Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 40: quẻ Giải, Lôi Thủy Giải, Chấn trên Khảm dưới

Giải: Có lợi về phía tây nam. Không có nơi nào để đi thì trở về là tốt lành. Có nơi cần đến thì đi sớm là tốt lành.

Thoán truyện nói: Giải là ở trong hiểm mà vận động, vận động rồi thoát khỏi hiểm, đó là Giải. Giải có lợi về phía tây nam, vì đi đến đó sẽ được lòng dân. Trở về thì tốt lành, vì như vậy đạt được trung đạo. Có nơi để đi mà đi sớm thì tốt lành, vì đi sẽ lập công. Khi trời đất được giải tỏa, sấm mưa nổi lên; sấm mưa nổi lên thì trăm quả, cỏ cây đều nứt vỏ mà sinh trưởng. Ý nghĩa của Giải trong thời thế ấy lớn lao biết bao!

Tượng truyện nói: Sấm mưa nổi lên là Giải. Bậc quân tử noi theo đó mà tha thứ lỗi lầm và khoan dung với người có tội.

Sơ đồ quẻ 40: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 40 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Giải
Giải. Có lợi về phía tây nam. Không có nơi nào để đi thì trở về là tốt lành. Có nơi để đi thì đi sớm là tốt lành.
Tượng truyện nói: Sấm mưa nổi lên là Giải. Bậc quân tử noi theo đó mà tha thứ lỗi lầm và khoan dung với người có tội.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Giải: Có lợi khi đi về phía tây nam, nhưng nếu chưa có mục tiêu xác định thì thà quay về; quay về là tốt lành. Nếu có mục tiêu xác định thì nên đi sớm; đi sớm là tốt lành.
Tượng từ nói: Ngoại quái là Chấn, tượng sấm; nội quái là Khảm, tượng mưa. Sấm mưa cùng nổi lên, nuôi dưỡng muôn vật, đó là tượng của quẻ Giải. Bậc quân tử xem tượng ấy mà tha thứ lỗi lầm, khoan dung với người có tội, cho họ cơ hội làm lại cuộc đời.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Giải có Chấn trên Khảm dưới, là quẻ đời thứ hai của cung Chấn. Chấn là động, Khảm là hiểm. Gặp hiểm mà động là điềm sắp thoát hiểm, ra khỏi cảnh khốn đốn, vì vậy phần nhiều chủ về tốt lành.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Gian nan tan biến, giải quyết khó khăn và tranh chấp; nắm bắt thời cơ, tiến hành sớm.
Người được quẻ này có thể thoát khỏi khó khăn trước đây. Nên nắm bắt cơ hội tốt để mưu tính sự nghiệp; người ra ngoài tìm việc, tìm cơ hội sẽ càng thuận lợi hơn.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tai họa đã được giải, danh tiếng sẽ dâng cao.
Tài vận: Có thiên thời, địa lợi; quý nhất là nhân hòa.
Gia trạch: Cầu nguyện để giải trừ tai ách; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Dùng đúng thuốc thì bệnh khỏi.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khảm dưới Chấn trên. Chấn là sấm, là động; Khảm là nước, là hiểm. Hiểm ở bên trong, động ở bên ngoài. Mùa đông khắc nghiệt khiến trời đất bế tắc; tĩnh đến cực điểm thì động sinh. Muôn vật đổi mới, đông qua xuân đến, mọi thứ được giải tỏa, đó là Giải.
Đại tượng: Sấm xuân vang dội, đất đai tan băng, ví như đông qua xuân đến, sức sống lại xuất hiện.
Vận thế: Nên nắm bắt thời cơ, nhanh chóng xử lý khó khăn bên cạnh; càng nên ra ngoài mưu cầu, vì quý nhân ở phương xa, hướng tây nam là hướng tốt.
Sự nghiệp: Sinh khí mới bắt đầu hồi phục, nên nghỉ ngơi dưỡng sức; tĩnh lặng, giản dị, khoan dung và hòa thuận là tốt nhất. Khi chuẩn bị đầy đủ thì phải lập tức hành động, giành thế chủ động, không được trì hoãn. Đi đến đâu cũng có lợi, nhưng chớ tham lam vô độ. Cần cần kiệm, lấy cương nhu tương tế, lấy nhu làm chủ. Tránh xa kẻ tiểu nhân, đoàn kết với người quân tử, nương tựa lẫn nhau để cùng thành tựu sự nghiệp.
Kinh doanh: Hành động quý ở sự thần tốc; phải tích cực làm mới thoát khỏi hiểm cảnh. Người buôn bán nên theo chính đạo, tuyệt đối không phô trương ngoài phố; đó là hành động ngu xuẩn, tất sẽ tự chuốc họa.
Cầu danh: Mới bước ra đời, nên tiếp tục bồi đắp bản thân. Chờ thời cơ rồi hành động. Đặc biệt phải xa kẻ tiểu nhân, gần người quân tử cùng những người tài đức, để nhanh chóng nâng cao mình.
Hôn nhân, tình cảm: Nên tiến hành đúng thời điểm. Vợ chồng đồng lòng chung sức thì gia đình hòa thuận, tránh được tai họa.
Quyết định: Nên thận trọng, không nên mạo hiểm vì mọi việc vẫn ở giai đoạn đầu hồi phục. Muốn phát triển lớn, nhất thiết phải khoan dung với người, dùng nhu để trị, giao du rộng với người hiền, loại bỏ kẻ tiểu nhân; dùng phương thức trung dung, chính trực, kết hợp căng và chùng để mở mang sự nghiệp đang khởi sắc.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Tượng quẻ Giải, ý nghĩa tượng trưng của quẻ Lôi Thủy Giải
Quẻ Giải là sự chồng lên nhau của hai quái khác nhau, Khảm ở dưới, Chấn ở trên. Chấn là sấm, là động; Khảm là nước, là hiểm. Hiểm ở trong, động ở ngoài. Đại ý của quẻ là: sau mùa đông khắc nghiệt, khi nghe tiếng sấm đầu tiên trên trời, người ta biết nước trên mặt đất đã tan băng và mùa xuân đến. Điều đó có nghĩa muôn vật đã thoát khỏi mùa đông lạnh giá không thích hợp cho sự sống. “Mùa đông khắc nghiệt khiến trời đất bế tắc; tĩnh đến cực điểm thì động sinh. Muôn vật đổi mới, đông qua xuân đến, mọi thứ được giải tỏa, đó là Giải.”
Nhìn từ góc độ khác, Khảm dưới Chấn trên nói rằng chỉ cần có thể tích cực kiên trì hoạt động trong nguy hiểm, cuối cùng sẽ có ngày thoát khỏi hoàn cảnh hiểm nghèo và khó khăn.
Quẻ Giải đứng sau quẻ Kiển. Tự quái truyện giải thích: “Vật không thể mãi mãi ở trong gian nan, nên tiếp đến là Giải; Giải là nới lỏng.” Nghĩa là sự vật không thể luôn ở trong nguy nan, vì vậy sau quẻ Kiển biểu thị hiểm nạn là quẻ Giải, biểu thị hiểm nạn được giảm nhẹ.
Tượng truyện phân tích quẻ này: Sấm mưa nổi lên là Giải. Bậc quân tử noi theo đó mà tha thứ lỗi lầm và khoan dung với người có tội. Tượng quẻ Giải là Khảm (nước) ở dưới, Chấn (sấm) ở trên; Khảm cũng tượng trưng cho mưa. Sấm xuân từng hồi, mưa xuân rả rích, muôn vật vươn mình sinh trưởng; điều đó biểu hiện đầy đủ ý nghĩa Giải là giải trừ nguy nan. Bậc quân tử nên học tinh thần này, tha thứ người có lỗi, khoan dung người có tội, cho họ cơ hội làm lại cuộc đời. Đạo lý mà quẻ Giải gợi mở là: dùng đạo nhu để đem lại sự trị an.
Quẻ Giải tượng trưng cho sự tháo gỡ tai họa, nguy nan, thuộc nhóm quẻ trung thượng. Tượng truyện đoán quẻ này: Hiện nay thời vận như đang qua cửa ải, đã chịu bao cay đắng nhọc nhằn; khi thời đến, vừa hay có người cứu giúp, làm gì cũng không bị trở ngại.

Quẻ 40 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ Lục. Không lỗi.
Tượng truyện nói: Ở chỗ giao nhau giữa cương và nhu, xét về đạo lý thì không có lỗi.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Lục: Gieo được hào này thì không có tai họa.
Tượng từ nói: Sơ Lục tiếp với Cửu Nhị, là tượng cương nhu tương ứng, ví như vua tôi, vợ chồng đồng lòng chung sức, nên về đạo lý tự nhiên không có tai họa.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này kinh doanh thì tốt, người chưa kết hôn sẽ gặp đôi lứa. Người làm quan có đức và vị tương xứng, có hy vọng thăng tiến; người đi học đạt kết quả tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khó khăn mới bắt đầu được giải tỏa, không thể hành động càn quấy.
Tài vận: Không bị tổn thất đã là điều may mắn.
Gia trạch: Sống qua ngày bình an.
Sức khỏe: Mọi việc đều bình an vô sự.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ Lục biến, được quẻ thứ 54 trong Chu Dịch: Lôi Trạch Quy Muội. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Đoài dưới, Chấn trên. Chấn là động, là con trai trưởng; Đoài là vui, là thiếu nữ. Thiếu nữ đi theo con trai trưởng, nảy sinh tình cảm, có động thái hôn nhân và tượng gả con gái, nên gọi là Quy Muội.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất quẻ Giải, hào từ: Sơ Lục: Không lỗi. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa hào từ này là: Ở trong tình thế hiểm nạn vừa được giải tỏa, không có điều gì sai lầm hay không thích đáng.
Hào này là thời điểm khó khăn được tháo gỡ. Sơ Lục là hào âm ở vị trí âm, nằm ở tận cùng bên dưới quẻ Giải, nhu thuận và ở vị trí không nổi bật nên an toàn. Hơn nữa Sơ Lục ứng với Cửu Tứ của thượng quái về âm dương; tuy không đại cát nhưng cũng không có tai họa.
Tượng truyện giải thích hào này: Ở chỗ giao nhau giữa cương và nhu, xét về đạo lý thì không có lỗi. Điều đó chỉ ra rằng ở vào vị trí cương nhu bổ trợ lẫn nhau thì không có điều gì sai trái hay không thích đáng.
Người được hào này không có tai họa, không có biến cố, không có sai lầm, không có tội lỗi; mọi việc bình an. Điều đó có nghĩa công việc hay sự nghiệp đang theo đuổi đang chuyển biến theo hướng tốt, từ trạng thái hiểm trở trở về bình thường. Tuy nhiên, hiện giờ chưa nên hành động ngay mà cần chuẩn bị cho hành động trước.
Sơ Lục: Không lỗi.
Tượng truyện nói: Ở chỗ giao nhau giữa cương và nhu, xét về đạo lý thì không có lỗi.
Ý nghĩa kinh văn là: Không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sơ Lục và Cửu Nhị cương nhu tương tế, hợp với đạo nghĩa nên không có tai họa.
Hào Sơ Lục là hào thấp nhất của nội quái Khảm trong quẻ Giải. Khảm là hiểm, nên Sơ Lục ở bên rìa hiểm nạn; hơn nữa hào âm ở vị trí lẻ nên hoàn cảnh không tốt. Nhưng vì tương hợp âm dương với Cửu Nhị và tương ứng với Cửu Tứ, tai họa của Sơ Lục được giải trừ. Nói cách khác, tuy Sơ Lục có nạn nhưng có thể thoát ra, nên “không lỗi”.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị. Săn ngoài đồng bắt được ba con cáo, được mũi tên màu vàng. Giữ chính thì tốt lành.
Tượng truyện nói: Cửu Nhị giữ chính thì tốt lành vì đã đắc trung đạo.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Đi săn bắt được ba con cáo, trên con mồi có gắn mũi tên bằng đồng. Bói hỏi được điềm lành.
Tượng từ nói: Hào từ của Cửu Nhị nói bói được điềm lành vì Cửu Nhị ở vị trí trung tâm của nội quái, tượng người hành sự theo chính đạo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này đang gặp vận tốt, có thể thu được tài lợi. Người làm quan được vinh hoa phú quý, người đi học đạt thành tích xuất sắc.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tránh tà, trở về chính thì công danh có triển vọng.
Tài vận: Chăm chỉ kinh doanh thì có thể thu được lợi nhuận lớn.
Gia trạch: Đề phòng tà khí quấy nhiễu; có được chính thất.
Sức khỏe: Đề phòng tà niệm và tà bệnh.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Nhị biến, được quẻ thứ 16 trong Chu Dịch: Lôi Địa Dự. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khôn dưới Chấn trên. Khôn là đất, là thuận; Chấn là sấm, là động. Sấm xuất hiện đúng thời, báo hiệu mùa xuân trở lại mặt đất. Hành động thuận theo là nguồn gốc của hòa vui. Quẻ này và quẻ Khiêm là hai quẻ tổng đảo ngược, tác động qua lại.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai quẻ Giải, hào từ: Cửu Nhị: Săn ngoài đồng bắt được ba con cáo, được mũi tên màu vàng; giữ chính thì tốt lành. Giải nghĩa hào từ.
“Điền” chỉ việc săn bắn. “Cáo” chỉ con cáo, ví với kẻ tiểu nhân dùng lời gièm pha hãm hại người trung thành. “Mũi tên màu vàng” chỉ mũi tên màu vàng; mũi tên ví với sự cương trực.
Ý nghĩa hào từ này là: Khi đi săn bắt được nhiều con cáo, lại được mũi tên vàng tượng trưng cho đức hạnh. Giữ gìn phẩm đức ấy và kiên trì chính đạo thì có thể được cát tường.
Đạo lý mà hào Cửu Nhị gợi mở là: Muốn giải quyết khó khăn phải nắm giữ nguyên tắc trung dung và chính trực.
Xét theo tượng quẻ, hào Cửu Nhị ở giữa nội quái nên giữ trung dung, đồng thời ứng với Lục Ngũ ở vị trí quân chủ nên được tin cậy. Xét toàn quẻ, có bốn hào âm; ngoài Lục Ngũ ở ngôi quân chủ còn ba hào âm khác, nên nói “ba con cáo”. Cửu Nhị giương cung bắn tên, xua đuổi những kẻ tiểu nhân mê hoặc quân chủ, tức “ba con cáo”.
Tượng truyện phân tích hào này: Cửu Nhị giữ chính thì tốt lành vì đắc trung đạo. Điều đó cho thấy Cửu Nhị được cát lành vì có thể theo con đường trung chính, phù hợp với quy luật phát triển của sự vật.
Cửu Nhị dùng “mũi tên vàng” để xua đuổi kẻ tiểu nhân. Vàng là màu của đất, trong Ngũ hành gồm mộc, hỏa, thổ, kim, thủy thì là màu ở trung tâm. Mũi tên thẳng, tượng trưng rằng khi xua đuổi tiểu nhân phải dùng phương pháp trung dung và chính trực. Chỉ khi giữ chính đạo, đề cao công lý mới có thể đẩy lùi tiểu nhân; kết quả ấy đem lại cát tường.
Người được hào này cần nhớ: Giải quyết vấn đề không nên đi đến cực đoan, phải giữ con đường ở giữa; như vậy mới có thể loại bỏ mối nguy tiềm ẩn tốt hơn.
Cửu Nhị: Săn ngoài đồng bắt được ba con cáo, được mũi tên màu vàng; giữ chính thì tốt lành.
Tượng truyện nói: Cửu Nhị giữ chính thì tốt lành vì đã đắc trung đạo.
Ý nghĩa kinh văn là: Đi săn bắt được ba con cáo, được mũi tên vàng; giữ vững chính đạo thì cát tường.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cửu Nhị giữ chính mà được cát lành vì đang ở trên con đường trung chính.
Cửu Nhị ở giữa hiểm, lại có hào cương ở vị trí chẵn nên hoàn cảnh không tốt. Nhưng Cửu Nhị tương hợp với Sơ Lục, Lục Tam và ứng với Lục Ngũ, nhờ vậy có thể nhận được sự giúp đỡ của mọi người để thoát hiểm. “Ba con cáo” trong hào từ chỉ ba hào âm ấy. Cửu Nhị cũng ở giữa nội quái, có thể giữ nguyên tắc vừa phải; đó là “mũi tên vàng” trong hào từ. Màu vàng ở trung tâm Ngũ hành, ở đây ví cho đức trung của Cửu Nhị. Đức trung của Sơ Lục, Lục Tam, Lục Ngũ và bản thân Cửu Nhị giúp giải thoát hoàn cảnh của Cửu Nhị; vì vậy chỉ cần Cửu Nhị giữ chính đạo thì sẽ cát tường.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam. Mang vác lại ngồi xe, khiến giặc cướp kéo đến. Giữ chính thì đáng thẹn.
Tượng truyện nói: Vừa mang vác vừa ngồi xe cũng thật đáng xấu hổ. Tự mình chuốc lấy giặc giã, còn có thể trách ai?
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Mang nhiều của cải, vừa vác trên lưng vừa chở trên xe, phô trương khoe khoang nên tất nhiên thu hút giặc cướp đến cướp bóc. Bói hỏi là tượng có tai họa.
Tượng từ nói: Mang nhiều của cải, vừa vác vừa chở trên xe, phô trương để gọi trộm cướp đến là việc ngu xuẩn và đáng xấu hổ. Vì cất giấu hớ hênh, dạy cho trộm cướp biết mà tự chuốc giặc đến, còn trách ai được?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này phải đề phòng trộm cắp, tranh chấp và kiện tụng. Người làm quan cần cẩn thận nguy cơ bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Xưa nay hành xử không đứng đắn, tự chuốc lấy nhục nhã.
Tài vận: Cẩn thận phòng trộm cắp để tránh tổn thất.
Gia trạch: Khó phòng trộm cắp; giàu mà thiếu nhân nghĩa.
Sức khỏe: Tự ý dùng thuốc pha chế sẵn một cách bừa bãi là tự chuốc phiền phức.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Tam biến, được quẻ thứ 32 trong Chu Dịch: Lôi Phong Hằng. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Tốn dưới Chấn trên. Chấn là đàn ông, là sấm; Tốn là phụ nữ, là gió. Cương ở trên, nhu ở dưới; cương trên nhu dưới tạo nên sự thường hằng của tạo hóa, hỗ trợ và nuôi dưỡng lẫn nhau. Âm dương tương ứng, hợp với lẽ thường của nhân tình, nên gọi là Hằng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba quẻ Giải, hào từ: Lục Tam: Mang vác lại ngồi xe, khiến giặc cướp kéo đến; giữ chính thì đáng thẹn. Giải nghĩa hào từ.
“Phụ” nghĩa là mang vác trên lưng. “Thừa” nghĩa là ngồi hoặc đi trên xe.
Ý nghĩa hào từ này là: Vai mang đồ mà lại ngồi trên cỗ xe sang trọng thì sẽ gọi giặc cướp đến. Dù có giữ đúng bổn phận, khó khăn vẫn phát sinh.
Đạo lý hào này gợi mở là danh và thực phải tương xứng. Lục Tam là hào âm, tượng kẻ tiểu nhân nhưng lại ở địa vị cao; hơn nữa hào âm ở vị trí dương là không chính, phẩm đức không tương xứng với địa vị, tất nhiên sẽ thu hút những kẻ muốn cướp địa vị ấy. Dù giữ chính đạo cũng khó tránh nhục.
Tượng truyện phân tích hào này: “Mang vác lại ngồi xe” cũng thật đáng xấu hổ; tự mình chuốc giặc đến thì còn trách ai? Điều này chỉ ra rằng vừa mang đồ trên vai vừa ngồi xe sang là hành vi quá xấu xí, tất sẽ đem họa đến. Do chính mình gây ra chiến họa thì còn trách ai được? Chẳng qua là tự làm tự chịu.
Khổng Tử từng bình luận về hào này: “Người làm ra Kinh Dịch hẳn biết chuyện trộm cắp chăng? Kinh Dịch nói: ‘Mang vác lại ngồi xe, khiến giặc cướp kéo đến.’ Mang vác là việc của kẻ tiểu nhân; ngồi xe là phương tiện của bậc quân tử. Kẻ tiểu nhân mà ngồi phương tiện của quân tử thì giặc cướp sẽ nghĩ đến việc đoạt lấy. Bề trên ngạo mạn, bề dưới hung bạo thì giặc cướp sẽ nghĩ đến việc đánh phá. Cất giấu hớ hênh là dạy trộm cướp, dung nhan phô bày là dạy việc dâm loạn. Kinh Dịch”
nói: ‘Mang vác lại ngồi xe, khiến giặc cướp kéo đến.’ Đó là tự rước trộm cướp.” Ý Khổng Tử là: một kẻ thấp hèn vốn phải mang vác của cải lại ngồi cỗ xe cao quý dành cho người quân tử, đương nhiên sẽ chuốc giặc cướp đến.
Người được hào này không nên đối xử với cấp dưới bằng thái độ tự cho mình phi thường, cũng không nên phô trương sự giàu có; nếu không sẽ gặp sự chống đối và chịu tổn thất.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ. Cởi trói ngón chân cái của mình, bạn bè sẽ đến và lòng tin được xác lập.
Tượng truyện nói: Cởi trói ngón chân cái là vì địa vị chưa thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Kiếm được tiền nhưng lười biếng không muốn đi, rốt cuộc bị người khác bắt giữ.
Tượng từ nói: Lười biếng không muốn hành động cho thấy người ấy bê trễ chức trách, không xứng với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này phải đề phòng kẻ tiểu nhân hoặc tai họa do kết bạn không cẩn thận.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nhờ người khác mới thành việc, nhờ đó mới có cơ hội.
Tài vận: Lợi nhuận không nhiều, nhưng bạn bè trở nên chân thành, gắn bó.
Gia trạch: Khó được an cư; có người mai mối có thế lực.
Sức khỏe: Chạy bộ nhẹ để rèn luyện thân thể.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tứ biến, được quẻ thứ 7 trong Chu Dịch: Địa Thủy Sư. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khảm dưới Khôn trên. “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, ví việc giấu binh trong dân. Chiến tranh hung hiểm, dùng binh là điều bậc thánh nhân chỉ làm khi bất đắc dĩ, nhưng có thể giải quyết mâu thuẫn thuận lợi vì thuận theo tình thế, xuất quân có chính nghĩa, nên biến hung thành cát.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ


Hào thứ tư quẻ Giải, hào từ: Cửu Tứ: Cởi trói ngón chân cái, bạn bè sẽ đến và lòng tin được xác lập. Giải nghĩa hào từ.
“Mẫu” chỉ ngón chân cái. “Tư” nghĩa là như vậy, thế này. “Phu” nghĩa là thành tín.
Ý nghĩa hào từ này là: Thoát khỏi sự ràng buộc của kẻ tiểu nhân như tháo sợi dây buộc ngón chân cái; khi ấy người đồng chí hướng mới thành tâm, tin cậy mà đến giúp.
Hào thứ tư quẻ Giải, hào từ: Cửu Tứ: Cởi trói ngón chân cái, bạn bè sẽ đến và lòng tin được xác lập. Gợi mở cho cuộc đời.
Đạo lý hào này gợi mở là: Chỉ khi cắt đứt quan hệ với kẻ tiểu nhân mới nhận được sự tin cậy của người quân tử.
Trong Biểu dâng xuất quân có câu: “Thân với bậc hiền thần, xa kẻ tiểu nhân, đó là lý do Tiền Hán hưng thịnh; thân với kẻ tiểu nhân, xa bậc hiền thần, đó là lý do Hậu Hán suy vong.” Một khi con người giao du thân cận với kẻ tiểu nhân, người quân tử sẽ thất vọng rồi lần lượt bỏ đi. Một khi người ấy tách khỏi kẻ tiểu nhân, người quân tử nhìn thấy sẽ quay lại giao du; khi đó sự nghiệp của bản thân mới có thể phát triển.
Tượng truyện giải thích: “Cởi trói ngón chân cái” là vì địa vị không đúng. Điều này cho thấy việc thoát khỏi sự ràng buộc của kẻ tiểu nhân là do đang ở vị trí bất chính. Cửu Tứ là hào dương ở vị trí âm, lại không ở giữa, nên địa vị không chính.
Người được hào này đã gặp rắc rối trong công việc. Muốn giảm bớt mâu thuẫn, trước hết phải cắt đứt quan hệ với kẻ tiểu nhân hoặc loại bỏ kẻ tiểu nhân khỏi
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục Ngũ. Bậc quân tử được giải thoát; tốt lành, được cả kẻ tiểu nhân tin phục.
Tượng truyện nói: Quân tử được giải thoát thì kẻ tiểu nhân lui bước.
Giải thích bằng văn nói
Lục Ngũ: Quân tử bị giam cầm rồi được thả; tốt lành. Kẻ tiểu nhân sẽ bị trừng phạt.
Tượng từ nói: Quân tử giải chức kẻ tiểu nhân, cho thấy kẻ tiểu nhân bị gạt bỏ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này đang gặp vận tốt, có lợi cho người quân tử, người bệnh sẽ khỏi. Người làm quan sẽ giữ chức vụ quan trọng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Chính vận hanh thông, người quân tử có lợi.
Tài vận: Cứ thuận theo tự nhiên mà làm thì có lợi nhuận.
Gia trạch: Có thể ở ngôi nhà có phúc; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Khôi phục chính khí.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Ngũ biến, được quẻ thứ 47 trong Chu Dịch: Trạch Thủy Khốn. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khảm dưới Đoài trên. Đoài là âm, là đầm, tượng niềm vui; Khảm là dương, là nước, tượng hiểm nguy. Trạch Thủy Khốn nghĩa là rơi vào cảnh khốn đốn, tài trí khó thi triển. Tuy vậy, nếu vẫn giữ chính đạo, tự tìm được niềm vui thì ắt có thể thành việc, thoát khỏi khốn cảnh.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm quẻ Giải, hào từ: Lục Ngũ: Quân tử được giải thoát; tốt lành, được kẻ tiểu nhân tin phục. Giải nghĩa hào từ. “Duy” là trợ từ ngữ khí.
Ý nghĩa hào từ này là: Quân tử chỉ được cát tường sau khi tiêu trừ hiểm trở; cũng chỉ như vậy mới có thể thu phục được sự tin phục của kẻ tiểu nhân.
Xét theo tượng quẻ, Lục Ngũ ở vị trí giữa của thượng quái, có tượng vừa thi ân vừa dùng uy. Lục Ngũ là hào âm ở vị trí dương, có tính nhu thuận, có thể gần gũi bề tôi hiền tài, đồng thời vẫn giữ chữ tín với kẻ tiểu nhân. Một mặt dùng người quân tử cương kiện để trừ kẻ tiểu nhân gian tà; mặt khác dùng lòng thành để vỗ về, cảm hóa kẻ tiểu nhân, cho họ cơ hội sửa mình, nhờ đó mâu thuẫn được hóa giải.
được hóa giải.
Tượng truyện giải thích hào này: Quân tử được giải thoát thì kẻ tiểu nhân lui bước. Điều này chỉ ra rằng quân tử chỉ có thể giành được sự tin phục của tiểu nhân sau khi loại bỏ hiểm trở. Ở đây nhấn mạnh đạo lý dương trưởng âm tiêu: giữ vững chính khí của mình thì tà khí tự nhiên sẽ lui dần rồi biến mất.
Người được hào này, khi đối xử với cấp dưới trong công việc, một mặt nên dùng người có năng lực; mặt khác không nên từ bỏ hay trừng phạt kẻ tiểu nhân mà nên cảm hóa, khiến họ chuyển biến.
Lục Ngũ: Quân tử được giải thoát; tốt lành, dùng lòng thành cảm hóa kẻ tiểu nhân.
Tượng truyện nói: Quân tử được giải thoát thì kẻ tiểu nhân lui bước.
Ý nghĩa kinh văn là: Quân tử thoát khỏi cảnh khốn đốn, tốt lành; dùng lòng thành cảm hóa kẻ tiểu nhân.
Ý nghĩa Tượng từ là: Quân tử được giải thoát, thế lực của kẻ tiểu nhân suy giảm.
Lục Ngũ ở ngôi tôn quý, tương đương với quân chủ. Nhưng nó là hào trên của Khảm trong thượng hỗ quái, nên có tượng hiểm nạn và bị trói buộc. Thế ai có thể trói được quân chủ? Thông thường không ai dám làm vậy. Tuy nhiên, một số kẻ tiểu nhân vây quanh bên quân vương, giống như dây thừng trói buộc quân vương. Quân vương thoát khỏi cảnh ấy bằng cách nào? Chỉ có thân với hiền thần, xa kẻ tiểu nhân. Lục Ngũ đã làm được điều đó: tương hợp với Cửu Tứ là hiền thần, ứng với Cửu Nhị cũng là hiền thần, nhờ vậy tháo bỏ sự ràng buộc của tiểu nhân đối với mình. Tự giải thoát khỏi trói buộc đương nhiên là cát tường. Quân vương làm như vậy thực ra đang cảm hóa kẻ tiểu nhân, biến họ thành người quân tử.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ bốn mươi trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục. Công tước bắn chim ưng trên tường thành cao và bắt được nó; không gì là bất lợi.
Tượng truyện nói: Công tước bắn chim ưng để giải trừ sự ngang ngược và bạo loạn.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Trên tường thành cao, vương công bắn trúng một con chim ưng và bắt được nó; không có gì là không tốt lành.
Tượng từ nói: Vương công bắn chim ưng với ý định trừ kẻ cường bạo và dẹp sự hung bạo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này vận trình thuận lợi, mưu tính nhiều việc đều thu lợi. Quan chức đang ở chức nhàn sẽ được phục chức, giữ địa vị quan trọng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận trình thuận lợi, nhưng phải đề phòng giặc cướp nhỏ.
Tài vận: Cẩn thận phòng bị thì có lợi mà không tổn thất.
Gia trạch: Đề phòng trộm cắp.
Sức khỏe: Tập thể dục ngoài trời.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第40卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Thượng lục động biến thành quẻ thứ 64 của Chu Dịch: Hỏa Thủy Vị Tế. Quẻ này chồng hai quái khác nhau, Khảm ở dưới và Ly ở trên. Ly là lửa, Khảm là nước. Lửa ở trên, nước ở dưới; thế lửa lấn át thế nước, việc lớn dập lửa vẫn chưa hoàn thành, nên gọi là Vị Tế. Kinh Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, kết thúc bằng hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, phản ánh đầy đủ tư tưởng biến đổi và phát triển.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Giải, hào từ: Thượng lục: Công bắn chim ưng trên bức tường cao, bắt được nó, không gì bất lợi. Giải nghĩa hào từ
Công: chư hầu. Tuấn: loài chim hung dữ, tham tàn. Dung: chỉ tường thành.
Ý nghĩa của hào từ này là: Muốn giải trừ triệt để nội hoạn thì phải như bậc công hầu dùng tên bắn con chim dữ đang chiếm giữ trên tường thành cao; một mũi tên bắn trúng, không gì không lợi.
Đạo lý mà hào này gợi mở là khi đối phó với điều tà ác, phải dùng biện pháp quyết đoán.
Hào Thượng lục là hào âm ở vị trí mềm, nên đắc vị, đồng thời là vị trí cao nhất của quẻ. Đây là hào kết thúc quẻ Giải, tất nhiên cho thấy mọi khó khăn đều đã được giải trừ. Chim ưng là loài chim hung dữ; ở đây chỉ bọn loạn thần nghịch tặc gây nội hoạn. Thượng lục đối với bọn loạn thần nghịch tặc tham địa vị cao, không có hào ứng, cũng như đối với chim ưng đứng trên tường cao: bắn rơi chúng xuống, mọi việc đều tốt lành.
Tượng truyện giải thích hào này như sau: “Công bắn chim cắt”, là để giải trừ sự ngang ngược phản loạn. Điều này chỉ ra rằng người cai trị nên làm như vậy để giải trừ nguy nan do sự phản nghịch gây nên.
Người chiêm được hào này, trong sự nghiệp hoặc gia đình có thể xuất hiện mâu thuẫn; những mâu thuẫn ấy đến từ tầng lãnh đạo công ty hoặc thành viên gia đình. Trước tình hình đó, phải hạ quyết tâm, dám đối mặt, không được dây dưa do dự, cần nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn.
Thượng lục: Công bắn chim cắt trên tường thành cao, bắt được nó, không gì không lợi.
Tượng truyện nói: Công bắn chim cắt là để giải trừ sự phản nghịch.
Ý nghĩa kinh văn là: Vương công bắn đại bàng trên tường cao, bắn trúng, không gì không lợi.
Ý nghĩa Tượng từ là: Vương công bắn đại bàng để giải trừ kẻ cậy thế phản nghịch.
Thượng lục ở vị trí hào trên cùng của quẻ Giải, nên gọi là “tường cao”. Vì sao vương công phải đứng trên tường cao bắn chim ưng lớn? Là để cho người trong thiên hạ trông thấy. Việc vương công bắn chim ưng lớn thực ra ngụ ý chinh phạt các nước chư hầu không chịu quy thuận. Chinh phạt các nước chư hầu phản loạn là để thiên hạ thống nhất và hòa bình, dùng chiến tranh để giải trừ mối đe dọa của chiến tranh. Đối với một quốc gia, vừa cần dùng cách “gạt bỏ ngựa thiên lý” để tháo bỏ sự ràng buộc của kẻ tiểu nhân, vừa cần dùng vũ lực để giải trừ mối đe dọa phản loạn; đó chính là văn trị và võ bị. Vương công chinh phạt phản loạn thành công thì đương nhiên không còn điều gì bất lợi.