Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 8, quẻ Tỷ, Thủy Địa Tỷ, Khảm trên Khôn dưới

Tỷ: Cát. Gieo lại quẻ, giữ được chính đạo lớn lao và lâu dài thì không lỗi. Những nơi chưa yên sẽ tìm đến; người đến sau gặp hung.

Thoán truyện nói: “Tỷ là cát. Tỷ là giúp đỡ, bên dưới thuận theo. Gieo lại quẻ, giữ được chính đạo lớn lao và lâu dài thì không lỗi” là vì có cái cứng ở giữa. “Những nơi chưa yên sẽ tìm đến” là vì trên dưới ứng nhau. “Người đến sau gặp hung” là vì con đường của họ đã cùng tận.

Tượng truyện nói: “Trên đất có nước, đó là Tỷ.” Các bậc tiên vương noi theo tượng ấy mà dựng lập muôn nước, thân cận với chư hầu.

Sơ đồ quẻ 8: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 8 — nguyên văn và tổng quan

"周易第dog卦的本卦,互卦,错卦,和综卦的卦图

Giải thích chi tiết quẻ thứ tám Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Tỷ
Tỷ. Cát. Gieo lại quẻ, giữ được chính đạo lớn lao và lâu dài thì không lỗi. Những nơi chưa yên sẽ tìm đến; người đến sau gặp hung.
Tượng truyện nói: “Trên đất có nước, đó là Tỷ.” Các bậc tiên vương noi theo tượng ấy mà dựng lập muôn nước, thân cận với chư hầu.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Tỷ: Cát lợi. Gieo quẻ lại vẫn đại cát đại lợi. Hỏi về cát hung lâu dài cũng không có tai họa. Các nước không muốn thần phục sẽ đến chầu; kẻ chậm trễ không đến sẽ gặp nạn.
Tượng từ nói: Quái dưới là Khôn, quái trên là Khảm; Khôn tượng đất, Khảm tượng nước, giống như trên đất có nước, đó là tượng quẻ Tỷ. Các bậc tiên vương quan sát tượng ấy, noi theo hình ảnh nước nương vào đất, đất tiếp nhận sông ngòi biển cả, mà phong lập muôn nước và thân cận với chư hầu.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Tỷ có Khảm trên, Khôn dưới, thuộc quẻ Quy hồn của cung Khôn. Tỷ có nghĩa là thân cận, nương tựa lẫn nhau; duy trì lâu dài như vậy thì không lỗi, nên là điềm lành.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Nước chảy trên mặt đất, thân cận vui vẻ; tình người hòa thuận, mọi việc không lo.
Người được quẻ này có thể nhận sự giúp đỡ của bạn bè và sức mạnh của mọi người, mưu việc thành công, vinh hiển đến tột bậc.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Được mọi người chúc mừng, vinh hiển đến tột bậc.
Tài vận: Được người tốt nâng đỡ, phát tài lớn.
Nhà cửa: Hôn nhân hòa hợp trăm năm.
Sức khỏe: Tim và bụng bị phù, nên sớm tìm cách chữa trị.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị, Khôn ở dưới, Khảm ở trên; Khôn tượng đất, Khảm tượng nước. Nước nương vào đất, đất tiếp nhận sông biển, đôi bên nương tựa lẫn nhau, thân thiết không rời. Quẻ này hoàn toàn đối lập với quẻ Sư, là quẻ tổng của nhau. Nó trình bày đạo lý thân cận và trợ giúp lẫn nhau, khoan dung vô tư, đoàn kết chân thành.
Đại tượng: Một dương thống lĩnh năm âm; láng giềng thân cận, hỗ trợ nhau, là tượng hòa vui.
Vận thế: Bình thuận, có thể được quý nhân đề bạt. Mọi việc nên quyết định nhanh chóng, không được do dự quá mức.
Sự nghiệp: Thuận lợi, có thể thành công và phát triển về phía trước; có thể nhận được sự giúp đỡ, phụ tá của người khác. Hãy làm việc bằng thái độ chân thật, tin cậy; đối đãi với người khoan hậu, chính trực, chủ động nhiệt tình, học hỏi người có tài đức cao và lắng nghe lời khuyên.
Kinh doanh: Nguyện vọng có thể thành hiện thực, lợi nhuận cũng khá dồi dào, nhưng cần hợp tác chặt chẽ với người khác, giao tiếp chân thành, coi trọng đạo đức kinh doanh và giữ chữ tín. Nếu chỉ ham lợi, tham lam không biết đủ hoặc tự cho mình là đúng, sẽ dẫn đến tổn thất nghiêm trọng.
Cầu danh: Có hy vọng thành công; không chỉ nhờ nỗ lực cá nhân mà quan trọng hơn là được người khác đánh giá cao và bồi dưỡng.
Hôn nhân tình cảm: Duyên lành, yêu thương nhau, chung thủy với nhau, cùng sống đến bạc đầu.
Quyết định: Tâm địa lương thiện, đối xử trung thành, chân hậu với người, vui lòng giúp đỡ người khác và cũng nhận được hồi báo. Làm việc cần mẫn, nghiêm khắc với bản thân nên có thể thực hiện lý tưởng. Tuy nhiên phải suy nghĩ nhiều hơn, biết phán đoán đúng sai, đặc biệt chú ý lựa chọn bạn bè. Nếu kết giao với người phẩm hạnh không tốt, họ sẽ trở thành tai họa cho mình. Nếu kết bạn với người giỏi giang hơn và nhận được sự giúp đỡ, sẽ hưởng lợi suốt đời.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ tám

“Tỷ”, theo nghĩa gốc của chữ, là cùng nhau đến gần. Hình chữ biểu thị hai người áp sát, đứng kề nhau, như cảnh nối tiếp san sát.
Tỷ không chỉ nói về sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa người với người, mà còn chỉ quan hệ giữa các quốc gia. Chẳng hạn trong thiên Hạ quan, chương Tư phương thị của Chu lễ có câu “nước lớn thân cận nước nhỏ”, nghĩa là nước lớn kết thân với nước nhỏ. Nhưng với tư cách quẻ Tỷ, đây là quẻ bàn về quan hệ láng giềng và việc lập liên minh bằng thân phụ hoặc chinh phạt.
Quẻ Tỷ đứng sau quẻ Sư. Tự quái truyện giải thích: “Đám đông ắt có chỗ thân cận, nên tiếp đến là Tỷ.” Sư có nghĩa là đông người; người đông thì tất sẽ thân cận nhau, vì vậy sau đó là quẻ Tỷ. Tạp quái truyện nói: “Tỷ vui, Sư lo”, nghĩa là quẻ Tỷ biểu thị niềm vui, còn quẻ Sư biểu thị buồn khổ.
Tượng truyện nói: “Trên đất có nước, đó là Tỷ.” Các bậc tiên vương noi theo tượng ấy mà dựng lập muôn nước, thân cận với chư hầu.
Quái trên của quẻ Tỷ là Khảm, tượng nước; quái dưới là Khôn, tượng đất. Trên đất có nước, đó là tượng quẻ Tỷ. Nước chuyển động trên mặt đất, đất nhờ có nước mà ẩm nhuận, có thể nuôi dưỡng muôn vật. Điều này giống như quân vương tuần hành bốn phương, ban ân trạch khắp nơi; dân chúng và quân vương đồng lòng, cùng nhau phò tá nhà vua, còn nhà vua thì ở trong lúc yên vẫn nghĩ đến nguy, nghiêm cẩn trị quốc. Có thể thấy quẻ này quả thật tràn đầy vui mừng.

Quẻ 8 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ cửu của quẻ thứ tám Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục: Lấy lòng thành mà thân cận, không lỗi. Lòng thành đầy tràn như đầy vò, cuối cùng sẽ có điều cát lành bất ngờ.
Tượng truyện nói: “Tỷ ở Sơ lục” là sẽ có điều cát lành bất ngờ.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Bắt được tù binh rồi vỗ về họ, không có tai họa. Bắt được tù binh thì dùng rượu và thức ăn đầy chậu đầy vò tiếp đãi. Tuy có thể gặp họa bất ngờ, cuối cùng vẫn cát lợi.
Tượng từ nói: Gieo được hào Sơ lục, tuy có thể gặp họa bất ngờ nhưng cuối cùng vẫn cát lợi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này sẽ gặp tri kỷ, mưu việc như ý. Người làm quan có niềm vui bất ngờ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Giao tiếp chân thành, danh tiếng ngày càng vang xa.
Tài vận: Tín dụng nổi bật, lợi ích tự đến.
Nhà cửa: Khu dân cư hòa thuận; việc hôn nhân cũng thuận hòa.
Sức khỏe: Bình an vô sự.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Sơ lục động, được quẻ thứ 3 của Chu Dịch: Truân, Thủy Lôi Truân. Đây là quẻ dị, Chấn ở dưới và Khảm ở trên. Chấn tượng sấm, chủ động; Khảm tượng mưa, chủ hiểm. Sấm mưa cùng đến, điềm hiểm nguy khắp nơi, hoàn cảnh khắc nghiệt. “Truân” vốn chỉ cây cỏ nảy mầm từ mặt đất, muôn vật bắt đầu sinh, đầy gian nan trở ngại; nhưng thuận thời ứng vận thì nhất định sẽ sinh trưởng tốt tươi.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Giải nghĩa hào từ hào thứ nhất của quẻ Tỷ
“Lấy lòng thành mà thân cận”: đó là chính sách dùng sự chân thật và tín nhiệm để hòa thuận với các nước láng giềng hoặc khiến họ đến thân phụ.
“Lòng thành đầy tràn như đầy vò”: “vò” là một loại đồ gốm cổ. Câu này nói lòng chân thật và tín nghĩa tràn đầy như rượu chảy ra khỏi vò.
Sơ lục ở đầu quái Khôn bên dưới, xa Cửu ngũ nhất; lại là hào âm ở vị trí dương, không đúng vị, tượng cho tư chất mềm yếu. Phía trên nó ứng với Lục tứ, nhưng đó là quan hệ đối địch. Trong tình thế này, nó phải kết giao bạn bè và nương tựa thế lực mạnh hơn. Các hào âm trong quẻ Tỷ đều tin cậy và theo Cửu ngũ dương hào. Sơ lục kết thành mối thân cận với Cửu ngũ, đặc biệt cát tường.
Người được hào này có ham muốn thành công rất mạnh, cố chấp theo đuổi lợi ích vật chất thực tế, nhưng bản tính mềm yếu, năng lực hạn chế, nên rất thích xử thế bằng cách nương tựa lẫn nhau. Tuy vậy phải đặc biệt chú ý đến chữ tín, lấy lòng thành đối đãi với người và xử lý công việc thì mới đạt mục đích. Trong quan hệ giữa người với người, lòng tin giữ vị trí hàng đầu; vì thế người đời sau nói: “Người không trung tín thì không thể đứng trong cõi đời.”
Người được hào này, dù muốn nương tựa người khác hay muốn người khác nương tựa mình, đều phải dựa vào lòng tin. Thân cận bằng tấm lòng chân thành thì cuối cùng mới đạt được cát tường.
Sơ lục ở tầng thấp nhất của quẻ Tỷ; nói nghiêm túc thì vẫn chưa thể phò tá ai, chỉ có thể kết giao rộng rãi. Vì những người bạn ấy cũng một lòng phò tá Cửu ngũ như mình, nên Sơ lục sẽ nhận được điều cát lành bất ngờ.
Giải thích chi tiết hào Cửu nhị của quẻ thứ tám Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục nhị: Thân cận từ bên trong, giữ chính thì cát.
Tượng truyện nói: “Thân cận từ bên trong” là không tự đánh mất mình.
Giải thích bằng văn nói
Lục nhị: Bên trong hòa thuận đoàn kết, gieo quẻ được điềm lành.
Tượng từ nói: Bên trong hòa thuận đoàn kết thì sẽ không mất lòng dân.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này được quý nhân giúp đỡ, mưu việc toại ý. Người làm quan không mắc sai lầm, bình an mà hanh thông. Người học có thể thành danh. Nữ mệnh sẽ gặp người chồng hiền đức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thực đến danh về, tự nhiên cát tường.
Tài vận: Đồng tâm hiệp lực, có thể mong thu lợi.
Nhà cửa: Tình thân càng thêm gắn bó.
Sức khỏe: Tâm bình khí hòa thì bệnh có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục nhị động, được quẻ thứ 29 của Chu Dịch: Khảm vi Thủy. Đây là quẻ đồng, Khảm ở dưới và Khảm ở trên. Khảm tượng nước, hiểm; hai Khảm chồng lên nhau là hiểm chồng hiểm, trở ngại trùng trùng. Một hào dương sa vào giữa hai hào âm. May thay âm hư, dương thực, lòng thành có thể khai thông. Dù hiểm nguy chồng chất, chính trong hoàn cảnh ấy ánh sáng nhân tính mới được bộc lộ.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Xét về tượng quẻ, Lục nhị ở đúng giữa quái Khôn bên dưới. Tuy bản tính mềm yếu nhưng ở vị trí mềm, được vị, nên là người lãnh đạo trong quái dưới. Do tính âm và ở giữa, giữ chính, người lãnh đạo này không dùng cách bá đạo mà dẫn đầu việc thân cận, hỗ trợ mọi người; đồng thời với tư cách quái dưới, lại cố gắng thân phụ vị quân vương ở Cửu ngũ. Kết quả như vậy rất cát tường.
Người được hào này, nếu là lãnh đạo một bộ phận, cần đoàn kết toàn bộ bộ phận rồi hết lòng phục vụ công ty hoặc tổ chức.
Nếu không có người bạn đáng kết giao hay người lãnh đạo đáng nương tựa, chi bằng ở nhà đối thoại với chính lòng mình, như vậy sẽ không bị tổn thất. Nếu muốn kết giao hoặc nương tựa một người nào đó, nhất định phải xuất phát từ nội tâm, giữ động cơ trong sáng, như vậy sẽ cát tường.
Lục nhị ở giữa quái dưới, vừa được trung vừa được vị, lại ứng với Cửu ngũ nên cát. Ở địa vị ngang hàng đại phu, người này có thể làm tốt việc đoàn kết nội bộ giai cấp thống trị, giữ vững chính đạo, một lòng phò tá quân vương ở Cửu ngũ, nên không chịu tổn thất nào.
Giải thích chi tiết hào Cửu tam của quẻ thứ tám Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục tam: Thân cận với kẻ không nên thân cận.
Tượng truyện nói: “Thân cận với kẻ không nên thân cận”, chẳng đáng đau lòng sao?
Giải thích bằng văn nói
Lục tam: Cấu kết với phường xấu xa.
Tượng từ nói: Cấu kết với phường xấu xa, chẳng đáng buồn sao?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này kết bạn không thận trọng, có thể gặp tranh tụng, mất tiền, bị hình phạt hoặc thương tích. Người làm quan phải đề phòng bất hòa với đồng liêu gây ra trắc trở. Nữ mệnh có thể lấy phải người không tốt, tượng trưng cho cảnh tan nhà mất thân; nếu không thì cũng có thể tranh chấp, hao tài.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Giao du không chính đáng, danh tiếng tan vỡ.
Tài vận: Gửi gắm nhầm người, tổn hao khó tránh.
Nhà cửa: Thận trọng trong hôn nhân để tránh ân hận.
Sức khỏe: Tìm một thầy thuốc giỏi hơn.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục tam động, được quẻ thứ 39 của Chu Dịch: Kiển, Thủy Sơn Kiển. Đây là quẻ dị, Cấn ở dưới và Khảm ở trên. Khảm tượng nước, Cấn tượng núi. Núi cao nước sâu, khó khăn chồng chất; trước hiểm trở của đời người, thấy nguy thì dừng, biết bảo toàn bản thân một cách sáng suốt, đó là trí tuệ. Kiển nghĩa là bước đi gian nan.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Giải nghĩa hào từ hào thứ ba của quẻ Tỷ
“Kẻ không nên thân cận”: chữ “phi” đồng nghĩa với “không”. Chỉ việc giao du với người không đúng, muốn thân cận nhưng không gặp đúng người, hoặc thân cận với người không nên thân cận.
Ý nghĩa của hào này là: đã thân cận với người không nên thân cận.
Trong quẻ Tỷ, Lục tam rất dễ kết giao với bạn bè không chính đáng. Xét về tượng quẻ, nó ở cuối Khôn mà chưa bước vào Khảm bên trên. Lục tam nằm trong quái hỗ Cấn; Cấn chủ dừng, không còn đường đi. Nó đối địch với Thượng lục, không tương ứng với nhau, kết quả trở thành không nơi nương tựa, không tìm được người để dựa vào. Trong tình thế ấy, rất có thể nó sẽ giao du với người không thích hợp.
Tượng truyện nói: “Thân cận với kẻ không nên thân cận”, chẳng đáng đau lòng sao?
Ý nói: Thân cận với người không thích hợp sẽ khiến người ta đau buồn.
Người được hào này cần xem xét cấp trên hay lãnh đạo mà mình nương tựa có thật sự là người đúng đắn hay không. Trong sinh hoạt thường ngày, không nên thân cận với người hành vi bất chính, không giao du với người không chính trực, không phò tá người có tâm địa xấu, cũng không nên so bì với người khác về ăn mặc, ăn uống, chỗ ở và đi lại.
Lục tam khác Lục nhị. Nó không thể ứng với Cửu ngũ vì bị Lục tứ ngăn cách, cũng không thể ứng với Thượng lục vì đồng tính tương khắc; trước mặt lại là quái Khảm, tượng nguy hiểm và bọn trộm cướp. Vì vậy hào từ của Lục tam nói “Thân cận với kẻ không nên thân cận”, và kết quả có thể đoán được—chẳng đáng đau lòng sao!
Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ tám Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ: Thân cận với bên ngoài, giữ chính thì cát.
Tượng truyện nói: “Ở bên ngoài thân cận với người hiền” là đi theo người ở trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Liên minh, thân thiện với nước ngoài, gieo quẻ được điềm lành.
Tượng từ nói: Thân cận với minh quân ở bên ngoài cũng như bề tôi thuận phục người ở trên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này ra ngoài có lợi, được nhiều sự trợ giúp của tri kỷ, mọi việc thuận lợi. Người làm quan có niềm vui thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Được người khác trọng vọng, công danh có thể trông đợi.
Tài vận: Hàng hóa lưu thông, lợi nhuận tự đến.
Nhà cửa: Gia đình hòa thuận; kết hôn với người ở nơi khác thì tốt.
Sức khỏe: Tăng cường vận động ngoài trời.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục tứ động, được quẻ thứ 45 của Chu Dịch: Tụy, Trạch Địa Tụy. Đây là quẻ dị, Khôn ở dưới và Đoài ở trên. Khôn tượng đất, thuận; Đoài tượng đầm, nước. Đầm tràn ngập nhấn chìm mặt đất, người đông tranh đấu lẫn nhau, nguy cơ rình rập khắp nơi. Cần thuận theo Trời, dùng người hiền, lo xa phòng ngừa, mềm mỏng và hòa vui, để đôi bên bổ trợ cho nhau, an cư lạc nghiệp. Tụy nghĩa là tụ tập, đoàn kết.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Trong quẻ Tỷ, Lục tam rất dễ kết giao với bạn bè không chính đáng. Xét về tượng quẻ, nó ở cuối Khôn mà chưa bước vào Khảm bên trên. Lục tam nằm trong quái hỗ Cấn; Cấn chủ dừng, không còn đường đi. Nó đối địch với Thượng lục, không tương ứng với nhau, kết quả trở thành không nơi nương tựa, không tìm được người để dựa vào. Trong tình thế ấy, rất có thể nó sẽ giao du với người không thích hợp.
Ý nghĩa của hào này gần với việc Quan Vũ nương náu dưới trướng Tào Tháo trong Tam quốc diễn nghĩa. Khi ấy Tào Tháo dẫn quân đánh Lưu Bị; Quan Vũ trấn giữ căn cứ Hứa Châu của Lưu Bị, còn Lưu Bị và Trương Phi giữ thành Tiểu Bái ở tiền tuyến. Lưu Bị thất trận chạy đến nương nhờ Viên Thiệu, Trương Phi chạy xuống phía nam hòa vào một nhóm thổ phỉ. Sau khi Tiểu Bái thất thủ, Quan Vũ một mình giữ Hứa Châu rồi bị bao vây, không còn đường lui nên buộc phải đầu hàng Tào Tháo. Tuy nhiên Quan Vũ biết mình đang “thân cận với kẻ không nên thân cận”, nên luôn dò hỏi tin tức Lưu Bị. Biết được nơi Lưu Bị ở, ông rời Tào Tháo. Người được quẻ này nhất định phải đặc biệt thận trọng khi kết giao bạn bè.
Tượng truyện nói: “Thân cận với kẻ không nên thân cận”, chẳng đáng đau lòng sao?
Ý nói: Thân cận với người không thích hợp sẽ khiến người ta đau buồn.
Người được hào này cần xem xét cấp trên hay lãnh đạo mà mình nương tựa có thật sự là người đúng đắn hay không. Trong sinh hoạt thường ngày, không nên thân cận với người hành vi bất chính, không giao du với người không chính trực, không phò tá người có tâm địa xấu, cũng không nên so bì với người khác về ăn mặc, ăn uống, chỗ ở và đi lại.
Lục tam khác Lục nhị. Nó không thể ứng với Cửu ngũ vì bị Lục tứ ngăn cách, cũng không thể ứng với Thượng lục vì đồng tính tương khắc; trước mặt lại là quái Khảm, tượng nguy hiểm và bọn trộm cướp. Vì vậy hào từ của Lục tam nói “Thân cận với kẻ không nên thân cận”, và kết quả có thể đoán được—chẳng đáng đau lòng sao!
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ tám Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu ngũ: Thân cận một cách rõ ràng. Nhà vua săn bắn bằng cách vây đuổi ba mặt, chừa một mặt, để con thú phía trước chạy thoát. Dân trong ấp không sợ hãi. Cát.
Tượng truyện nói: “Cái cát của sự thân cận rõ ràng” là vì vị trí chính giữa và đúng đắn. Bỏ kẻ chống nghịch, lấy người thuận theo, nên mới có câu “để con thú phía trước chạy thoát”. Dân trong ấp không bị cảnh giới vì người ở trên biết dùng trung đạo.
Giải thích bằng văn nói
Cửu ngũ: Hòa hợp rộng khắp. Nhà vua săn bằng cách vây đuổi ba mặt, chừa một mặt, cố ý để thú đang chạy trốn thoát. Dân chúng không hề sợ cuộc săn của nhà vua. Gieo được hào này là cát.
Tượng từ nói: Sự hòa hợp rộng khắp là cát vì hào Cửu ngũ ở vị trí giữa của quái trên, giống như người giữ đạo trung chính. Để kẻ chạy về phía trước trốn thoát, bắt kẻ chạy ngược về phía mình, đó là lý do có câu “để con thú phía trước chạy thoát”. Dân chúng không sợ cuộc săn của nhà vua vì nhà vua thường ngày hành xử chính trực.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này sẽ từ nghịch chuyển sang thuận, mưu việc thành công, đi đâu làm gì cũng không bất lợi. Người làm quan được vinh hiển lớn. Người học đạt thành tích xuất sắc trong thi cử.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đối xử tốt với người khác, về sau vẫn có cát lành.
Tài vận: Không tham lợi nhỏ, về sau sẽ có dư dả.
Nhà cửa: Hòa thuận là thích hợp nhất.
Sức khỏe: Thuốc đã có hiệu quả, không cần quá lo lắng.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Cửu ngũ động, được quẻ thứ 2 của Chu Dịch: Khôn vi Địa. Đây là quẻ đồng, Khôn ở dưới và Khôn ở trên, mang tính âm. Nó tượng trưng cho đất, đối lập với Càn, thuận theo Trời, nâng đỡ muôn vật và mở rộng vô cùng tận. Khôn lấy ngựa cái làm tượng, biểu thị đạo đất sinh thành, nuôi dưỡng muôn vật, đồng thời nương theo Trời, thuận thời, tính tình mềm thuận. “Trước mê sau được” chứng minh rằng Khôn phải thuận theo, nương theo Càn thì mới nắm được phương hướng đúng, theo chính đạo và đạt cát lợi.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ



Ý nghĩa của hào này là: thân cận một cách quang minh chính đại. Theo nhà vua ra đồng săn bắn, vây đuổi từ ba phía, chừa một phía, nhìn con thú chạy qua phía được mở mà không bận tâm; thuộc hạ của nhà vua cũng không cảnh giới. Cát.
Xét về tượng quẻ, Cửu ngũ là hào dương ở vị trí cứng, lại ở ngôi quân chủ, cho thấy quân vương có thể giữ trung, giữ chính. Các hào sơ, nhị, tam, tứ bên dưới đã tự nguyện quy phục, là “người trong ấp” của Cửu ngũ. Còn Thượng lục không muốn quy phục thì không cưỡng ép, để thuận theo tự nhiên.
Tượng truyện nói: Cái cát của “sự thân cận rõ ràng” là vì vị trí chính giữa và đúng đắn; bỏ kẻ chống nghịch, lấy người thuận theo, nên mới có câu “để con thú phía trước chạy thoát”; dân trong ấp không bị cảnh giới vì người ở trên biết dùng trung đạo.
Người gieo được quẻ này, khi giao du với bạn bè hoặc xử lý các vấn đề quan hệ giữa người với người, nên tuân theo nguyên tắc thuận theo tự nhiên. Người muốn rời xa mình thì không được cưỡng ép giữ lại, hãy để họ vui vẻ ra đi. Người muốn đi theo hoặc kết giao với mình thì
Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ tám trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục. Kết giao mà không có người đứng đầu thì hung.
Tượng truyện nói: Kết giao mà không có người đứng đầu thì không có chỗ để đi đến cùng.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Kẻ tiểu nhân kết bè làm điều gian, đấu đá ngấm ngầm, không thể hình thành một trung tâm đoàn kết. Đây là việc hết sức nguy hiểm.
Tượng từ nói: Kẻ tiểu nhân kết bè làm điều gian, đấu đá ngấm ngầm, không thể hình thành một trung tâm đoàn kết; đương nhiên sẽ không có kết cục tốt đẹp.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này có thể gặp hình phạt và tai họa, tình người trở nên lạnh nhạt; nghiêm trọng hơn còn e có nguy hiểm đến tính mạng. Người làm quan sẽ mất sự ủng hộ của cấp dưới, hoàn cảnh lâm vào nguy nan.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Lục thần không có chủ, e rằng sẽ gặp hung họa.
Tài vận: Uổng phí tâm cơ, không thu được gì.
Gia trạch: E mất gia chủ; hôn nhân có lai lịch không rõ ràng.
Sức khỏe: Cẩn thận bệnh ở đầu.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第8卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Thượng lục động biến thành quẻ 20 của Chu Dịch: Phong Địa Quán. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Khôn ở dưới và Tốn ở trên; gió thổi trên mặt đất, ví như giáo hóa đạo đức được ban khắp nơi. Quẻ Quán và quẻ Lâm là hai quẻ tổng hỗ tương, được dùng đan xen. Người ở trên dùng đạo nghĩa để quan sát thiên hạ; người ở dưới kính ngưỡng nhìn lên người ở trên. Lòng người vì thế thuận phục và quy theo.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Xét theo hình tượng quẻ, Thượng lục là hào âm ở vị trí mềm, tuy được vị nhưng lại nằm trong quái Khảm ở trên, mà Khảm tượng trưng cho hiểm nguy. Hào âm Thượng lục ở trên hào dương Cửu ngũ, âm lấn át dương, không phục Cửu ngũ, không muốn quy thuận. Kết quả, các hào khác đều quy thuận Cửu ngũ, chỉ Thượng lục cố chấp không đổi, cô độc phiêu bạt bên ngoài, tất nhiên chuốc lấy nguy hiểm.
Người gieo được quẻ này có thể là người cô cao, kiêu ngạo. Trong đơn vị, mọi người đều ủng hộ lãnh đạo và quây quần quanh lãnh đạo, chỉ riêng bạn không phục lãnh đạo, tự mình đi lại. Nếu vậy, bạn vừa không được lãnh đạo coi trọng, vừa không có sự giúp đỡ của bạn bè, hoàn cảnh sẽ vô cùng nguy hiểm.
Người gieo được quẻ này có thể vì không phục lãnh đạo mà cấu kết với người khác để cùng lật đổ lãnh đạo. Nhưng trong số những người cấu kết ấy lại không ai thích hợp làm lãnh đạo, mọi người đều không phục nhau, kết quả tất nhiên thất bại.
Thượng lục ở vị trí cao nhất của quẻ Tỷ. Các hào âm bên dưới đều thân cận với Cửu ngũ, nên Thượng lục không được các hào âm ấy thân cận. Vốn đã ở ngôi cao nhất, lại không thể hạ xuống để thân cận Cửu ngũ, vì vậy hoàn cảnh hết sức hung hiểm. Thượng lục giống như thế lực ngoại vi của nhà Ân Thương. Sau khi Trụ Vương bị diệt, thế lực ngoại vi của ông ta vẫn chưa bị tiêu diệt. Những người ấy tự nhiên cho rằng thân phận mình cao quý hơn Vũ Vương, nên không đến thân cận để phò tá Vũ Vương. Sự nguy hiểm của họ bắt nguồn từ cuộc Đông chinh của Chu Công. Sau khi Vũ Vương qua đời, Chu Công xưng vương; sau khi dẹp yên cuộc loạn của ba người chú, ông thừa thắng Đông chinh, một trận tiêu diệt hơn năm mươi nước chư hầu, quét sạch thế lực ngoại vi của triều Trụ Vương, khiến Tây Chu thực hiện được sự thống nhất thật sự.