Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 29, quẻ Khảm, Khảm là Nước, Khảm trên Khảm

Khảm: Trùng Khảm, có lòng thành. Giữ lòng thì hanh thông. Hành động sẽ được tôn trọng.

Thoán truyện nói: Trùng Khảm là hiểm nguy chồng chất. Nước chảy mà không đầy tràn; đi trong hiểm nguy mà không đánh mất lòng tin. “Giữ lòng thì hanh thông” là nhờ sự cứng mạnh ở trung vị. “Hành động sẽ được tôn trọng” là tiến tới thì có công. Hiểm của trời không thể trèo lên; hiểm của đất là núi, sông, gò, đồi. Vua quan lập chướng ngại để giữ nước. Công dụng của hiểm trong thời thế thích hợp thật lớn lao biết bao!

Tượng truyện nói: Nước liên tiếp kéo đến, đó là Trùng Khảm. Người quân tử nhờ đó thường xuyên giữ đức hạnh và bền bỉ thực hành việc giáo hóa.

Sơ đồ quẻ 29: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 29 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Khảm
Khảm: Trùng Khảm, có lòng thành; giữ lòng thì hanh thông; hành động sẽ được tôn trọng.
Tượng truyện nói: Nước liên tiếp kéo đến, đó là Trùng Khảm. Người quân tử thường xuyên giữ đức hạnh và bền bỉ thực hành việc giáo hóa.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Trùng Khảm: Bắt được tù binh, an ủi và vỗ về họ thì hanh thông. Trên đường sẽ nhận được sự giúp đỡ.
Tượng truyện nói: Khảm là nước; nước chảy dài không ngừng trệ, đó là quẻ tượng của Khảm. Người quân tử xem quẻ tượng ấy, tôn trọng đức hạnh, noi theo hình ảnh dòng nước chảy mãi không dứt và học phương pháp giáo hóa nhân dân.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Khảm có Khảm trên Khảm dưới, là quẻ bản vị của cung Khảm. Khảm tượng cho sự sa vào, cạm bẫy và cảnh hiểm nguy. Lúc này phải giữ vững niềm tin thì mới có thể đột nhiên thông suốt.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Gian nan nguy hiểm, hiểm nguy và vướng mắc chồng chất; việc gì cũng gặp cản trở, nên hành sự thận trọng.
Người được quẻ này vận khí không tốt, nhiều gian nan nguy hiểm, công việc thường bị cản trở; nên thận trọng lời nói, hành động, lui về giữ an toàn.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Từng bước thăng tiến, đồng thời luôn phòng ngừa tai họa.
Tài vận: Tiền tài như nước chảy, việc buôn bán hanh thông.
Gia trạch: Hàng xóm đang xây dựng; kết thông gia càng thêm thân thiết.
Sức khỏe: Bệnh tiêu chảy; nên thành tâm cầu nguyện.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ đồng loại, Khảm dưới Khảm trên chồng lên nhau. Khảm là nước, là hiểm. Hai Khảm trùng nhau, hiểm chồng thêm hiểm, trở ngại lớp lớp. Một hào dương bị hãm giữa hai hào âm. May thay, âm hư mà dương thực, giữ lòng thành thì có thể thông suốt. Tuy hiểm nguy trùng trùng, chính điều đó lại làm nổi bật ánh sáng nhân tính.
Đại tượng: Hai dòng nước chồng lên nhau; nước Khảm tượng cho hiểm nguy, tiến cũng hiểm, lui cũng hiểm, tiến thoái lưỡng nan.
Vận thế: Khủng hoảng chồng chất; nên bình tĩnh ứng phó, giữ tâm trạng cởi mở, mọi việc chớ tranh chấp với người khác.
Sự nghiệp: Lâm vào muôn trùng gian nan hiểm trở, nguy hiểm phát sinh khắp nơi. Không được mạo hiểm liều lĩnh, cũng không thể bó tay chờ chết; cần giữ thái độ tích cực, nỗ lực tạo điều kiện, thay đổi hoàn cảnh, biến nguy thành an. Phải thật lòng và đầy tự tin, không cầu may, không ngại gian nan; nên bình tĩnh quan sát chờ thời, vận dụng trí tuệ vượt qua hiểm cảnh, chuyển nguy thành yên.
Kinh doanh: Rất bất lợi, thậm chí có thể rơi vào cảnh bên bờ phá sản. Tuy vậy, trong lòng phải bình tĩnh, vững vàng, giữ đầu óc tỉnh táo; thân ở nơi hiểm nhưng tâm không được hãm theo. Chớ hành động khinh suất, trước hết tự bảo toàn để quan sát biến đổi, rồi nắm thời cơ thoát hiểm.
Cầu danh: Không được người khác thấu hiểu, có tài mà không gặp thời; tuyệt đối không được tự hủy hoại mình. Giữ nguyên chí nguyện ban đầu, điềm nhiên, tiến từng bước, cuối cùng sẽ được người đời thấu hiểu và phát hiện.
Hôn nhân tình cảm: Nhiều lần gặp bất lợi; nên bình tĩnh phân tích nguyên nhân và chủ động cải thiện điều kiện của bản thân. Hai bên cùng chung sức, đồng cam cộng khổ vượt qua gian nan.
Quyết sách: Bất hạnh, nhưng đây là phép thử trước khi vận chuyển tốt. Chỉ cần không mất bình thường vì cảnh khốn, không cầu may, giữ vững niềm tin và đừng tự đẩy mình vào hiểm cảnh. Bình tĩnh, không hành động khinh suất, nhìn thấu thời cơ, ắt có thể chuyển nguy thành an và lập công thoát hiểm.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ hai mươi chín

Quẻ tượng Khảm và ý nghĩa tượng trưng của Khảm là Nước
Khảm tượng trưng cho nước. Trong Kinh Dịch, ký hiệu của quẻ Khảm là “☵”. Ký hiệu này hình thành từ việc người xưa quan sát những dòng sông cuồn cuộn, thấy dòng chảy mạnh mẽ ở giữa lao đi như mũi tên bắn ra, va tỏa sang hai bên, tạo thành từng lớp sóng và dòng nước khi êm dịu, khi dữ dội. Vì vậy, họ dùng “—” để tượng trưng cho dòng chảy ở giữa, và dùng “—” để tượng trưng cho các nhánh nước hoặc gợn sóng dồn về hai bên. Ghép lại, chúng tạo thành ký hiệu “☵”, tượng trưng cho nước.
Ngoài tượng trưng cho nước, quẻ Khảm còn đại diện cho mặt trăng.
Quẻ Khảm biểu thị trạng thái gian nan và hiểm trở.
Trong sáu mươi tư quẻ, quẻ Khảm là hai quẻ Khảm chồng lên nhau. Khảm là nước, là hiểm; hai Khảm chồng lại thì
hiểm chồng thêm hiểm, trở ngại lớp lớp. Một hào dương bị hãm giữa hai hào âm. May thay, âm hư mà dương thực, giữ lòng thành thì có thể thông suốt. Tuy hiểm nguy trùng trùng, chính điều đó lại làm sáng tỏ vẻ rực rỡ của nhân tính.
Quẻ Khảm đứng sau quẻ Đại Quá. Trong Tự Quái có nói: “Sự vật không thể cứ quá mức mãi, nên sau đó là quẻ Khảm.
Khảm nghĩa là sa vào.” Quẻ Đại Quá hàm ý hành động quá mức; nếu hành động quá mức sẽ rơi vào nguy hiểm, nên tiếp theo mới bàn về quẻ Khảm.
Tượng truyện giải thích quẻ Khảm như sau: Nước liên tiếp kéo đến, đó là Trùng Khảm. Người quân tử thường xuyên giữ đức hạnh và bền bỉ thực hành việc giáo hóa.
Tượng truyện chỉ ra rằng quẻ tượng của Khảm là Khảm ở dưới, Khảm ở trên, biểu hiện của dòng nước chảy. Nước nối tiếp nhau kéo đến, dâng trào như thủy triều; phải lấp đầy vô số hố sâu phía trước mới có thể tiếp tục tiến lên, nên tượng trưng cho gian nan hiểm trở chồng chất. Vì vậy, người quân tử phải kiên trì không ngừng, không gián đoạn thúc đẩy sự nghiệp giáo dục.
Quẻ Khảm gợi mở đạo lý đối diện với hiểm nguy và vận dụng hiểm nguy, thuộc hạ hạ quái. Tượng truyện đoán quẻ này rằng: Một vầng trăng sáng soi xuống nước, chỉ thấy bóng mà chẳng thấy tung tích. Kẻ ngu tưởng là của cải nên lặn xuống lấy, mò mẫm hồi lâu rốt cuộc vẫn trắng tay.
Quẻ này gọi là Khảm. Trong Thuyết Văn, có nói: “Khảm là sa vào.” Có thể thấy nghĩa gốc của Khảm chỉ hố và hang. Nhưng đó cũng là nơi nước lưu lại; “nước chảy xuống, ở nơi thấp”, nên Khảm cũng tượng cho nước. Sự vật không thể mãi mãi thuận lợi mà thông qua, luôn có gập ghềnh ngăn trở, vì thế sau Đại Quá là Khảm. Đây chính là điều Tự Quái truyền nói: “Sự vật không thể cứ quá mức mãi, nên sau đó là Khảm.” Do vậy, Khảm cũng hàm nghĩa hiểm trở và ngăn ngại.
Quẻ họa: Quẻ Khảm gồm bốn hào âm và hai hào dương; hai hào dương lần lượt nằm ở giữa thượng quái và hạ quái.
Quẻ tượng: Xét từ quẻ tượng, quẻ Khảm do hai quẻ Khảm ba hào chồng lên nhau mà thành, tượng trưng cho hết cạm bẫy này đến cạm bẫy khác, hết trở ngại này đến trở ngại khác, hết hiểm nạn này đến hiểm nạn khác. Nước lớn tràn lan, tai họa chồng chất, liên tiếp gặp long đong. Khảm ở thượng quái có thể tượng cho nước trên trời như mưa, sương, băng giá, tuyết, mây, sương mù; đồng thời cũng tượng cho tai họa từ bên ngoài. Khảm ở hạ quái có thể tượng cho nước trong lòng đất như sông, biển, suối, hồ, đầm; đồng thời cũng tượng cho tai họa phát sinh bên trong. Tóm lại, Khảm là trong có lo, ngoài có họa, hiểm nguy không dứt.

Quẻ 29 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ cửu của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục: Trùng Khảm, rơi vào hố sâu trong hố. Hung.
Tượng truyện nói: Trùng Khảm mà rơi vào Khảm là mất đạo, nên hung.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Trong hố Khảm lại có hố Khảm, rơi vào những hố sâu chồng chất, nguy hiểm.
Tượng truyện nói: “Trong hố Khảm lại có hố Khảm, rơi vào hố chồng hố” nghĩa là không đi đường bằng phẳng mà cứ khăng khăng chọn đường hiểm, ắt chuốc lấy tai họa.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này thời vận không tốt, nên đề phòng rơi vào cạm bẫy hay tai họa. Người làm quan phải đề phòng tiểu nhân.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cầu danh nhờ may rủi, trái lại còn bị tổn hại.
Tài vận: Buôn bán thất lợi, tiền ra mà không trở lại.
Gia trạch: Nhà cửa bất an; hôn nhân nên thận trọng.
Sức khỏe: Chữa trị không đúng, tình hình nguy cấp.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ lục biến, được quẻ số 60 trong Chu Dịch: Thủy Trạch Tiết. Đây là quẻ dị, Đoài ở dưới và Khảm ở trên. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có sức chứa nước hữu hạn, quá nhiều sẽ tràn ra ngoài. Vì vậy cần có tiết độ, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết đối lập với quẻ Hoán, là “quẻ tổng” của nhau và được dùng đan xen. Trời đất có tiết độ mới luôn đổi mới; quốc gia có tiết độ mới yên ổn; cá nhân có tiết độ mới hoàn thiện.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào đầu của quẻ Khảm, hào từ: Sơ lục: Trùng Khảm, rơi vào hố sâu trong hố, hung. Giải thích hào từ
Trùng Khảm, như ta biết, là hai Khảm chồng lên nhau. “Đàm” chỉ hố nhỏ hoặc hố sâu trong Khảm, cũng chỉ hang động nói chung. “Rơi vào hố sâu trong hố” nghĩa là rơi vào Khảm trong Khảm. Sơ lục là hào âm ở vị trí dương, nên không được đúng vị; phía trên lại là dương, bản thân yếu mềm, không có viện trợ ở trên lẫn dưới, đó là mất đạo, nên hung.
Giải thích hào từ là: Sơ lục giữa muôn trùng hiểm trở đã rơi vào cạm bẫy, sẽ gặp tai họa.
Tượng truyện nói: “Trùng Khảm mà rơi vào Khảm”, mất đạo thì “hung”. Câu này nghĩa là trong hai lớp nguy hiểm lại gặp thêm nguy hiểm, nếu trong hành vi đánh mất chính đạo thì tất nhiên sẽ gặp hung hiểm.
Hào này trước hết khuyên người ta đừng nhắm mắt làm ngơ trước hiểm nguy chồng chất. Nếu tiếp tục khăng khăng hành động một chiều, sẽ mất sự giúp đỡ của bạn bè và rơi vào khó khăn lớn hơn. Mặt khác, hào cũng khuyên đi theo chính đạo; nếu không đi đường bằng phẳng mà cứ chọn đường hiểm, ắt chuốc lấy hung hiểm.
Người gieo được quẻ này, nếu trước đây từng có tiền án vi phạm pháp luật hoặc phạm tội, dù bị đưa đến cơ quan công an hay bị tạm giữ mà vẫn không biết hối cải, thì lần này tình hình sẽ cực kỳ nghiêm trọng, e rằng bị tạm giam lâu hoặc kết án. Có câu: “Trời gây họa còn có thể tránh, người tự gây họa thì không thể sống.” Tai họa do mình tự chuốc lấy, đáng khiến người ta than thở nhưng không thể tha thứ.
Sơ lục là hào âm ở vị trí dương, lại ở nơi hiểm nguy sâu nhất; không ứng với Lục tứ mà còn đối địch, nên có hình tượng rơi vào hiểm nạn không thể tự thoát. Vì vậy hung hiểm.
Giải thích chi tiết hào Cửu nhị của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu nhị: Trong Khảm có hiểm, cầu việc nhỏ thì được chút ít.
Tượng truyện nói: Cầu việc nhỏ thì được chút ít, vì vẫn chưa ra khỏi trung tâm của hiểm cảnh.
Giải thích bằng văn nói
Cửu nhị: Trên đường nhiều hố hốc, đường đi hiểm trở. Dám đi đường hiểm thì có thể được chút ít.
Tượng truyện nói: Dám đi đường hiểm có thể được chút ít, vì hào Cửu nhị ở vị trí trung tâm của hạ quái, giống như người chưa lệch khỏi chính đạo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thành tựu nhỏ; nữ mệnh có thể làm thiếp. Trường hợp xấu nên đề phòng hiểm nạn hoặc bệnh về bụng, huyết khí. Người làm quan có thành tựu nhỏ, việc lớn không thành.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thử sức ở việc nhỏ thì có lợi, không nên mưu cầu việc lớn.
Tài vận: Kinh doanh cẩn thận thì có thể có chút lợi.
Gia trạch: Đề phòng bờ sông.
Sức khỏe: Điều trị có hiệu quả nhưng khó khỏi hoàn toàn.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu nhị biến, được quẻ số 8 trong Chu Dịch: Thủy Địa Tỷ. Đây là quẻ dị, Khôn ở dưới và Khảm ở trên. Khôn là đất, Khảm là nước. Nước bám vào đất, đất tiếp nhận sông biển; đôi bên nương tựa, thân mật không cách biệt. Quẻ này hoàn toàn đối lập với quẻ Sư, là “quẻ tổng” của nhau. Quẻ trình bày đạo lý thân ái hỗ trợ, rộng lượng vô tư và đoàn kết hết lòng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Khảm, hào từ: Cửu nhị: Trong Khảm có hiểm, cầu việc nhỏ thì được chút ít. Giải thích hào từ
Ý nghĩa hào từ này là: Trong chỗ hãm của Khảm xuất hiện hiểm trở; cầu việc nhỏ thì có thu hoạch.
Hào Cửu nhị là hào dương ở vị trí âm nên không được đúng vị, lại ở trong hạ quái Khảm nên khó tránh hiểm trở. Tuy nhiên, Sơ lục ở dưới nâng đỡ, vì vậy cầu việc nhỏ thì có được. Cửu nhị ở trung vị nhưng cũng bị kẹt giữa hai hào âm, không có viện trợ từ phía trên
nên không thể thoát khỏi cảnh khốn, chỉ có thể “cầu việc nhỏ thì được chút ít”, chứ không thể cầu được điều lớn
Người được quẻ này nên chú ý bắt đầu từ việc nhỏ. Khi khó khăn chồng chất, nếu muốn đầu tư kinh doanh thì chỉ nên mưu cầu lợi nhỏ, đừng quá tham. Nếu gặp khó khăn, cũng nên tìm đường thoát từ những điểm nhỏ; như vậy mới thành công. Khi nhận ra mình đang ở chỗ nguy hiểm, đừng phô trương sự dũng cảm nhất thời để liều đấu, cũng đừng lấy cứng đối cứng; hãy thận trọng, dè dặt, không đi đến cực đoan, như vậy sẽ không gây tổn thất lớn.
Cửu nhị: Trong Khảm có hiểm, cầu việc nhỏ thì được chút ít. Tượng truyện nói: Cầu việc nhỏ thì được chút ít, vì vẫn chưa ra khỏi trung tâm hiểm nạn.
Ý nghĩa kinh văn là: Trong Khảm có hiểm, yêu cầu nhỏ sẽ được đáp ứng.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Yêu cầu nhỏ sẽ được đáp ứng vì vẫn chưa ra khỏi hiểm nguy.
Hào dương Cửu nhị ở vị trí chẵn, tức vị trí âm, nên không được đúng vị; nhưng nó đắc trung, lại được hai hào âm trên dưới hỗ trợ nên có chút lợi ích. Vì sao không có thu hoạch lớn? Vì cả ba hào đều ở trong hiểm nạn; Sơ lục và Lục tam tự bảo vệ mình còn khó, đương nhiên không thể giúp Cửu nhị nhiều. Hơn nữa, Cửu nhị không ứng với Cửu ngũ mà còn đối địch, nên chỉ có thể được chút lợi. Mà lợi ích ấy chẳng qua là hai hào âm có thể hy sinh bản thân để cứu chủ mà thôi.
Giải thích chi tiết hào Cửu tam của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục tam: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, hiểm và sâu, như tựa đầu bên bờ vực; rơi vào hố sâu trong hố. Chớ hành động.
Tượng truyện nói: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, rốt cuộc không có công.
Giải thích bằng văn nói
Lục tam: Tiến đến nơi hố hiểm chồng chất, hố vừa hiểm vừa sâu; rơi vào hố sâu trong hố, vô cùng bất lợi.
Tượng truyện nói: Đến nơi đầy Khảm này thì cuối cùng cũng không có lợi ích.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này gặp nhiều trắc trở, nhiều chuyện tranh chấp kiện tụng. Người làm quan nên lui về phòng thủ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Giữ vững trong cảnh khốn cùng, chờ đợi tương lai.
Tài vận: Việc đi thuyền bị cản trở, tạm thời nên giữ thành quả hiện có.
Gia trạch: Lấp chỗ trũng; cầu hôn không thành.
Sức khỏe: Không nên quá lao lực.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục tam biến, được quẻ số 48 trong Chu Dịch: Thủy Phong Tỉnh. Đây là quẻ dị, Tốn ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước, Tốn là cây. Cây được nước thì sinh trưởng tươi tốt. Con người sống nhờ giếng, còn giếng do con người đào nên. Hai bên nuôi dưỡng lẫn nhau; giếng dùng nước nuôi người, con người nên noi theo đức ấy mà siêng năng tự khuyến khích mình.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Khảm, hào từ: Lục tam: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, hiểm và sâu, rơi vào hố sâu trong hố; chớ hành động. Giải thích hào từ
Ý nghĩa hào từ là: Đi hay về đều nguy hiểm, bốn phía đầy hiểm nguy và khó khăn. Rơi vào cạm bẫy thì không thể làm nên việc gì.
Hào thứ ba của quẻ Khảm, hào từ: Lục tam: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, hiểm và sâu, rơi vào hố sâu trong hố; chớ hành động. Gợi mở nhân sinh: Học cách chờ đợi
Hào này nói rằng cả thượng quái lẫn hạ quái đều là Khảm, đều hiểm; Lục tam nằm giữa hai hiểm ấy, cho thấy trước mặt là hiểm, sau lưng cũng hiểm, bản thân ở giữa hai bên.
Đã đi hay về đều nguy hiểm, không thể tiến cũng không thể lui, chi bằng tạm thời tựa gối chờ đợi, chớ hành động khinh suất. Người được quẻ này, hành động sáng suốt nhất là chờ đợi, nằm tựa gối mà ngủ.
Khi gặp khó khăn, có người nghĩ rằng phải liều một phen, đánh cược một lần thì mới thành công. Nhưng đôi khi, khi khắp nơi đều là nguy hiểm, tốt nhất là không hành động gì cả. Hãy học cách chờ đợi; đó là cách tốt nhất
Nhất. Chẳng hạn khi thị trường chứng khoán không tốt, đừng hành động, đừng mua cũng đừng bán, hãy chờ thời cơ.
Lục tam: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, hiểm và sâu, rơi vào hố sâu trong hố; chớ hành động.
Tượng truyện nói: Đi hay đến đều gặp Trùng Khảm, rốt cuộc không có công.
Ý nghĩa kinh văn là: Đi hay về đều hiểm trở, cảnh hiểm sâu, phải cẩn thận kẻo rơi xuống vực sâu nguy hiểm, không nên hành động. Ý nghĩa Tượng truyện là: Đi hay về đều nguy hiểm, cuối cùng sẽ không thành công.
Lục tam ở ranh giới giữa thượng quái Khảm và hạ quái Khảm, có hình tượng trong ngoài đều đối mặt với hiểm nguy, nên hào từ nói “đi hay đến đều gặp Trùng Khảm”. Trong cảnh trong có lo ngoài có họa, hiểm tượng phát sinh khắp nơi như vậy, hành động là bất lợi. Vì thế hào từ nói “chớ hành động”.
Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ: Chén đồng đựng rượu, đôi đồ đựng thức ăn tròn; dùng vò đất, đưa lễ vật giản dị qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi.
Tượng truyện nói: Chén rượu và đồ đựng thức ăn, rồi dùng vò đất, là vì cứng và mềm gặp nhau ở ranh giới.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Dùng đồ đồng đựng rượu, dùng đồ tròn đựng cơm. Nhưng với tù nhân bị giam trong hố Khảm, chỉ cần chậu đất; cơm tù được đưa vào và lấy ra qua cửa sổ cao. Người ấy gặp vận rủi như vậy nhưng cuối cùng không nguy hiểm.
Tượng truyện nói: “Ngày thường hưởng thức ăn ngon đồ dùng đẹp, nay ăn cơm tù bằng chậu đất” là vì hào âm Lục tứ ở dưới hào dương Cửu ngũ, giống như người bị kẻ mạnh áp chế và chịu cảnh gian nan.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có nhiều việc vui, có thể có hỷ sự kết hôn. Người làm quan có niềm vui ăn uống.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Như gặp gió xuân, mọi việc thuận lợi, mở tiệc vui đãi khách quý.
Tài vận: Nghề nấu rượu khá thuận lợi.
Gia trạch: Tiết kiệm giữ nhà; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Tốt nhất nên cầu nguyện.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục tứ biến, được quẻ số 47 trong Chu Dịch: Trạch Thủy Khốn. Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là âm, là đầm, tượng cho vui; Khảm là dương, là nước, tượng cho hiểm. Trạch Thủy Khốn nghĩa là rơi vào cảnh khốn, tài trí khó thi triển. Tuy vậy, nếu vẫn giữ vững chính đạo và tự tìm niềm vui trong đó, ắt có thể thành việc và thoát khỏi khốn cảnh.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu ngũ: Hố Khảm chưa đầy, chỉ mới san phẳng gò nhỏ. Không lỗi.
Tượng truyện nói: Hố Khảm chưa đầy, vì phần trung tâm vẫn chưa lớn mạnh.
Giải thích bằng văn nói
Cửu ngũ: Tuy hố Khảm chưa được lấp đầy, gò nhỏ đã được cuốc san phẳng. Không có tai họa.
Tượng truyện nói: Gò nhỏ tuy đã được san phẳng nhưng hố Khảm vẫn chưa đầy, cho thấy đường đi chưa bằng phẳng, chưa trở thành đường rộng thênh thang.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này bình đạm, không có biến động, nên dưỡng sức tích lũy lực lượng. Người làm quan không gặp nguy nan, chức vị không đáng lo.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không được tự cao, công danh có hạn.
Tài vận: Không bàn lợi trước mắt, hãy tính đường lâu dài.
Gia trạch: Cảnh quan đáng vui; hôn nhân môn đăng hộ đối.
Sức khỏe: Giữ lòng bình thản, điều hòa.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu ngũ biến, được quẻ số 7 trong Chu Dịch: Địa Thủy Sư. Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Khôn ở trên. “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, tượng cho việc gửi quân trong dân. Dùng binh là việc hung hiểm, bậc thánh nhân chỉ làm khi bất đắc dĩ. Nhưng vì thuận theo tình thế, xuất quân có chính nghĩa, nên có thể giải quyết mâu thuẫn thuận lợi, biến hung thành cát.
Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ hai mươi chín trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục: Bị trói bằng dây, đặt giữa bụi gai, ba năm không được thả. Hung.
Tượng truyện nói: Thượng lục mất đạo, nên hung trong ba năm.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Trói chặt tù nhân bằng dây, đưa vào nhà ngục vây quanh bởi bụi gai, ba năm không được thả; đây là việc hung hiểm.
Tượng truyện nói: Hào từ của Thượng lục cho thấy rõ quan lại trái chính đạo, giam người trái pháp luật, kéo dài suốt ba năm.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải đề phòng họa lao ngục. Người làm quan phải đề phòng nỗi lo quyền hạn rơi vào tay người khác.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tai họa bất ngờ, đề phòng lao ngục.
Tài vận: Kinh doanh dệt may thành công trong ba năm.
Gia trạch: Sửa sang nhà cửa; nhân duyên tốt phải đợi ba năm.
Sức khỏe: Khó cử động, nên yên tâm tĩnh dưỡng.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第29卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng lục biến, được quẻ số 59 trong Chu Dịch: Phong Thủy Hoán. Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Tốn ở trên. Gió thổi trên mặt nước, khuấy động sóng và lan tỏa bốn phương. Hoán nghĩa là nước chảy tan ra. Quẻ tượng trưng cho tổ chức và lòng người tan rã; phải dùng biện pháp, phương thức tích cực để khắc phục tệ hại, cứu vãn sự phân tán, biến nguy thành an.