thế mà làm, sẽ phát triển lớn.
Tài vận: Thấy rõ lợi ích, ắt sẽ có thu hoạch.
Gia trạch: Hôn nhân tốt lành.
Sức khỏe: Tuân theo lời dặn của bác sĩ.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Hào Lục Tứ biến thành quẻ thứ 17 của Chu Dịch: Trạch Lôi Tùy. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Đoài ở trên chồng lên nhau. Chấn là sấm, là động; Đoài là vui. Động mà vui chính là “Tùy”. Tùy nghĩa là thuận theo lẫn nhau: mình tùy theo vật, vật có thể tùy theo mình, đôi bên giao tiếp với nhau. Tùy tất phải nương thời thuận thế, có nguyên tắc và điều kiện, lấy sự kiên trinh làm tiền đề.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Người được hào này phải học cách thấy thời cơ mà hành động. Nếu không có trợ thủ đắc lực hoặc sự ủng hộ của lãnh đạo, bản thân lại không giỏi việc ấy thì hãy từ bỏ, đừng làm. Nếu mình không phải người tài trong một lĩnh vực mà vẫn cố làm nên việc thuộc lĩnh vực đó, chẳng những việc không thành mà còn chuốc lấy tai họa.
Tượng truyện phân tích hào này như sau: “Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là đi theo thú săn. Người quân tử bỏ nó; tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.”
Câu này có nghĩa là: Đuổi hươu rừng mà không có quan săn dẫn dắt chỉ là vì tham con thú mà chạy theo nó. Người quân tử nên bỏ đi; nếu tiếp tục đuổi sẽ gặp khó khăn, thậm chí rơi vào cảnh khốn cùng.
Người được hào này khi làm việc phải chú ý: có việc có thể làm, khi thuận, địa lợi, nhân hòa, bản thân lại có năng lực thì đương nhiên nên làm không chút do dự. Có việc không thể làm, bản thân cũng không đủ năng lực; dù trước mặt có núi vàng núi bạc cũng không được làm. Nếu chỉ tham vinh hoa phú quý mà không xét mình có thể hay không, tất sẽ xảy ra tai họa. Gặp tình huống ấy, việc nên bỏ thì phải bỏ, nhất định phải khống chế lòng tham, đừng chỉ mải đuổi theo con mồi mà không xét hoàn cảnh của mình.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Hào Cửu Ngũ: Tích trữ thịt béo. Bói việc nhỏ thì tốt, bói việc lớn thì xấu.
Tượng truyện nói: Tích trữ thịt béo nghĩa là việc ban phát chưa được rộng khắp.
Giải thích bằng văn nói
Hào Cửu Ngũ: Tích trữ thịt béo. Gặp hào này, hỏi việc nhỏ thì cát, hỏi việc lớn thì hung.
Tượng truyện nói: “Tích trữ thịt béo” nghĩa là việc bố thí chưa được mở rộng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này khi mưu việc chớ nóng vội. Việc nhỏ có thể thành, việc lớn thì vô vọng, thậm chí còn chuốc lấy hung họa.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không có người đề bạt, tạm thời chưa có hy vọng.
Tài vận: Buôn bán nhỏ còn có thể có lãi, buôn bán lớn thì hung.
Gia trạch: Tích tụ tiền của làm tổn hại hòa khí.
Sức khỏe: Bệnh mới phát thì có thể chữa, bệnh lâu ngày thì nguy hiểm.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Hào Cửu Ngũ biến thành quẻ thứ 24 của Chu Dịch: Địa Lôi Phục. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Chấn là sấm, là động; Khôn là đất, là thuận. Động thì thuận, thuận theo tự nhiên. Động trong thuận, trong Dương ngoài Âm, vận hành tuần tự, tiến lui tự tại, có lợi cho tiến lên.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Xét từ tượng quẻ, Lục Tứ là hào Âm ở vị trí Nhu, được đúng vị. Người được hào này nếu muốn cầu hôn thì không cần chần chừ, lo người kia không thích mình hoặc bị từ chối; thà mạnh dạn tiến tới theo đuổi. Dù quá trình có vẻ khó khăn, trắc trở, nhưng rất cát lợi, không có nhiều trở ngại như tưởng tượng.
Tượng truyện nói: Cầu mà tiến lên là sáng suốt.
Câu này nghĩa là: Kiên định không lay chuyển mà theo đuổi là hành động sáng suốt.
Hào này thuộc quẻ Truân, ví như thời kỳ sự vật mới sinh, đối mặt với khó khăn là điều tất nhiên. Tuyệt đối không vì thế mà nản chí, dừng bước hay từ bỏ theo đuổi. Vì vậy hãy gạt bỏ lo âu và mạnh dạn theo đuổi.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Hào Thượng Lục: Cưỡi ngựa quay vòng tại chỗ, khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi như máu.
Tượng truyện nói: Khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn như máu; cảnh tượng ấy sao có thể kéo dài?
Giải thích bằng văn nói
Hào Thượng Lục: Lái xe ngựa quay vòng tại chỗ, khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi.
Tượng truyện nói: Khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi; cảnh ấy sao có thể kéo dài?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này gia đạo suy sụp, phải đề phòng tổn thất. Người làm quan phải cẩn thận lời gièm pha của kẻ tiểu nhân.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Phía trước không có đường đi, giữ mạng sống là điều cốt yếu.
Tài vận: Do dự không quyết đoán, mất hết cơ hội tốt.
Gia trạch: Gia đạo suy sụp.
Sức khỏe: Chứng thổ huyết, hung.
Quẻ biến của hào Thượng Lục
Hào Thượng Lục biến thành quẻ thứ 42 của Chu Dịch: Phong Lôi Ích. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Tốn là gió; Chấn là sấm. Gió sấm kích động lẫn nhau, thế càng mạnh; sấm càng vang, gió sấm cùng trợ giúp và tăng trưởng cho nhau. Quẻ này trái với quẻ Tổn: giảm ở trên để làm lợi cho dưới, còn quẻ Tổn giảm ở dưới để làm lợi cho trên. Hai quẻ nêu rõ nguyên tắc tổn ích.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Ta biết trong Kinh Dịch, vị Cửu Ngũ được tôn quý. Cửu Ngũ nằm trong quái Khảm, Khảm tượng trưng cho mây. Mây là những giọt nước tụ lại nhưng chưa chuyển thành mưa, vì thế nói “tích trữ thịt béo”. Nếu thiên tử được quẻ này, điều đó cho thấy ân trạch của thiên tử chưa được ban rộng khắp. Thiên tử phải hiểu đạo biết giữ biết cho: tích trữ ít của cải cho mình, ban phát nhiều cho dân thì cát; ngược lại thì hung.
Tượng truyện nói: “Tích trữ thịt béo” nghĩa là việc ban phát chưa được tỏa sáng rộng khắp.
Điều này chỉ ra rằng người chỉ lo tích trữ của cải cho mình mà không quan tâm giúp đỡ người khác, dù muốn làm nên việc gì thì tiền đồ cũng không sáng sủa.
Nếu người bình thường được quẻ này, phải hiểu đạo lấy bỏ. Chỉ lo tích trữ của cải cho mình mà không quan tâm giúp đỡ người khác là rất nguy hiểm. Làm như vậy, việc nhỏ còn có thể thành công, nhưng việc lớn tất nhiên sẽ xuất hiện hung hiểm. Vì vậy, đừng chỉ chăm chăm vào túi tiền của mình; hãy “ban rộng ân trạch”, hiểu đạo xả bỏ thì mới tránh hung hướng cát.
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Dùng dằng quanh quẩn; có lợi ở yên giữ chính; có lợi dựng chư hầu.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Dùng dằng khó tiến. Đây là lời bói có lợi cho việc ở yên. Thầy đồng gieo được hào này thì có lợi cho việc dựng nước phong hầu.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng khó tiến, chí hướng và hành vi vẫn chính trực. Sơ Cửu ở dưới hào âm Lục Nhị, tượng trưng cho người tôn quý hạ mình thuận theo người thấp kém, nhờ đó được lòng dân rất lớn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này, nếu an phận giữ mình thì không lo; người nóng nảy hành động thì bất lợi. Người làm quan tạm thời chưa được trọng dụng, nhưng giữ chính đạo thì có thể mong vận tốt. Với nữ mệnh, là người vợ tốt làm gia đình hưng thịnh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Muốn tiến mà chưa tiến, hãy giữ chính đạo.
Tài vận: Không lợi kinh doanh; có thể dùng người chính nhân quân tử.
Gia trạch: Ở yên nơi nhà sang; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Khỏe mạnh, không đáng lo.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Khi hào Sơ Cửu động, biến thành quẻ thứ 8 của Chu Dịch: quẻ Tỷ, Thủy Địa Tỷ. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Khảm ở trên) chồng lên nhau. Khôn là đất, Khảm là nước. Nước bám vào đất, đất tiếp nhận sông biển; đôi bên nương tựa, thân mật không cách ngăn. Quẻ này hoàn toàn đối lập với quẻ Sư, là quẻ tổng đối của nhau. Nó trình bày đạo lý thân ái tương trợ, khoan dung vô tư và chân thành đoàn kết.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Trong quẻ Truân, câu “có lợi cho việc dựng chư hầu” được nhấn mạnh nhiều lần, vì khi mọi việc bắt đầu cũng chính là lúc khó khăn, cần có sự giúp đỡ của người khác. Khi mới bắt tay vào một việc mới, nếu cảm thấy chưa nắm chắc, có thể điều chỉnh mục tiêu và chiến lược, thỉnh giáo cấp dưới giàu kinh nghiệm, tiến hành “phong thưởng” cho họ: vừa cho họ một số lợi ích, vừa giao trách nhiệm và nghĩa vụ, giống như phân phong chư hầu. Như vậy sẽ có lợi cho công việc của mình.
Người gieo được quẻ này có thể đang ở trong cảnh khó khăn, dùng dằng không tiến, không thể phát huy tiềm năng. Lúc này không nên hành động, mà nên ở nhà giữ gìn đức hạnh. Hãy xây dựng uy tín, vun đắp các mối quan hệ, hoặc đợi đến khi có thành tựu nhất định rồi mới xuất hiện và làm một phen lớn. Lúc đầu sự nghiệp khởi bước gian nan, khó làm nên thành tích, nhưng nếu vẫn giữ chính trực, không chịu khuất phục và dám tiến thủ thì tiền đồ nhất định có lợi.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Tượng truyện nói: Tuy dùng dằng quanh quẩn, chí hướng vẫn đi theo chính đạo. Lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì được lòng dân rất lớn.
Ý câu này là: Tuy do dự chưa thể tiến, nhưng ý chí tiến lên là chính đáng; tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn thì có thể được nhân dân ủng hộ rộng rãi.
Hào đầu nói với người ta rằng gặp khó khăn chớ nản chí, phải có lòng tiến lên; đồng thời cần lưu ý “lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn”, nghĩa là vua phải đối xử tốt với bề tôi, lãnh đạo phải kính trọng cấp dưới, tức phải lễ đãi người hiền tài.
Người gieo được quẻ này có thể được nhiều người tiến cử làm một việc gì đó, hoặc làm lãnh đạo, người đứng đầu nhỏ. Tuy bản thân có năng lực ấy nhưng thời cơ không thuận, rất khó thực hiện nguyện vọng; có thể nói là chí lớn chưa thành.
Sơ Cửu là hào dương đắc vị, giống như một nhân viên ở chức vụ thấp nhưng mang chí lớn. Trong Chu Dịch, dương được tôn quý, âm bị xem là thấp kém, nên nói Sơ Cửu là “lấy tôn quý mà hạ mình dưới thấp hèn”, tức người có thân phận tôn quý đến ở địa vị thấp. Ngày nay không thể cho rằng dương đại diện cho nam, âm đại diện cho nữ. Thực ra, bất cứ người nào có chí lớn đều tôn quý, vì chí khí có thể khiến người ấy trở thành người tôn quý. Người mang chí lớn mà ở địa vị thấp phải kiên định như bàn thạch, tự lập tự cường như cột biểu. Chỉ như vậy mới làm nên sự nghiệp lớn.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ ba trong Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục Nhị: Gian nan, dùng dằng; ngựa cưỡi đi từng hàng. Không phải giặc mà là người cầu hôn; người con gái giữ trinh không lấy chồng, mười năm sau mới lấy.
Tượng truyện nói: Cái khó của Lục Nhị là do cưỡi lên hào cương. “Mười năm sau mới lấy chồng” nghĩa là trở về lẽ thường.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Nhị: Chần chừ, không tiến lên. Trên đường đi do dự, cho xe ngựa quay vòng tại chỗ; không phải đến cướp bóc mà là đến cưới cô dâu. Bói được hào này thì người phụ nữ ấy không thể sinh nở, phải mười năm sau mới có thai.
Tượng truyện nói: Hào Lục Nhị báo hiệu gian nan vì ở trên hào Dương Cửu Sơ. Mười năm mới có thai là hiện tượng trái thường.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này sẽ có niềm vui hôn nhân. Người làm quan thì quyền thế ngày càng tăng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tạm thời chưa thành, mười năm sau có thể thành.
Tài vận: Bán ra gặp khó khăn, khá tốn thời gian.
Gia trạch: Là mối lương duyên tốt, nhưng phải chờ đợi.
Sức khỏe: Duy trì thói quen vận động.
Quẻ biến của hào Lục Nhị
Hào Lục Nhị biến thành quẻ thứ 60 của Chu Dịch: Thủy Trạch Tiết. Đây là quẻ dị, do Đoài ở dưới và Khảm ở trên chồng lên nhau. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy hữu hạn; quá nhiều sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy phải có tiết độ, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết trái ngược với quẻ Hoán, hai quẻ là tổng quái của nhau và được dùng hỗ tương. Trời đất có tiết độ thì mới luôn đổi mới; quốc gia có tiết độ thì mới yên ổn; cá nhân có tiết độ thì mới hoàn thiện.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị
Sở dĩ Lục Nhị gặp nhiều điều không thuận như vậy, Tượng truyện giải thích: “Nỗi khó của Lục Nhị là vì cưỡi lên hào Cương. Mười năm mới sinh con, trái với lẽ thường.” Nghĩa là tình thế khó khăn của Lục Nhị do ở trên hào Cương; mười năm sau mới xuất giá, cuối cùng mọi việc trở lại bình thường.
Từ quẻ này, ta có thể hiểu điểm cốt yếu khi chọn bạn đời: không ở tiền bạc, không ở địa vị, mà chỉ ở chỗ người ấy có phải người mình yêu hay không, có ôm chí lớn và có triển vọng hay không. Vì vậy, Lục Nhị sáng suốt cuối cùng, sau mười năm, đã gả cho người mình yêu là Cửu Sơ, người đã thành đạt trong sự nghiệp. Từ hào này, các độc giả nữ nên được gợi mở để hiểu cách lựa chọn người mình yêu.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Hào Lục Tam: Đuổi hươu mà không có người dẫn đường, chỉ đi vào trong rừng. Người quân tử thấy thời cơ, biết rằng thà bỏ cuộc còn hơn. Tiến tới sẽ chuốc lấy hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là chạy theo thú vật một cách buông thả. Người quân tử bỏ nó, vì biết tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tam: Đuổi bắt hươu rừng mà không có quan dẫn đường. Nghĩ rằng hươu đã chạy vào rừng núi, người quân tử sáng suốt cho rằng nên từ bỏ. Đi sâu vào rừng núi sẽ nguy hiểm.
Tượng truyện nói: Đuổi hươu rừng mà không có người dẫn đường là chỉ nhằm chạy theo thú săn. Người quân tử bỏ con hươu ấy vì biết đi sâu vào rừng sẽ nguy hiểm, nên không còn cách nào khác.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải an phận, giữ mình; nếu không sẽ gặp tai họa. Người làm quan có nguy cơ bị nghi tham nhũng, bị đình chức hoặc giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cầu của báu được lợi cũng không đáng kể.
Tài vận: E rằng có tổn thất, thà bỏ đi còn hơn.
Gia trạch: Cầu hôn không theo chính đạo sẽ gặp khó khăn.
Sức khỏe: Không được phóng túng dục vọng mà làm tổn hại thân thể.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Hào Lục Tam biến thành quẻ thứ 63 của Chu Dịch: Thủy Hỏa Ký Tế. Đây là quẻ dị, do Ly ở dưới và Khảm ở trên chồng lên nhau. Khảm là nước, Ly là lửa. Nước và lửa giao nhau, nước ở trên lửa; thế nước áp đảo thế lửa, công cuộc dập lửa lớn đã hoàn thành. “Ký” nghĩa là đã, “Tế” nghĩa là thành. Ký Tế nghĩa là việc đã thành công, nhưng cuối cùng sẽ xảy ra biến đổi.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Hãy xem xét kỹ hào này. Lục Tam ở trong hạ quái; hạ quái thuộc Chấn, mà Chấn biểu thị hành động. Lục Tam cũng nằm trong hỗ quái Khôn; Khôn biểu thị ruộng đất. Từ vị trí của Lục Tam, có thể phân tích rằng đây là việc săn bắn ngoài đồng. Lục Tam là hào Âm nhưng lại ở vị trí Cương là “Tam”, phía trên không có người lãnh đạo. Vì thế, tuy chỉ việc đi vào đồng rừng nhưng không có đối tượng để nghe theo, không ai chỉ huy hay dẫn dắt. Bản thân lại thuộc Âm, không có năng lực ấy. Trong tình huống này, thà bỏ việc đuổi bắt con mồi, nếu không sẽ gặp khó khăn.
Người được hào này phải học cách thấy thời cơ mà hành động. Nếu không có trợ thủ đắc lực hoặc sự ủng hộ của lãnh đạo, bản thân lại không giỏi việc ấy thì hãy từ bỏ, đừng làm. Nếu mình không phải người tài trong một lĩnh vực mà vẫn cố làm nên việc thuộc lĩnh vực đó, chẳng những việc không thành mà còn chuốc lấy tai họa.
Tượng truyện phân tích hào này như sau: “Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là đi theo thú săn. Người quân tử bỏ nó; tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.”
Câu này có nghĩa là: Đuổi hươu rừng mà không có quan săn dẫn dắt chỉ là vì tham con thú mà chạy theo nó. Người quân tử nên bỏ đi; nếu tiếp tục đuổi sẽ gặp khó khăn, thậm chí rơi vào cảnh khốn cùng.
Người được hào này khi làm việc phải chú ý: có việc có thể làm, khi thuận, địa lợi, nhân hòa, bản thân lại có năng lực thì đương nhiên nên làm không chút do dự. Có việc không thể làm, bản thân cũng không đủ năng lực; dù trước mặt có núi vàng núi bạc cũng không được làm. Nếu chỉ tham vinh hoa phú quý mà không xét mình có thể hay không, tất sẽ xảy ra tai họa. Gặp tình huống ấy, việc nên bỏ thì phải bỏ, nhất định phải khống chế lòng tham, đừng chỉ mải đuổi theo con mồi mà không xét hoàn cảnh của mình.
Lục Tam ở vị trí cao nhất của quái Chấn, mà Chấn là hành động. Ở vị trí cao nhất, Lục Tam khó tránh biểu hiện hành động quá mức; đi thêm lên trên sẽ vào quái Khảm, Khảm là hiểm, phía trước có nguy hiểm. Vì vậy hào từ dùng một ví dụ hết sức sinh động để đưa ra lời khuyên rất xác đáng. Người quân tử đuổi theo một con hươu vào rừng, một khu rừng xa lạ. Vì nóng lòng muốn có con hươu, ông đi săn mà không có quan săn giàu kinh nghiệm, nên đối mặt nguy cơ lạc đường. Phải làm gì: tiếp tục đuổi hay từ bỏ? Người quân tử này sáng suốt và chọn từ bỏ.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Hào Lục Tứ: Cưỡi ngựa quay vòng tại chỗ, tìm cầu hôn nhân. Tiến lên thì tốt lành, không gì bất lợi.
Tượng truyện nói: Cầu mà tiến lên là sáng suốt.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tứ: Lái xe ngựa quay vòng tại chỗ, đây là tìm cầu hôn phối. Mạnh dạn tiến lên thì chắc chắn tốt lành.
Tượng truyện nói: Dám cầu tìm, dũng cảm tiến sâu vì người ấy hiểu rõ tình thế.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này mưu việc có thể thành, trăm việc hòa hợp, được bạn bè giúp đỡ, đại cát đại lợi. Người làm quan sẽ danh tiếng hiển hách, có cơ hội thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thuận thế mà làm, sẽ phát triển lớn.
Tài vận: Thấy rõ lợi ích, ắt sẽ có thu hoạch.
Gia trạch: Hôn nhân tốt lành.
Sức khỏe: Tuân theo lời dặn của bác sĩ.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Hào Lục Tứ biến thành quẻ thứ 17 của Chu Dịch: Trạch Lôi Tùy. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Đoài ở trên chồng lên nhau. Chấn là sấm, là động; Đoài là vui. Động mà vui chính là “Tùy”. Tùy nghĩa là thuận theo lẫn nhau: mình tùy theo vật, vật có thể tùy theo mình, đôi bên giao tiếp với nhau. Tùy tất phải nương thời thuận thế, có nguyên tắc và điều kiện, lấy sự kiên trinh làm tiền đề.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Người được hào này phải học cách thấy thời cơ mà hành động. Nếu không có trợ thủ đắc lực hoặc sự ủng hộ của lãnh đạo, bản thân lại không giỏi việc ấy thì hãy từ bỏ, đừng làm. Nếu mình không phải người tài trong một lĩnh vực mà vẫn cố làm nên việc thuộc lĩnh vực đó, chẳng những việc không thành mà còn chuốc lấy tai họa.
Tượng truyện phân tích hào này như sau: “Đuổi hươu mà không có người dẫn đường là đi theo thú săn. Người quân tử bỏ nó; tiến tới sẽ hổ thẹn và rơi vào cảnh cùng quẫn.”
Câu này có nghĩa là: Đuổi hươu rừng mà không có quan săn dẫn dắt chỉ là vì tham con thú mà chạy theo nó. Người quân tử nên bỏ đi; nếu tiếp tục đuổi sẽ gặp khó khăn, thậm chí rơi vào cảnh khốn cùng.
Người được hào này khi làm việc phải chú ý: có việc có thể làm, khi thuận, địa lợi, nhân hòa, bản thân lại có năng lực thì đương nhiên nên làm không chút do dự. Có việc không thể làm, bản thân cũng không đủ năng lực; dù trước mặt có núi vàng núi bạc cũng không được làm. Nếu chỉ tham vinh hoa phú quý mà không xét mình có thể hay không, tất sẽ xảy ra tai họa. Gặp tình huống ấy, việc nên bỏ thì phải bỏ, nhất định phải khống chế lòng tham, đừng chỉ mải đuổi theo con mồi mà không xét hoàn cảnh của mình.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Hào Cửu Ngũ: Tích trữ thịt béo. Bói việc nhỏ thì tốt, bói việc lớn thì xấu.
Tượng truyện nói: Tích trữ thịt béo nghĩa là việc ban phát chưa được rộng khắp.
Giải thích bằng văn nói
Hào Cửu Ngũ: Tích trữ thịt béo. Gặp hào này, hỏi việc nhỏ thì cát, hỏi việc lớn thì hung.
Tượng truyện nói: “Tích trữ thịt béo” nghĩa là việc bố thí chưa được mở rộng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này khi mưu việc chớ nóng vội. Việc nhỏ có thể thành, việc lớn thì vô vọng, thậm chí còn chuốc lấy hung họa.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không có người đề bạt, tạm thời chưa có hy vọng.
Tài vận: Buôn bán nhỏ còn có thể có lãi, buôn bán lớn thì hung.
Gia trạch: Tích tụ tiền của làm tổn hại hòa khí.
Sức khỏe: Bệnh mới phát thì có thể chữa, bệnh lâu ngày thì nguy hiểm.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Hào Cửu Ngũ biến thành quẻ thứ 24 của Chu Dịch: Địa Lôi Phục. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Chấn là sấm, là động; Khôn là đất, là thuận. Động thì thuận, thuận theo tự nhiên. Động trong thuận, trong Dương ngoài Âm, vận hành tuần tự, tiến lui tự tại, có lợi cho tiến lên.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Xét từ tượng quẻ, Lục Tứ là hào Âm ở vị trí Nhu, được đúng vị. Người được hào này nếu muốn cầu hôn thì không cần chần chừ, lo người kia không thích mình hoặc bị từ chối; thà mạnh dạn tiến tới theo đuổi. Dù quá trình có vẻ khó khăn, trắc trở, nhưng rất cát lợi, không có nhiều trở ngại như tưởng tượng.
Tượng truyện nói: Cầu mà tiến lên là sáng suốt.
Câu này nghĩa là: Kiên định không lay chuyển mà theo đuổi là hành động sáng suốt.
Hào này thuộc quẻ Truân, ví như thời kỳ sự vật mới sinh, đối mặt với khó khăn là điều tất nhiên. Tuyệt đối không vì thế mà nản chí, dừng bước hay từ bỏ theo đuổi. Vì vậy hãy gạt bỏ lo âu và mạnh dạn theo đuổi.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ ba Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Hào Thượng Lục: Cưỡi ngựa quay vòng tại chỗ, khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi như máu.
Tượng truyện nói: Khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn như máu; cảnh tượng ấy sao có thể kéo dài?
Giải thích bằng văn nói
Hào Thượng Lục: Lái xe ngựa quay vòng tại chỗ, khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi.
Tượng truyện nói: Khóc không thành tiếng, nước mắt tuôn rơi; cảnh ấy sao có thể kéo dài?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này gia đạo suy sụp, phải đề phòng tổn thất. Người làm quan phải cẩn thận lời gièm pha của kẻ tiểu nhân.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Phía trước không có đường đi, giữ mạng sống là điều cốt yếu.
Tài vận: Do dự không quyết đoán, mất hết cơ hội tốt.
Gia trạch: Gia đạo suy sụp.
Sức khỏe: Chứng thổ huyết, hung.
Quẻ biến của hào Thượng Lục
Hào Thượng Lục biến thành quẻ thứ 42 của Chu Dịch: Phong Lôi Ích. Đây là quẻ dị, do Chấn ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Tốn là gió; Chấn là sấm. Gió sấm kích động lẫn nhau, thế càng mạnh; sấm càng vang, gió sấm cùng trợ giúp và tăng trưởng cho nhau. Quẻ này trái với quẻ Tổn: giảm ở trên để làm lợi cho dưới, còn quẻ Tổn giảm ở dưới để làm lợi cho trên. Hai quẻ nêu rõ nguyên tắc tổn ích.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Ta biết trong Kinh Dịch, vị Cửu Ngũ được tôn quý. Cửu Ngũ nằm trong quái Khảm, Khảm tượng trưng cho mây. Mây là những giọt nước tụ lại nhưng chưa chuyển thành mưa, vì thế nói “tích trữ thịt béo”. Nếu thiên tử được quẻ này, điều đó cho thấy ân trạch của thiên tử chưa được ban rộng khắp. Thiên tử phải hiểu đạo biết giữ biết cho: tích trữ ít của cải cho mình, ban phát nhiều cho dân thì cát; ngược lại thì hung.
Tượng truyện nói: “Tích trữ thịt béo” nghĩa là việc ban phát chưa được tỏa sáng rộng khắp.
Điều này chỉ ra rằng người chỉ lo tích trữ của cải cho mình mà không quan tâm giúp đỡ người khác, dù muốn làm nên việc gì thì tiền đồ cũng không sáng sủa.
Nếu người bình thường được quẻ này, phải hiểu đạo lấy bỏ. Chỉ lo tích trữ của cải cho mình mà không quan tâm giúp đỡ người khác là rất nguy hiểm. Làm như vậy, việc nhỏ còn có thể thành công, nhưng việc lớn tất nhiên sẽ xuất hiện hung hiểm. Vì vậy, đừng chỉ chăm chăm vào túi tiền của mình; hãy “ban rộng ân trạch”, hiểu đạo xả bỏ thì mới tránh hung hướng cát.