Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 31, quẻ Hàm, Trạch Sơn Hàm, trên Đoài dưới Cấn

Hàm: Hanh thông, lợi về chính bền. Cưới con gái thì cát.

Thoán truyện nói: Hàm là cảm ứng. Nhu ở trên mà cương ở dưới, hai khí cảm ứng rồi tương giao. Dừng mà vui, người nam ở dưới người nữ. Vì vậy hanh thông, lợi về chính bền, cưới người con gái thì cát. Trời đất cảm ứng khiến vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm động lòng người khiến thiên hạ hòa bình. Xem điều mà chúng cảm ứng thì có thể thấy tình của trời đất muôn vật.

Tượng truyện nói: Trên núi có đầm là Hàm. Người quân tử noi theo đó, giữ lòng trống không để tiếp nhận người khác.

Sơ đồ quẻ 31: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 31 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Hàm
Hàm: Hanh thông, lợi về chính bền. Cưới con gái thì cát.
Tượng truyện nói: Trên núi có đầm là Hàm. Người quân tử noi theo đó, giữ lòng trống không để tiếp nhận người khác.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Hàm: Hanh thông, bói về sự chính bền thì cát. Cưới người con gái thì cát.
Tượng từ nói: Hạ quái của quẻ này là Cấn, tượng núi; thượng quái là Đoài, tượng đầm. Trong núi có đầm, khí núi và hơi nước cùng nghỉ, cùng cảm ứng với nhau, đó là tượng quẻ Hàm. Người quân tử quan sát tượng này, noi theo thung lũng sâu và đầm nước rộng, từ đó giữ lòng trống rỗng như thung lũng, khiêm tốn tiếp nhận sự giáo ích của người khác.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Hàm trên Đoài dưới Cấn, là quẻ thế thứ ba thuộc cung Đoài. Hàm là cảm ứng; vạn vật đều có cảm ứng, nam nữ cảm ứng, vợ chồng an hòa, việc gì thuộc về cảm ứng cũng không có gì không hanh thông.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Nam nữ giao cảm, cảm ứng theo chính đạo; vật bị đánh thì phát tiếng, biết thời, biết cơ.
Người được quẻ này nên khiêm tốn đối đãi với người, ắt cát tường như ý, mưu việc có thể thành. Nhưng chớ để tình cảm bất chính làm loạn tâm mê đắm.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khiêm tốn đối đãi với người, có thể giữ được công danh.
Tài vận: Buôn bán xoay vòng, chuyển vận hàng hóa, ắt có thể kiếm lợi.
Nhà cửa: Biết chỗ nên dừng; nam nữ hòa hợp.
Sức khỏe: Hư nhược, nên bồi bổ.
Giải quẻ truyền thống
Quẻ này là hai quái khác nhau chồng lên nhau (dưới Cấn, trên Đoài). Cấn là núi; đầm là nước. Đoài nhu ở trên, Cấn cương ở dưới, nước thấm xuống, nhu ở trên mà cương ở dưới, giao cảm với nhau. Có cảm thì thành.
Đại tượng: Chàng trai ở dưới cô gái, đôi bên cảm ứng, tượng trưng cho hôn nhân mới và sự giao cảm nam nữ.
Vận thế: Như ý cát tường, nhưng chớ để tình cảm bất chính làm loạn tâm mê đắm.
Sự nghiệp: Hòa thuận là quý nhất; hòa thuận thì mọi việc đều hưng thịnh. Hãy dùng lòng thành để cảm hóa người khác và đối đãi với mọi người bằng lòng thành. Mở rộng giao du với bạn bè, khiêm nhường và nhường nhịn lễ phép. Nuôi chí lớn, kiên trì giữ chủ kiến, không được mù quáng chạy theo số đông. Khi thời thế bất lợi, nên ở yên chờ thời, không được hành động vọng động hay cưỡng cầu.
Kinh doanh: Có lợi để mưu cầu. Nhưng phải giữ lòng thuần chính, chân thành đối đãi với người, tăng cường hợp tác. Nếu thị trường ảm đạm, tuyệt đối không được vọng động, cưỡng cầu, mà nên tĩnh lặng chờ phát triển, khiêm tốn lắng nghe ý kiến khác biệt.
Cầu danh: Chí hướng nên lớn lao nhưng phải vững chân trên đất, khiêm tốn thỉnh giáo người khác, khiến người vui lòng đáp ứng, giúp đỡ và trọng dụng mình. Chớ tự khép kín, càng không được lạnh lùng cô độc; hãy phát triển bản thân bằng tấm lòng rộng mở.
Hôn nhân tình cảm: Khả năng thành công cực lớn. Hai bên rất có tình cảm, nhưng động cơ nhất thiết phải thuần chính thì hôn nhân mới hạnh phúc, lâu bền.
Quyết sách: Cát tường như ý. Quan hệ xã hội tốt, giỏi giao tiếp. Dùng thái độ chân thành và tấm lòng vô tư mà xử thế thì không có gì bất lợi. Hợp tác với người khác phải kiên trì nguyên tắc. Làm việc không được do dự thiếu quyết đoán. Khi không thuận lợi, nên dừng hành động, tổng kết kinh nghiệm để mưu phát triển. Đối đãi với người thành khẩn, nhưng không nên giao du với kẻ tiểu nhân chỉ giỏi dùng lời lẽ, đề phòng bị lừa.


Ý nghĩa triết học của quẻ thứ ba mươi mốt

Quẻ Hàm do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Cấn ở dưới, Đoài ở trên. Cấn là núi, là cương; Đoài là đầm, là nhu. Đoài nhu ở trên, Cấn cương ở dưới, giống như nước trên núi thấm xuống nuôi dưỡng muôn vật sinh trưởng trên núi, ngược lại núi nâng đỡ đầm.
Tượng truyện giải thích quẻ Hàm như sau: “Trên núi có đầm là Hàm. Người quân tử giữ lòng trống không để tiếp nhận người khác.”
Tượng truyện chỉ ra tượng quẻ Hàm là Cấn (núi) ở dưới, Đoài (đầm) ở trên, biểu hiện đầm trên núi: đầm nước phía trên tưới nhuần núi phía dưới, núi phía dưới nâng đỡ đầm nước phía trên và hấp thu hơi nước, vì vậy tượng trưng cho cảm ứng. Người quân tử noi theo sự nối liền của núi và nước, lấy tinh thần lòng trống như thung lũng để dung nạp, cảm hóa người khác. Điều quẻ Hàm muốn biểu đạt là đầm nhuận núi, núi nâng đỡ đầm, nhu ở trên mà cương ở dưới, giao cảm lẫn nhau, giống đôi vợ chồng hòa hợp thấu hiểu. Vì vậy các văn nhân qua nhiều đời thường giải quẻ Hàm là quẻ vợ chồng, cho rằng quẻ này nêu đạo lý “hằng minh phu phụ”.
Quẻ Hàm do quẻ Cấn và quẻ Đoài chồng lên nhau mà thành. Cấn đại diện thiếu nam, Đoài đại diện thiếu nữ. Xét hình quẻ, Đoài ở trên giống cô gái dịu dàng đa tình chạy phía trước; Cấn là núi ở dưới giống chàng trai cường tráng đuổi theo phía sau, tạo thành cảnh nam nữ thân ái vui đùa. Quẻ Hàm biểu thị sự cảm ứng lẫn nhau, thuộc quẻ trung thượng. Tượng truyện phán quẻ này: “Vận đi thì vàng mất sắc, thời đến thì gậy mọc mầm; tiết lệnh cực tốt không sai lệch, đáng mừng là lòng khoan dung, ý chí rộng lớn.”

Quẻ 31 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ Lục: Cảm ứng ở ngón chân cái.
Tượng truyện nói: Cảm ứng ở ngón chân cái, vì chí hướng ở bên ngoài.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Lục: Làm tổn thương ngón chân cái.
Tượng từ nói: Ngón chân cái đang động, cho thấy chí hướng là xuất hành.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này hành sự quá gấp, khó đạt thành tựu. Người làm quan nên tu thân dưỡng tính, chờ đợi cơ hội; quan ở kinh thành sẽ phải ra ngoài, người ở chức nhàn sẽ được cất nhắc.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nhanh chân đi trước, một bước thành danh.
Tài vận: Hàng hóa đã chuẩn bị xong nhưng chưa xuất bán.
Nhà cửa: Chuyển đến nơi khác; khởi đầu việc kết thân hôn nhân.
Sức khỏe: Chữa bệnh ở chân.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ Lục biến, được quẻ 49 trong Chu Dịch: Trạch Hỏa Cách. Quẻ này là hai quái khác nhau chồng lên nhau (dưới Ly, trên Đoài). Ly là lửa, Đoài là đầm, trong đầm có nước. Nước ở trên tưới xuống, lửa ở dưới bốc lên. Lửa mạnh thì nước khô, nước nhiều thì lửa tắt. Hai bên vừa sinh vừa khắc nhau, tất nhiên xuất hiện biến cách. Biến cách là quy luật cơ bản của vũ trụ.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất quẻ Hàm, hào từ: “Sơ Lục: Cảm ứng ở ngón chân cái.” Giải nghĩa hào từ
“Mẫu” ở đây chỉ ngón chân cái. Ý nghĩa hào từ này là: Cảm ứng phát sinh ở ngón chân cái.
Quẻ Hàm nói về sự cảm ứng lẫn nhau. Sơ Lục là khởi đầu của quẻ, nên biểu thị cảm ứng bắt đầu từ ngón chân cái. Điều này có nghĩa hai người chỉ vừa mới gặp nhau. Xét về tượng quẻ, Sơ Lục là hào âm ở vị trí dương, vị không chính, nhưng cảm ứng với Cửu Tứ; đó là khởi đầu của âm dương giao cảm. Tình cảm này chỉ là ấn tượng ban đầu, chưa phát triển đến mức bàn chuyện hôn nhân, cũng chưa liên quan đến cát hung.
Gieo được hào này chỉ hai người khi mới gặp nhau, đối phương đã có thiện cảm với bạn và mong muốn phát triển quan hệ thêm. Nhưng thời cơ hiện chưa chín, trước mắt bạn không nên chủ động. Bởi lúc này cảm ứng còn nông, chưa đủ để biến thành hành động.
Sơ Lục: Thành tựu ở ngón chân cái.
Tượng truyện nói: Thành tựu ở ngón chân cái, vì chí hướng ở bên ngoài.
Ý nghĩa kinh văn là: Cảm ứng đến ngón chân cái.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cảm ứng đến ngón chân cái, tức trong lòng đang nghĩ đến việc đi ra ngoài.
Các hào từ lần lượt từ dưới lên trên làm rõ đặc điểm cảm ứng ở những giai đoạn khác nhau. Sự cảm ứng này có thể hiểu là cảm ứng giữa nam và nữ, cảm ứng giữa trời đất, cũng có thể là cảm ứng của con người với vạn vật.
“Ngón cái” ở đây chỉ ngón chân cái của con người. Xét theo tượng quẻ, hào tương ứng với Sơ lục là hào Cửu tứ. “Cảm ứng ở ngón chân cái” cho thấy sự cảm ứng của sự vật có quá trình từ nông đến sâu; lúc này mới ở giai đoạn sơ khởi nên chỉ nhận được sự cảm ứng còn hời hợt.
Giữa người với người quả có sự cảm ứng tâm linh. Tăng Tử là bậc đại thánh nhân, vì hết sức hiếu thảo nên dù ở nơi rất xa ông vẫn có thể cảm ứng được tiếng gọi của mẹ.
Giải thích chi tiết hào Cửu nhị của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục nhị. Cảm ứng ở bắp chân, hung; ở yên thì cát.
Tượng truyện nói: Tuy là hung, nhưng ở yên thì cát, vì thuận theo lẽ phải nên không bị hại.
Giải thích bằng văn nói
Lục nhị: Bị thương ở bắp chân là điềm hung. Khi cẳng chân bị thương thì không nên ra ngoài; an cư, không hành động, tự nhiên sẽ được bình an.
Tượng từ nói: Tuy gặp điềm hung, nhưng nếu an cư không động thì có thể chuyển hung thành cát. Thuận theo tượng của lời bói chính đáng thì có thể tránh tai họa.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này sẽ bôn ba vô ích, nên tĩnh chứ không nên động. Người làm quan đang tại chức thì cát, người đi công tác thì gặp hiểm nguy.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cốt yếu là lui về phòng thủ, nhờ người khác mà thành việc.
Tài vận: Không nên buôn bán nay đây mai đó; có thể ngồi một chỗ mà kinh doanh.
Gia trạch: Việc hôn nhân có biến đổi; thuận theo và giữ vững thì cát.
Sức khỏe: Không thể đi lại.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục nhị động, biến thành quẻ 28 của Chu Dịch: Đại Quá, Trạch Phong Đại Quá. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Tốn ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là đầm, là vui; Tốn là cây, là thuận. Nước đầm nhấn chìm thuyền, vì thế thành lỗi lầm lớn. Hào âm và dương đối nghịch, dương lớn âm nhỏ; hành động quá mạnh, tạo hình tượng quá mức, trong cứng ngoài mềm.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Hàm, hào từ: Lục nhị: Cảm ứng ở bắp chân, hung; ở yên thì cát. Giải nghĩa hào từ. “Bắp chân” chỉ phần cơ ở cẳng chân.
Ý nghĩa của hào từ này là: Sự cảm ứng xảy ra ở bắp chân thì có hung họa; an cư sẽ được cát tường.
Xét theo tượng quẻ, Lục nhị là hào âm ở vị trí mềm, đắc chính. Bên trên nó là hào quân Cửu ngũ ứng đúng, biểu thị sự cảm ứng giữa trên và dưới. Cầu tiến vốn là việc tốt, nhưng Lục nhị ở vị trí trung của hạ quái, giữ trung mới là chính; chỉ khi chờ Cửu ngũ đề bạt mới được cát. Nếu ở địa vị thấp mà liều lĩnh tiến càn, cố tranh nổi bật, trái lại sẽ chịu nhiều công kích và ngăn trở rồi thành hung.
Người được hào này, nếu thiếu kiên nhẫn, muốn chủ động tấn công để giành thiện cảm của đối phương, có thể sẽ phản tác dụng. Biết rằng việc hợp tác và giao tiếp giữa bạn với người khác mới ở giai đoạn đầu; nếu nóng lòng cầu thành, rất khó đạt mục đích. Tốt nhất là yên tĩnh giữ mình, tiến từng bước, như vậy mới cát tường.
Lục nhị: Cảm ứng ở bắp chân, hung; ở yên thì cát.
Tượng truyện nói: Tuy là hung, nhưng ở yên thì cát, vì thuận theo lẽ phải nên không bị hại.
Ý nghĩa kinh văn là: Cảm ứng đã đến bắp chân, có hiểm nguy; an cư thì cát tường.
Ý nghĩa Tượng từ là: Tuy nguy hiểm, nhưng ở yên trong nhà thì cát; thuận theo thì không bị tổn hại.
Lục nhị cảm ứng với Cửu ngũ. Lúc này sự cảm ứng đã đến bắp chân, cho thấy có bước phát triển hơn trước. Nhưng vì sao hào từ lại nói “hung”? Thì ra tuy sự cảm ứng giữa Lục nhị và Cửu ngũ đã đến bắp chân, mức độ vẫn chưa đạt đến chỗ nóng bỏng nhất. Lục nhị lại muốn vội vàng đi theo Cửu ngũ; hành động ấy khi thời cơ chưa chín muồi, đương nhiên nguy hiểm. Vì thế hào từ bổ sung: “Ở yên thì cát”, nghĩa là ở nhà, không ra ngoài mới cát. Vì sao Lục nhị có tượng ra đi? Vì Lục nhị là hào dưới cùng của hạ hỗ quái Tốn trong quẻ Hàm; Tốn có nghĩa là theo và vào, nên có tượng đi theo người khác.
Giải thích chi tiết hào Cửu tam của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tam
Cửu tam. Cảm ứng ở đùi, cố chấp vào việc đi theo; tiến tới thì đáng tiếc.
Tượng truyện nói: “Cảm ứng ở đùi” cũng có nghĩa là không thể ở yên. Chí hướng chỉ ở việc theo người khác, điều mình cố chấp theo đuổi cũng thấp hèn.
Giải thích bằng văn nói
Cửu tam: Bị thương ở đùi, lại làm tổn thương cả phần thịt dưới đùi. Mang thương tích mà ra đi, ắt gặp tai họa.
Tượng từ nói: Di chuyển đùi cho thấy người ấy không yên ở chỗ của mình. Nhưng chí hướng chẳng qua là theo người khác, đủ thấy chủ trương mà mình cố giữ cũng thấp hèn, không đáng theo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này tốt nhất nên lui về phòng thủ; người làm quan phải đề phòng bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tốt nhất là lui về phòng thủ; danh tiếng không sáng tỏ.
Tài vận: Hợp vốn khó khăn, người chủ trì không đủ sức đảm đương.
Gia trạch: Không nên theo người khác mà chuyển đi; nơi ở hiện tại không phải chỗ tốt.
Sức khỏe: Chớ sa vào dục vọng tình cảm.

Quẻ biến của hào Cửu Tam
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu tam động, biến thành quẻ 45 của Chu Dịch: Tụ, Trạch Địa Tụy. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khôn ở dưới và Đoài ở trên. Khôn là đất, là thuận; Đoài là đầm, là nước. Đầm tràn ngập nhấn chìm mặt đất, người đông thì tranh đấu lẫn nhau, nguy cơ ắt rình rập khắp nơi. Phải thuận theo Trời, dùng người hiền, lo xa, mềm thuận mà hòa vui, để đôi bên bổ trợ cho nhau, an cư lạc nghiệp. Tụ nghĩa là tụ tập, đoàn kết.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Hàm, hào từ: Cửu tam: Cảm ứng ở đùi, cố chấp vào việc đi theo; tiến tới thì đáng tiếc. Giải nghĩa hào từ.
Cổ: chỉ phần đùi. Chấp: cố chấp, mù quáng nghe theo. Tùy: đi theo.
Ý nghĩa của hào từ này là: Sự cảm ứng xảy ra ở đùi; chớ theo người khác mà hành động vọng động, tiến đi sẽ gặp khó khăn.
Tượng giải thích hào Cửu tam: “Cảm ứng ở đùi” cũng là không thể ở yên; “chí ở việc theo người” cho thấy điều mình cố chấp theo đuổi là thấp hèn.
Tượng chỉ ra: “Cảm ứng xảy ra ở đùi” cho thấy không thể an cư tĩnh tại, tự kiềm chế, mà tính tình nóng nảy, tùy ý vọng hành. “Chớ theo người khác mà vọng động” vì điều cố chấp theo đuổi quá thấp hèn, bỉ ổi.
Khi gieo được hào này, cần chú ý: nếu đối phương chỉ tỏ ra có chút thiện cảm mà bạn đã suốt ngày quanh quẩn bên họ, điều đó chỉ khiến bạn rơi vào thế bị động. Nếu không thay đổi cách làm này, hoàn cảnh của bạn sẽ trở nên khó khăn. Dù trong chuyện tình cảm nam nữ hay trong những việc khác, hãy cẩn thận, đừng vì tâm lý nóng lòng muốn thành công mà cố tình mù quáng đi theo người khác; cứ tiếp tục như vậy ắt sẽ gặp nguy hiểm.
Cửu tam: Cảm ứng ở đùi, cố chấp vào việc đi theo; tiến tới thì đáng tiếc.
Tượng truyện nói: “Cảm ứng ở đùi” cũng có nghĩa là không thể ở yên. Chí hướng ở việc theo người khác, điều mình cố chấp theo đuổi là thấp hèn.
Ý nghĩa kinh văn là: Cảm ứng đến đùi, muốn theo người khác hành động nhưng bị khống chế; tiến đi sẽ có lo buồn và hối tiếc.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cảm ứng đến đùi cũng có nghĩa là không thể tĩnh tại. Trong lòng muốn theo người khác hành động nhưng lại bị cái ở phía dưới khống chế.
Cửu tam cảm ứng với Thượng lục. Sự cảm ứng của họ tiến triển hơn hai hào trước, đã đến đùi. Vì Cửu tam ở vị trí trung của hạ hỗ quái Tốn nên cũng có tượng đi theo người. Nhưng Cửu tam vừa cảm ứng với Thượng lục, vừa hòa hợp âm dương với Lục nhị bên dưới, nên không thể có cả cá lẫn tay gấu; nóng vội hành động sẽ có lo buồn và hối tiếc.
Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu tứ. Giữ chính thì cát, hối tiếc tiêu tan; đi lại bồn chồn, bạn bè thuận theo ý nghĩ của ngươi.
Tượng truyện nói: Giữ chính thì cát, hối tiếc tiêu tan vì chưa chịu tổn hại. Đi lại bồn chồn là vì chưa trở nên sáng rõ và lớn lao.
Giải thích bằng văn nói
Cửu tứ: Chính bốc thì cát, không có gì phải hối tiếc. Người qua kẻ lại dồn dập, bạn bè đều thuận theo ý ngươi.
Tượng từ nói: Giữ chính thì cát, không hối tiếc vì chưa bị tổn hại. Tuy có vài người bạn qua lại dồn dập, vẫn phải hao tốn không ít tâm sức.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có bạn bè giúp đỡ, có thể mưu tính việc nhỏ nhưng việc lớn khó khăn, lòng dạ bất định. Người làm quan chấp chính công bằng thì có hy vọng thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Công danh hiển đạt, nhưng bất chính thì gặp điều xấu.
Tài vận: Thấy lợi quên nghĩa, tranh giành không dứt.
Gia trạch: Cẩn thận trong giao du; phải đề phòng sự bất trinh.
Sức khỏe: Tâm thần hoảng hốt, tốt nhất nên tĩnh dưỡng.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu tứ động, biến thành quẻ 39 của Chu Dịch: Kiển, Thủy Sơn Kiển. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Cấn ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước, Cấn là núi. Núi cao nước sâu, đời người nhiều hiểm trở; thấy nguy thì dừng, biết bảo toàn thân mình, đó là trí tuệ. Kiển nghĩa là đi lại gian nan.


Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Hàm, hào từ: Cửu tứ: Giữ chính thì cát, hối tiếc tiêu tan; đi lại bồn chồn, bạn bè thuận theo ý nghĩ của ngươi. Giải nghĩa hào từ.
“Trinh” nghĩa là vững giữ điều chính; ở đây chỉ lòng thành và đối đãi chân thật với người. “Hối vong” nghĩa là không oán, không hối. “Chông chênh qua lại” nghĩa là qua lại không ổn định, giao tiếp thường xuyên. “Tòng” nghĩa là đi theo, tương ứng.
Ý nghĩa của hào từ này là: Có thể đạt được cát tường, nguy nan và khốn khó sẽ tiêu tan. Dù lòng bạn bất an, suy nghĩ không dứt, cuối cùng bạn bè cũng sẽ thuận theo ý nguyện của bạn.
Xét theo tượng quẻ, Cửu tứ ở thượng quái, giống vị trí trái tim trong cơ thể, chỉ sự giao hòa tâm linh. Cửu tứ tuy là hào dương ở vị trí âm, không đắc vị, nhưng lòng thành chí vững, ở trên mà ứng với dưới, khiêm cung lễ độ với người dưới. Theo tượng quẻ, Cửu tứ duy trì giao tiếp với Sơ lục, không tính được mất của bản thân, thường xuyên qua lại với Sơ lục; lòng thành ấy ắt nhận được hiệu quả lấy lòng đổi lòng.
Người được hào này, trong chuyện tình cảm nam nữ, có nghĩa là sự cảm ứng với đối phương cuối cùng đã đúng lúc. Bạn có thể chủ động, không cần để tâm đến sự cản trở của người khác. Chỉ cần chân thành qua lại thường xuyên, chắc chắn bạn sẽ lay động đối phương khiến họ hết lòng hướng về bạn.
Cửu tứ: Giữ chính thì cát, hối tiếc tiêu tan; đi lại bồn chồn, bạn bè thuận theo ý nghĩ của ngươi.
Tượng truyện nói: Giữ chính thì cát, hối tiếc tiêu tan vì chưa cảm nhận tổn hại. Đi lại bồn chồn, vẫn chưa trở nên sáng rõ và lớn lao.
Ý nghĩa kinh văn là: Giữ đạo chính thì không lo buồn, hối tiếc; qua lại trong tâm thần bất định thì bạn bè cùng chung ý nghĩ với mình. Ý nghĩa Tượng từ là: Giữ đạo chính không lo hối vì chưa cảm thấy tổn hại; qua lại trong tâm thần bất định thì chưa đủ quang minh chính đại.
Hào từ ở đây được mô tả rất sinh động, khắc họa tâm lý nam nữ trong mối tình đầu một cách tinh tế và chuẩn xác. “Qua lại bồn chồn, bạn bè thuận theo ý nghĩ của ngươi” là tâm lý phổ biến của những người yêu lần đầu: trong lòng hơi bất định, sợ người khác phát hiện, hành động khá kín đáo. Dĩ nhiên ngày nay người ta yêu đương không còn phải dè dặt như vậy, nhưng cảm giác bồn chồn ấy vẫn còn.
Hai bên giao tiếp với tâm trạng như vậy cho thấy sự cảm ứng đã đạt đến giai đoạn tương đối chín muồi. Vì thế, chỉ cần cả hai giữ đúng đạo trong quan hệ thì sẽ được cát tường, không có hối tiếc.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu ngũ. Cảm ứng ở thịt sống lưng, không hối tiếc.
Tượng truyện nói: Cảm ứng ở thịt sống lưng, chí hướng ở chỗ cuối cùng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu ngũ: Làm đau phần thịt ở lưng, nhưng không có tai họa.
Tượng từ nói: Nhô động lưng, làm ra vẻ như đang mang vật nặng, xem ra chí hướng chỉ ở việc nhỏ nhen.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nhân tình không hòa hợp, mưu tính nhỏ bé. Người làm quan thường không hòa thuận với đồng liêu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Điều cầu chưa thành, hãy chờ thêm ít ngày.
Tài vận: Đã có cảm ứng, không cần lo lắng.
Gia trạch: Có thể giữ được bình an.
Sức khỏe: Bệnh sắp khỏi, còn có thể tăng thọ.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu ngũ động, biến thành quẻ 62 của Chu Dịch: Tiểu Quá, Lôi Sơn Tiểu Quá. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Cấn ở dưới và Chấn ở trên. Cấn là núi, Chấn là sấm. Sấm vang vượt qua núi, không thể không kinh sợ. Dương là lớn, âm là nhỏ; bốn hào âm bên ngoài vượt hơn hai hào dương ở giữa, nên gọi là “Tiểu Quá”, hơi vượt quá.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Hàm, hào từ: Cửu ngũ: Cảm ứng ở thịt sống lưng, không hối tiếc. Giải nghĩa hào từ.
“Muội” chỉ phần thịt dọc sống lưng, tức phần thịt phía trong sống lưng.
Ý nghĩa của hào từ này là: Sự cảm ứng xảy ra ở sống lưng, không phát sinh hối tiếc.
Xét theo tượng quẻ, Cửu ngũ là hào quân; hào dương ở vị trí dương nên đắc vị. Nhưng với địa vị tôn quý của bậc đế vương, điều cần cảm ứng phải là trăm họ trong thiên hạ.
Tượng phân tích hào này như sau: “Cảm ứng ở thịt sống lưng”, chí hướng còn ở chỗ cuối. Điều đó chỉ ra rằng “cảm ứng xảy ra ở lưng” cho thấy người ấy chỉ biết làm tốt cho riêng mình, vì thế chí hướng khó tránh khỏi quá nông cạn.
Người được hào này, trong chuyện tình cảm nam nữ, nên quan sát kỹ. Nếu đối phương không cảm ứng với mong muốn của bạn, có thể vì họ phản ứng chậm hoặc tâm trí không ở đó. Nếu vậy, bạn không cần tiếp tục uổng công lay động họ, nên từ bỏ nỗ lực ấy.
Cửu ngũ: Cảm ứng ở thịt sống lưng, không hối tiếc. Tượng truyện nói: Cảm ứng ở thịt sống lưng, chí hướng ở chỗ cuối.
Ý nghĩa kinh văn là: Cảm ứng đến lưng, không có lo buồn hay hối tiếc.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cảm ứng đến lưng, cho thấy tâm nguyện vẫn chưa hoàn thành. “Muội” chỉ phần thịt gần cột sống ở lưng người, tức đã rất gần trái tim. Điều đó cho thấy cảm ứng đã đến bộ phận nhạy cảm nhất; lưng người có nhiều kinh lạc nên cảm giác cực kỳ nhạy bén. Nhưng bên trên Cửu ngũ là Thượng cửu. Cửu ngũ tuy ứng với Lục nhị, nhưng vì bị Thượng lục chi phối nên không thể kết hợp với Lục nhị. Vì vậy Tượng từ nói: “Chí ở chỗ cuối.”
Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ ba mươi mốt trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục. Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi.
Tượng truyện nói: Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi; tai họa do lời nóiพลั้งปาก gây ra.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Làm đau hàm, má và lưỡi.
Tượng từ nói: Làm đau hàm, má và lưỡi là tai họa do nói năng tùy tiện gây nên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này dễ có nhiều tranh chấp khẩu thiệt, phải đề phòng bị người khác phỉ báng. Người làm diễn thuyết, nghệ thuật, bình luận thì cát. Người làm quan có thể bị quy trách nhiệm về lời nói.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tài ăn nói hơn người, lòng giữ chính trực.
Tài vận: Có họa khẩu thiệt, không thể không thận trọng.
Gia trạch: Tranh cãi bằng lời; người mai mối phóng đại.
Sức khỏe: Nói năng lung tung, nên cầu nguyện để được bình an.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第31卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng lục động, biến thành quẻ 33 của Chu Dịch: Độn, Thiên Sơn Độn. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Cấn ở dưới và Càn ở trên. Càn là trời, Cấn là núi. Dưới trời có núi, núi cao khiến trời lui. Âm tăng dương tiêu, kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử lui ẩn, sáng suốt bảo toàn mình và chờ cơ hội cứu thiên hạ.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Hàm, hào từ: Thượng lục: Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi.
Hào thứ sáu của quẻ Hàm, hào từ: Thượng lục: Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi. Giải nghĩa hào từ.
“Phụ” chỉ phần lợi răng trên khuôn mặt. “Giáp” chỉ má.
Ý nghĩa của hào từ này là: Sự cảm ứng xảy ra ở lợi răng, má và lưỡi.
Thượng lục: Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi. Tượng truyện nói: Cảm ứng ở hàm, má và lưỡi, đó là lời nói tuôn ra từ miệng.
Ý nghĩa kinh văn là: Cảm ứng đến lợi răng, má và lưỡi.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cảm ứng đến lợi răng, má và lưỡi, tức là nói năng bừa bãi, không hề kiêng dè.
“Phụ” chỉ lợi răng trên của con người, tức chỗ chân răng ở hàm trên. Người xưa nói “xe và bộ phận đỡ nương tựa nhau, môi và răng nương tựa nhau”, đều nói về các cơ quan trong miệng. “Xe” chỉ hàm dưới; “xe và bộ phận đỡ cùng tồn tại” nghĩa là hàm trên và hàm dưới nương tựa lẫn nhau, thiếu một bên thì không được. “Môi răng nương tựa nhau” nghĩa là môi và răng cũng dựa vào nhau, vì môi mất thì răng lạnh. Thượng quái của quẻ Hàm là Đoài, Đoài là miệng; hào âm trên cùng lại giống như răng, nên cảm ứng của Thượng lục đến quanh răng. “Lời nói tuôn ra từ miệng” nghĩa là do cảm ứng lẫn nhau mà lời nói không dứt, tuôn trào liên miên như dòng nước.