Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 53, quẻ Tiệm, Phong Sơn Tiệm, Tốn trên Cấn dưới

Tiệm: Người con gái đi lấy chồng thì tốt lành; giữ chính thì có lợi.

Thoán truyện nói: Tiệm là tiến lên; người con gái đi lấy chồng thì tốt lành. Tiến mà được đúng vị, đi tới sẽ có công. Tiến theo chính đạo thì có thể chỉnh đốn đất nước. Vị trí cứng của quẻ được trung. Dừng mà thuận theo, nên hành động không cùng khốn.

Tượng truyện nói: Trên núi có cây, đó là Tiệm. Người quân tử noi theo, an trú nơi đức hạnh hiền thiện và làm phong tục tốt đẹp.

Sơ đồ quẻ 53: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 53 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Tiệm
Tiệm. Người con gái đi lấy chồng thì tốt lành; giữ chính thì có lợi.
Tượng truyện nói: Trên núi có cây, đó là Tiệm. Người quân tử noi theo, an trú nơi đức hạnh hiền thiện và làm phong tục tốt đẹp.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Tiệm: Người con gái đến tuổi thì nên lấy chồng, đó là việc tốt. Đây là điềm bói tốt nếu giữ chính.
Tượng truyện nói: Hạ quái là Cấn, tượng núi; thượng quái là Tốn, tượng cây. Cây trồng trên núi không ngừng lớn lên, đó là quẻ tượng của Tiệm. Người quân tử quan sát tượng ấy, noi theo việc núi nuôi dưỡng rừng cây, lấy đức hạnh hiền thiện làm chỗ ở và gánh vác trách nhiệm xã hội cải thiện phong tục.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Tiệm có Tốn trên Cấn dưới, là quẻ Quy Hồn của cung Cấn. Tiệm là tiến dần; gieo được quẻ này thì phụ nữ kết hôn tốt lành, làm việc gì cũng có lợi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tuần tự tiến lên, tích ít thành nhiều; tiến dần thì có lợi, nóng vội thì thất bại.
Người được quẻ này vận thế dần dần hanh thông. Mọi việc nên tuần tự tiến hành thì mưu sự có thể thành; không nên tiến gấp, nóng vội sẽ thất bại.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thời vận xoay chuyển, có thể được như ý.
Tài vận: Dần dần thu được lợi; nên làm nhiều việc thiện.
Gia trạch: Người quân tử cư trú; có thể cưới người phụ nữ hiền đức làm vợ.
Sức khỏe: Ở yên tĩnh dưỡng sức.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị, do Cấn ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Cấn là núi, Tốn là cây. Cây trên núi dần dần lớn lên, núi cũng theo đó mà cao thêm. Đây là quá trình tiến bộ từng bước, nên gọi là Tiệm; Tiệm là tiến, tiến dần dần chứ không vội vàng.
Đại tượng: Trên núi có cây cối dần dần sinh trưởng, ví như tiến hành tuần tự.
Vận thế: Dần dần hướng tới tương lai sáng sủa. Mọi việc nên xây nền tảng trước thì được cát khánh, nhưng phải đề phòng tai nạn về sắc dục và sai sót, thất lạc giấy tờ.
Sự nghiệp: Sau một thời kỳ tương đối tĩnh lặng, sự nghiệp bắt đầu giai đoạn mới. Điều đáng sợ nhất lúc này là nóng vội tiến quá mức; nhất thiết phải tuần tự tiến lên, chân đứng vững trên đất. Đồng thời chú trọng tu dưỡng phẩm đức, dùng thái độ trầm tĩnh và khiêm nhường đối đãi với công việc thì làm gì cũng không bất lợi.
Kinh doanh: Đang ở giai đoạn phát triển tiến lên vững vàng, cần nắm bắt thời cơ, không được lạc quan mù quáng, cũng không nên dừng bước; nên áp dụng chiến lược tiến từng bước, làm việc trong khả năng của mình. Tuân thủ đạo đức kinh doanh, dùng dịch vụ tốt để khai thác thị trường.
Cầu danh: Noi theo tinh thần cây cối bén rễ trên núi rồi dần dần sinh trưởng. Hãy vững vàng nâng cao bản thân cả về phẩm đức lẫn học nghiệp. Đồng thời gánh vác trách nhiệm cải thiện phong tục xã hội. Cầu danh nên tiến dần, tuyệt đối không nóng vội.
Hôn nhân tình cảm: Không thể nóng vội. Hạnh phúc, viên mãn; vợ chồng hòa thuận đến bạc đầu.
Quyết định: Thời điểm vận thế xoay chuyển đã đến, tuyệt đối chớ bỏ lỡ cơ hội tốt. Nhất định phải thận trọng, tiến từng bước sẽ có ích và có lợi. Đối nhân xử thế bằng thái độ khiêm hòa thì có thể nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ và đạt thành công lớn.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ năm mươi ba

Quẻ tượng Tiệm và ý nghĩa tượng trưng của quẻ Mộc Sơn Tiệm
Quẻ Tiệm do các quái dị chồng lên nhau, hạ quái là Cấn, thượng quái là Tốn. Cấn là núi, Tốn là cây. Cây trên núi dần dần lớn lên, núi cũng theo đó mà cao thêm. Đây là quá trình tiến bộ từng bước nên gọi là Tiệm. “Tiệm” tức là “tiến”, tiến dần dần mà không vội.
Quẻ Tiệm đứng sau quẻ Cấn. Tự Quái truyện giải thích: “Muôn vật không thể dừng mãi, nên quẻ Tiệm tiếp theo. Tiệm là tiến vậy.” Quẻ Cấn bàn về dừng; dừng đến tận cùng thì lại phải bắt đầu hoạt động, lúc đó quẻ Tiệm xuất hiện. Tiệm là tiến, hơn nữa là tiến dần có trật tự. Tạp Quái truyện nói: “Tiệm là người con gái chờ người con trai hành động rồi mới xuất giá.” Thời xưa, phụ nữ muốn lấy chồng phải chờ nhà trai làm lễ dạm hỏi để mọi việc tiến hành theo thứ tự; điều này cũng thể hiện đặc điểm của Tiệm.
Tượng truyện giải thích quẻ Tiệm: Trên núi có cây, đó là Tiệm; người quân tử noi theo, an trú nơi đức hạnh hiền thiện và làm phong tục tốt đẹp. Điều này chỉ ra quẻ tượng có Cấn, tượng núi, ở dưới và Tốn, tượng gió, ở trên; cho thấy cây trên núi cao dần dần sinh trưởng, tượng trưng cho tiến hành tuần tự. Người quân tử quan sát cây trên núi dần lớn lên, rồi tu dưỡng đức tính, cải thiện phong tục, lễ nghi và tập quán xã hội.
Quẻ Tiệm tượng trưng cho tiến hành tuần tự, dạy đạo lý tiến dần để tích lũy đức, thuộc thượng thượng quái. Tượng truyện đoán quẻ này: Chim tuấn tú may mắn thoát khỏi lồng, rời xa tai họa mà phô bày uy phong; một sớm đắc ý thì phúc lực kéo đến, đi khắp đông tây nam bắc tùy ý.

Quẻ 53 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào đầu, Cửu sơ, của quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục: Chim nhạn dần đến bờ; đứa trẻ gặp nguy hiểm, bị lời trách mắng, nhưng không lỗi.
Tượng truyện nói: Sự nguy hiểm của đứa trẻ, xét theo đạo nghĩa, không có lỗi.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Chim nhạn đi vào khe núi. Gieo được hào này, hãy cảnh giác trẻ nhỏ nghịch ngợm gặp nguy hiểm; nên trách mắng, uốn nắn thì không có tai họa.
Tượng truyện nói: Trẻ nhỏ nghịch ngợm gặp nguy hiểm, nhưng vì cha mẹ quở trách và ngăn lại nên theo đạo lý sẽ không xảy ra sự cố.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người gặp hào này vận khí không tốt, mưu cầu bất lợi.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận may mới bắt đầu, phải kiên nhẫn.
Tài vận: Đã có hẹn ước từ trước; nên đề phòng kẻ tiểu nhân.
Gia trạch: Chưa có trở ngại lớn; con gái nhiều, con trai ít.
Sức khỏe: Người lớn không sao, trẻ nhỏ nên đi khám.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Sơ lục biến thành quẻ thứ 37 của Chu Dịch: Phong Hỏa Gia Nhân. Đây là quẻ dị, do Ly ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Ly là lửa, Tốn là gió. Lửa làm không khí nóng bốc lên thành gió. Mọi sự nên lấy bên trong làm gốc rồi mở rộng ra bên ngoài: phát sinh ở trong, thành hình ở ngoài. Quẻ ví việc trước hết trị gia rồi mới trị thiên hạ; gia đạo chính thì thiên hạ an vui.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào đầu của quẻ Tiệm, hào từ: Sơ lục: Chim nhạn dần đến bờ; đứa trẻ gặp nguy hiểm, bị lời trách mắng, nhưng không lỗi. Giải nghĩa hào từ.
Can: Thông với chữ “ngạn”, nghĩa là “bờ”. “Có lời”: chỉ việc có lời oán trách và bị người khác bàn tán.
Ý nghĩa của hào từ này là: Trước khi di chuyển đi xa, chim nhạn tụ tập bên bờ sông, chuẩn bị bay theo đàn. Chim non không biết đường đi hiểm nguy, không thể kiên nhẫn chờ đợi nên bị mọi người trách móc. Nếu làm việc theo tuần tự thì sẽ không bị hại.
Xét về quẻ tượng, Sơ lục là hào âm ở vị trí mềm, tài chất yếu, giống chim nhạn non chưa đủ năng lực. Nó ở vị trí khởi đầu, không ở trung vị, cho thấy làm việc không giữ được trung đạo, có ý nóng vội tiến lên. Như chim non nóng lòng di chuyển, không kiên nhẫn chờ đợi mà năng lực lại thiếu, nên bị người khác trách. Tuy vậy, vì người ta thấy nó còn nhỏ và non nớt nên không gây khó dễ, trách xong vẫn giúp đỡ.
Tượng truyện giải thích hào này: “Sự nguy hiểm của đứa trẻ” xét theo đạo lý thì không có lỗi. Điều này chỉ ra rằng chim nhạn non không biết đường đi hiểm nguy, không thể kiên nhẫn chờ đợi nên bị mọi người trách, nhưng thực tế sẽ không xảy ra nguy hiểm gì.
Người gặp hào này có thể còn trẻ, vừa tốt nghiệp và bắt đầu đi làm, hoặc đã đổi việc, bước vào một ngành xa lạ. Trong đơn vị có một nhiệm vụ quan trọng mà mọi người đang cẩn thận tính toán, còn bạn cho rằng không cần như vậy nên cứ làm ngay. Lãnh đạo hoặc nhân viên lâu năm có thể trách bạn, nhưng thấy bạn mới đến, chưa hiểu nhiều nên sẽ không đả kích quá mức.
Người gặp hào này nhất định phải nhận thức mình còn non nớt, thiếu hiểu biết hoặc thiếu kinh nghiệm. Làm việc đừng nóng vội, hãy tuần tự tiến lên. Nên tích lũy sức lực, đừng vội nêu quan điểm; hãy xem mọi người làm thế nào rồi làm theo, như vậy mới tránh bị trách móc.
Sơ lục: Chim nhạn dần đến bờ; đứa trẻ gặp nguy hiểm, bị lời trách mắng, nhưng không lỗi.
Tượng truyện nói: Sự nguy hiểm của đứa trẻ bên nước, xét theo đạo nghĩa, không có lỗi.
Ý nghĩa kinh văn là: Chim nhạn dần bay đến bên nước; chim non gặp nguy hiểm nhưng được chim nhạn lớn gọi lại, nên không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự nguy hiểm của chim nhạn non, xét theo đạo lý, không nên dẫn đến tai họa đột ngột.
Giải thích chi tiết hào thứ hai, Cửu nhị, của quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục nhị: Chim nhạn dần lên mỏm đá, ăn uống vui vẻ, tốt lành.
Tượng truyện nói: Ăn uống vui vẻ nghĩa là không ăn no suông.
Giải thích bằng văn nói
Hào sáu ở vị trí thứ hai: Chim nhạn hoang dã đi lên vùng đất cao bên mép nước, ăn uống no đủ, tự tại và vui sướng. Bói gặp hào này thì tốt lành.
Tượng truyện nói: Ăn uống no đủ, tự tại vui vẻ, ví như người tự nuôi sống bản thân, không bao giờ ăn không uống không của.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt: Người gặp hào này đi đâu cũng không bất lợi, ở đâu cũng yên ổn.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khách và chủ đều an vui, danh lợi đều có.
Tài vận: Ngày càng tăng, vững như bàn thạch.
Gia trạch: Sống hòa vui bên nhau; cùng nhau đến đầu bạc trăm năm.
Sức khỏe: Chứng bệnh do ăn uống quá độ.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục nhị biến thành quẻ thứ 57 của Chu Dịch: Tốn vi Phong. Đây là quẻ đồng loại chồng lên nhau, Tốn dưới Tốn trên. Tốn là gió; hai luồng gió chồng nhau tạo thành gió dài không dứt, len vào mọi kẽ hở. Tốn cũng tượng sự thuận theo và thái độ, hành vi khiêm nhường, nên làm gì cũng không bất lợi.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Tiệm, hào từ: Lục nhị: Chim nhạn dần đến mỏm đá, ăn uống vui hòa, tốt lành. Giải nghĩa hào từ.
“Bàn” chỉ tảng đá lớn. “Khản khản” miêu tả bầu không khí hòa hợp, vui vẻ.
Ý nghĩa của hào từ này là: Chim nhạn đã dần dần từ bờ sông tiến lên, tụ tập trên tảng đá, làm sự chuẩn bị cuối cùng trước khi lên đường. Cùng nhau ăn uống yên vui, hòa thuận thì tốt lành.
Xét về quẻ tượng, Lục nhị là hào âm ở vị trí mềm, ứng với quân chủ Cửu ngũ ở trên. Lục nhị giữ được trung và chính, không nóng vội tiến lên, theo quy củ mà tuần tự tiến hành. “Ăn uống” là chuẩn bị ăn no để làm một phen lớn.
Tượng truyện giải thích: “Ăn uống vui hòa” nghĩa là không phải chỉ ăn không ngồi rồi, chẳng làm gì.
Người gặp hào này vẫn chưa đến lúc tung cánh bay cao. Hãy từng bước chuẩn bị, chờ thời cơ đến thì mới có thể phô diễn hết khả năng. Mọi việc đều có trình tự riêng, không thể một bước là xong; cần nhận thức quá trình ấy, chớ nóng vội tiến lên.
Lục nhị: Chim nhạn dần bay đến tảng đá, ăn uống vui hòa, tốt lành.
Tượng truyện nói: Ăn uống vui vẻ nghĩa là không ăn no suông.
Ý nghĩa kinh văn là: Chim nhạn dần bay đến tảng đá, ăn uống vui hòa thì tốt lành.
Giải thích chi tiết hào thứ ba, Cửu tam, của quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Hào từ Cửu Tam
Cửu tam: Chim nhạn dần đến đất cao; chồng xuất chinh không trở về, vợ có thai mà không sinh được, hung. Có lợi cho việc chống giặc cướp.
Tượng truyện nói: Chồng xuất chinh không trở về là vì rời khỏi đàn mà gặp nguy hiểm. Vợ có thai mà không sinh được là vì đánh mất đạo lý đúng đắn. Có lợi cho việc chống giặc cướp là vì người trong nước đồng lòng bảo vệ đất nước.
Giải thích bằng văn nói
Cửu tam: Chim nhạn đi đến vùng đất khô. Gieo được hào này, người chồng ra trận có thể không trở về, người phụ nữ mang thai có thể sảy thai; đây là điềm dữ. Tuy vậy, chống giặc cướp thì có lợi.
Tượng truyện nói: Chồng xuất chinh không trở về, cho thấy đã lạc khỏi đội ngũ và gặp nguy hiểm. Người phụ nữ mang thai mà sảy thai, cho thấy đã mất đạo lý bảo vệ thai nhi. Có lợi cho việc chống giặc cướp, cho thấy người dân có thể đồng tâm đồng đức bảo vệ quê hương đất nước.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người gặp hào này nhiều kinh động, nhân tình bất hòa, bị trộm cướp xâm hại. Người làm quan gặp trở ngại trên đường tiến thân, có nỗi lo bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế không chính, phải đề phòng tai họa.
Tài vận: Khó thu được lợi, đề phòng trộm cướp.
Gia trạch: Bất lợi cho sinh nở, phải đề phòng chia lìa.
Sức khỏe: Khi sinh nở e rằng khó bảo toàn cả mẹ lẫn con.

Quẻ biến của hào Cửu Tam
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Cửu tam biến thành quẻ thứ 20 của Chu Dịch: Phong Địa Quán. Đây là quẻ dị, do Khôn ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Gió thổi trên mặt đất, ví như giáo hóa đạo đức được ban rải khắp nơi. Quẻ Quán và quẻ Lâm là quẻ tổng phản chiếu của nhau, dùng đối ứng lẫn nhau. Người ở trên dùng đạo nghĩa quan sát thiên hạ; người ở dưới kính ngưỡng nhìn lên, lòng người thuận phục quy theo.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Tiệm, hào từ: Cửu tam: Chim nhạn dần đến đất cao; chồng xuất chinh không trở về, vợ có thai mà không sinh được, hung. Có lợi cho việc chống giặc cướp. Giải nghĩa hào từ.
“Lục” chỉ đỉnh núi tương đối bằng phẳng. “Không trở lại” nghĩa là không quay về.
Ý nghĩa của hào từ này là: Chim nhạn cất cánh, dần tiến đến đỉnh núi tương đối bằng phẳng; mỗi con đều phải bám sát đàn. Nếu hành động đơn độc thì khó trở về. Cũng không được tùy tiện chạy theo tư tình, tự ý kết hợp, nếu không sẽ có thai mà khó sinh, rõ ràng là việc dữ. Giữ chính đạo và phòng thủ thận trọng thì có thể chống sự xâm phạm của kẻ địch.
Tượng truyện giải thích hào này: “Chồng xuất chinh không trở về” là vì rời khỏi đồng loại, điều đáng lo. “Vợ có thai mà không sinh được” là vì mất đạo của phụ nữ. “Có lợi cho việc chống giặc cướp” là vì giữ chính đạo thì có thể hòa thuận bảo vệ lẫn nhau. Điều này chỉ ra rằng rời khỏi đồng loại là đáng ưu tư; mang thai mà không sinh được là do trái đạo lý đúng đắn; giữ chính thì có thể thuận hòa bảo vệ nhau.
Người gặp hào này, nếu muốn thành tựu sự nghiệp thì nhất định phải dựa vào một tập thể; đơn thương độc mã khó đạt thành công. Trong tập thể phải tuân thủ kỷ luật, không được làm bừa. Mọi người đoàn kết với nhau thì càng có lợi cho việc chống lại khó khăn.
Người gặp hào này, nếu không nghe lời can ngăn, rời quê hương đi làm việc mạo hiểm, việc muốn làm sẽ không thành, người giúp bạn cũng vì thế mà chịu liên lụy, còn bạn sẽ phiêu bạt bên ngoài lâu dài, khó trở về nhà.
Cửu tam: Chim nhạn dần đến đất cao; chồng xuất chinh không trở về, vợ có thai mà không sinh được, hung. Có lợi cho việc chống giặc cướp.
Tượng truyện nói: Chồng xuất chinh không trở về vì đã rời khỏi đàn.
Giải thích chi tiết hào thứ tư, Lục tứ, của quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ: Chim nhạn dần đến cây, có con tìm được cành ngang, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có thể tìm được cành ngang là nhờ thuận theo và khiêm nhường.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Chim nhạn bay đến cây, có con đậu trên những khúc gỗ xếp bên bờ sông. Gieo được hào này thì không có tai họa.
Tượng truyện nói: Chim nhạn đậu trên những khúc gỗ xếp bên bờ sông mà không gặp tai họa, vì Lục tứ là hào âm ở dưới Cửu ngũ là hào dương, giống người có đức thuần phục và khiêm nhường.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người gặp hào này có lợi cho xây dựng, tự cung tự cấp. Người làm quan nên tùy ngộ nhi an, việc thăng chức chưa định.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tùy ngộ nhi an thì có thể tránh lỗi.
Tài vận: Lợi nhuận rất ít, giữ được vốn là đủ.
Gia trạch: Có thể phải sống góa bụa.
Sức khỏe: Can hỏa quá thịnh.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Hào Lục tứ biến thành quẻ thứ 33 của Chu Dịch: Thiên Sơn Độn. Đây là quẻ dị, do Cấn ở dưới và Càn ở trên chồng lên nhau. Càn là trời, Cấn là núi. Dưới trời có núi, núi cao mà trời lui. Âm tăng dương tiêu, kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử lui ẩn, giữ mình sáng suốt và chờ cơ hội cứu thiên hạ.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Tiệm, hào từ: Lục tứ: Chim nhạn dần đến cây, có con tìm được cành ngang, không lỗi. Giải nghĩa hào từ.
“Cây” chỉ cây lớn. “Giác” là chỗ thân cây tách thành cành chính, thường là nơi chim làm tổ và trú đậu.
Ý nghĩa của hào từ này là: Chim nhạn bay lên, dần tiến vào một khu rừng lớn, có thể tìm được cành tương đối bằng phẳng để đậu nghỉ, không gây tai họa.
Xét về quẻ tượng, Lục tứ là hào âm ở vị trí mềm, gần Cửu ngũ nên thuộc hàng đại thần cận quân. Tuy hoàn cảnh của Lục tứ không ổn định: hào lấy chim nhạn đậu trên cây làm ví dụ, nhưng nhạn là loài chim nước, chân có màng khác móng chim, nên đứng trên cây không vững, “đậu mà không yên”, luôn phải đề phòng rơi xuống; vì vậy cây không phải nơi trú lâu dài. Tuy nhiên Lục tứ có thể hoàn toàn nghe theo Cửu ngũ, thuận phục chờ đợi, nên được che chở và không gặp tai họa.
Tượng truyện giải thích hào này: “Có con tìm được cành ngang” là thuận theo và mềm mỏng. Điều này chỉ ra rằng có thể tìm được cành tương đối bằng phẳng để đậu nghỉ, cho thấy Lục tứ mềm thuận và phục tùng.
Người gặp hào này có thể tìm được vị trí mới hoặc được giới thiệu lên chức vụ cao hơn, nhưng khi thực sự bắt tay làm sẽ nhận ra nơi đó không an toàn; phải hết sức thận trọng, nếu không có thể bị bãi chức. Lúc này nên thể hiện sự mềm mỏng và phục tùng với lãnh đạo hoặc cấp trên. Được lãnh đạo coi trọng và quan tâm thì sẽ không xảy ra sai sót.
Lục tứ: Chim nhạn dần đến cây, có con gặp tai họa, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có thể tìm được cành ngang là nhờ thuận theo và khiêm nhường.
Giải thích chi tiết hào thứ năm, Cửu ngũ, của quẻ thứ năm mươi ba Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu ngũ: Chim nhạn dần đến gò núi. Người vợ ba năm không có thai, nhưng cuối cùng không ai thắng được hay thay thế nàng; tốt lành.
Tượng truyện nói: Cuối cùng không ai thắng được hay thay thế nàng, nên tốt lành, vì điều mong muốn đã đạt được.
Giải thích bằng văn nói
Cửu ngũ: Chim nhạn đi đến gò núi. Gieo được hào này, người vợ có thể nhiều năm không mang thai, nhưng cuối cùng không bị ai thay thế; tốt lành.
Tượng truyện nói: Cuối cùng không bị ai thay thế nên tốt lành, vì người vợ thực hiện được nguyện vọng sống hòa thuận bạc đầu cùng chồng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt: Người gặp hào này trước khó sau dễ. Người làm quan thường bị gièm pha, trước tối sau sáng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế trung chính, ba năm ắt thành.
Tài vận: Trước mắt bình thường, ba năm sau phát đạt lớn.
Gia trạch: Có thể an cư; việc có con hơi muộn.
Sức khỏe: Ba năm có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Ngũ biến, quẻ trở thành quẻ 52 của Chu Dịch: Cấn vi Sơn. Quẻ này là hai quái giống nhau chồng lên nhau, Cấn dưới và Cấn trên. Cấn là núi; hai núi chồng lên nhau, tượng cho sự tĩnh chỉ. Quẻ này đối lập với quẻ Chấn. Sau cao trào tất nhiên sẽ xuất hiện thoái trào, sự vật bước vào giai đoạn tương đối tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng như núi: nên dừng thì dừng, nên tiến thì tiến. Động hay tĩnh đều không được bỏ lỡ thời cơ; phải vừa đúng mức, động tĩnh thích đáng, biết dừng ở chỗ nên dừng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Tiệm, hào từ: Cửu Ngũ: Chim hồng dần dần tiến đến gò đồi; người vợ ba năm không thụ thai, nhưng cuối cùng không gì thắng nổi, tốt lành. Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Chim hồng bay lên, dần dần tiến tới gò đồi, ví như người chồng đi xa, người vợ ba năm không có thai; nhưng tà cuối cùng không thể thắng chính, vì vậy sau cùng đạt được điều tốt lành.
Xét về quái tượng, hào dương Cửu Ngũ ở ngôi quân chủ, giữ vị trí trung chính. Hào này chính ứng với Lục Nhị, tượng trưng cho đôi vợ chồng đều giữ trung chính, cuối cùng đạt được điều tốt lành.
Tượng truyện giải thích hào này như sau: “Cuối cùng không gì thắng nổi, tốt lành” là đạt được điều mong muốn. Điều này chỉ ra rằng tà đạo dù kéo dài cũng không thể thắng chính đạo, vì thế được tốt lành và thực hiện được nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ.
Người được hào này có thể đã gặp trở ngại trong sự nghiệp, nhưng nhờ giữ đạo chính và nỗ lực khắc phục, nay cuối cùng thực hiện được nguyện vọng. Về hôn nhân, có thể vì nhiều ngăn trở mà vợ chồng khó đoàn tụ, nhưng hai bên vẫn trung thành với nhau, không phản bội, cuối cùng có thể sum họp.
Cửu Ngũ: Chim hồng dần dần tiến đến gò đồi; người vợ ba năm không thụ thai, nhưng cuối cùng không gì thắng nổi, tốt lành.
Tượng truyện nói: Cuối cùng không gì thắng nổi, tốt lành; đạt được điều mong muốn.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu của quẻ thứ 53 trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng Cửu: Chim hồng dần dần tiến đến đất bằng; lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành.
Tượng truyện nói: Lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành; không thể để rối loạn.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Cửu: Chim hồng đi đến đỉnh núi, lông của nó có thể dùng để bện thành vật dụng múa. Đây là điềm tốt lành.
Tượng truyện nói: Lông chim hồng có thể dùng để bện thành vật dụng múa, đó là điềm tốt. Lông dùng để bện vật múa phải thuần nhất, không tạp, cũng như lòng dạ và chí hướng con người không được rối loạn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này sẽ được người khác tiến cử, mưu cầu thành tựu, tai họa không xâm phạm, nhiều phúc nhiều lợi. Người làm quan gặp vận lớn, được trọng dụng. Người học hành đạt thành tích tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đại vận đến, mưu cầu thành tựu.
Tài vận: Hàng hóa giá vốn tốt, giá bán cao, tự nhiên thu được lợi.
Gia trạch: Huy hoàng đáng ngắm; hôn nhân tốt lành.
Sức khỏe: Khỏe mạnh, linh hoạt.

Quẻ biến của hào Thượng Cửu
"周易第53卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào trên cùng biến, quẻ trở thành quẻ 39 của Chu Dịch: Thủy Sơn Kiển. Đây là quẻ dị, Cấn ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước, Cấn là núi. Núi cao nước sâu, khó khăn chồng chất, đời người nhiều hiểm trở; thấy nguy thì dừng, biết tự bảo toàn một cách sáng suốt, đó có thể gọi là trí tuệ. Kiển nghĩa là bước đi gian nan.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Tiệm, hào từ: Thượng Cửu: Chim hồng dần dần tiến đến đất bằng; lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành. Giải nghĩa hào từ
Đàn chim nhạn nhờ bay từng bước, có trật tự, cuối cùng đạt tới đích. Nghi lễ hôn lễ cũng không thể rối loạn. Trong sáu bước của hôn lễ cổ đại, bước đầu là nạp thái, dùng chim nhạn; bước cuối là thân nghinh, khi chú rể đi đón dâu phải cài lông nhạn lên mũ. Điều này cũng tượng trưng cho sự kết hợp viên mãn đạt được qua những bước tuần tự.
Tượng truyện giải thích hào này: “Lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành”, tức là không được rối loạn. Điều này chỉ ra rằng lông đẹp có thể làm vật trang trí trong nghi lễ, là điềm tốt; các nghi lễ, kể cả hôn lễ, không thể tùy tiện rối loạn. Người được hào này đã hành động tuần tự trước đây, làm việc vững chắc từng bước, cuối cùng đạt được kết quả viên mãn.
Thượng Cửu: Chim hồng dần dần tiến đến đất bằng; lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành.
Tượng truyện nói: Lông của nó có thể dùng làm vật trang nghiêm, tốt lành; không được để rối loạn.