Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 54, quẻ Quy Muội, Lôi Trạch Quy Muội, Chấn trên Đoài dưới

Quy Muội: Tiến hành thì hung, không có gì lợi.

Thoán truyện nói: Quy Muội là đại nghĩa của trời đất. Trời đất không giao hòa thì muôn vật không hưng thịnh. Quy Muội là khởi đầu và kết thúc của đời người. Vui thì dẫn đến động, nơi trở về là người em gái. “Tiến hành thì hung” vì vị trí không thích đáng. “Không có gì lợi” vì mềm cưỡi lên cứng.

Tượng truyện nói: Trên đầm có sấm, đó là tượng quẻ Quy Muội. Bậc quân tử nhờ vậy hiểu được kết cục lâu dài và nhận biết những điều làm hôn nhân suy bại.

Sơ đồ quẻ 54: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 54 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Quy Muội
Quy Muội. Tiến hành thì hung, không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Trên đầm có sấm, đó là tượng quẻ Quy Muội. Bậc quân tử nhờ vậy hiểu được kết cục lâu dài và nhận biết những điều làm hôn nhân suy bại.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Quy Muội: Bói gặp hào này thì xuất chinh nguy hiểm, không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Trong quẻ Quy Muội, quái dưới là Đoài, tượng đầm; quái trên là Chấn, tượng sấm. Có thể thấy sấm vang trên đầm, nước chuyển động, ví như nam nữ rung động yêu nhau rồi thành vợ chồng. Đó là quái tượng của quẻ Quy Muội. Bậc quân tử xem tượng ấy để nhận biết thành bại của hôn nhân trong đời sống vợ chồng lâu dài.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Quy Muội, Chấn trên Đoài dưới, là quẻ Quy Hồn của cung Đoài. Được quẻ này thì trời đất không giao, bế tắc không thông, có tai họa có lỗi, không đầu không cuối, làm gì cũng không thuận, trăm việc đều bất lợi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Trái với lẽ thường thì con đường sẽ cùng; hãy xét rõ đạo lý sự việc và dứt bỏ vọng niệm.
Người được quẻ này đang ở thời kỳ khó khăn, làm việc trái lẽ thường nên tai họa liên tiếp. Nên xét rõ đạo lý sự việc, tu dưỡng bản thân và dứt bỏ vọng niệm.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tiến mà không theo đạo thì khó bền lâu.
Tài vận: Giá hàng còn khá, nhưng kết cục chưa chắc chắn.
Gia trạch: Người đã kết hôn không nên ở nhà mẹ đẻ; chớ đắm chìm trong dục tình.
Sức khỏe: Đại hạn sắp đến.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Đoài dưới và Chấn trên. Chấn là động, là trưởng nam; Đoài là vui, là thiếu nữ. Thiếu nữ theo trưởng nam, nảy sinh tình yêu, có sự động về hôn nhân, có tượng gả con gái ra ngoài, nên gọi là Quy Muội.
Đại tượng: Chấn là trưởng nam ở trên, Đoài là thiếu nữ ở dưới; người nữ tất phải theo và xuất giá. “Quy” nghĩa là lấy chồng, nhưng thiếu nữ kết đôi với trưởng nam là sự phối hợp không bình thường.
Vận thế: Xử sự trái lẽ thường và chính đạo thì trước được lợi, nhưng sau đó tai họa trăm bề.
Sự nghiệp: Đang bước vào giai đoạn mới, chẳng bao lâu sẽ xuất hiện cục diện khác. Trước hết phải có tầm nhìn lớn, nhận rõ lợi hại, cát hung; có chuẩn bị mới tránh được loạn. Thứ hai là kiên trì phẩm đức thuần chính và nguyên tắc đúng đắn.
Kinh doanh: Việc khai phá thị trường mới sắp thành công. Trong hoạt động thương mại tương lai cần chú ý phương hướng và loại hình kinh doanh, tăng cường hợp tác với người khác.
Cầu danh: Phải có quyết tâm kiên định, nỗ lực nâng cao bản thân, đặt nền tảng cho việc thành danh lập nghiệp. Đáng sợ nhất là tình cảm nam nữ và tình thân làm ảnh hưởng đến tiền đồ, sự nghiệp.
Hôn nhân và tình cảm: Thuận theo tự nhiên, không được trái nguyên tắc, nhất là không nên cưỡng cầu. Thà kết hôn muộn còn hơn chọn sai đối tượng. Vợ chồng trải qua thử thách cuộc sống sẽ có thể hòa thuận đến già.
Quyết sách: Đối với cuộc đời phải giữ phẩm đức công chính thanh khiết, đối đãi đúng đắn với hôn nhân và gia đình, lấy gia đình hạnh phúc viên mãn làm nền tảng để khai mở và phát triển sự nghiệp.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ 54

Quái từ quẻ Quy Muội, ý nghĩa tượng trưng của Lôi Trạch Quy Muội

Quẻ Quy Muội là hai quái dị chồng lên nhau. Quái trên là Chấn, quái dưới là Đoài. Chấn là động, là trưởng nam; Đoài là vui, là thiếu nữ. Thiếu nữ theo trưởng nam, nảy sinh tình cảm yêu mến, có sự động về hôn nhân, có tượng gả con gái ra ngoài, nên gọi là Quy Muội. Quẻ Quy Muội đứng sau quẻ Tiệm. Tự quái truyện giải thích: “Tiến ắt có chỗ quy về, nên nhận quẻ Muội.” Quẻ Tiệm nói về tiến triển; tiến triển đến một mức nhất định thì phải có nơi quy tụ, ý nghĩa ấy có thể mở rộng đến việc người con gái xuất giá. Tạp quái truyện nói: “Quy Muội là chỗ kết thúc của người nữ,” nhấn mạnh ý này. Người xưa coi con gái xuất giá là có nơi quy về, giống như trở về nhà.
Tượng truyện giải thích quẻ này: Trên đầm có sấm, đó là Quy Muội. Bậc quân tử nên giữ cho vợ chồng hòa thuận mãi mãi, cùng nhau bạc đầu, ngăn không để quan hệ vợ chồng bị phá hoại.
Quy Muội tượng trưng cho hôn nhân, gợi mở đạo lý lập gia đình và gây dựng sự nghiệp, thuộc hạ hạ quẻ. Tượng truyện đoán quẻ này: Muốn tìm cá phải tìm dưới nước, tìm trên cây thì không thuận lòng; chịu hết cảnh trèo bám gian nan vẫn không được như ý, nhọc mà không công, vận thế bình bình.

Quẻ 54 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Người em gái xuất giá làm vợ thứ, như người què vẫn có thể đi; tiến hành thì tốt lành.
Tượng truyện nói: Người em gái làm vợ thứ, đó là lẽ thường. Người què có thể đi, tốt lành, vì được nâng đỡ lẫn nhau.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Gả con gái và cho em gái đi theo làm vợ thứ. Người què vẫn có thể đi. Bói gặp hào này, xuất hành tốt lành.
Tượng truyện nói: Gả con gái và đưa em gái đi làm vợ thứ, nghĩa là chị em cùng lấy một chồng, là lệ hôn nhân của quý tộc thời xưa. Người què có thể đi, xuất hành tốt lành, vì người què nhận được sự giúp đỡ của người khác.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này có chút đức, mưu cầu thuận lợi. Người làm quan có thể lập được thành tích.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nhờ người mà thành việc, không có gì đáng kể để tự khoe công.
Tài vận: Phụng mệnh mà làm, may ra có thể thu lợi.
Gia trạch: Nhà phụ cũng tốt lành.
Sức khỏe: Đi lại khó khăn.

Quẻ biến của hào Sơ Cửu
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ Cửu biến, quẻ trở thành quẻ 40 của Chu Dịch: Lôi Thủy Giải. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Khảm ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là sấm, là động; Khảm là nước, là hiểm. Hiểm ở bên trong, động ở bên ngoài. Mùa đông khắc nghiệt khiến trời đất bế tắc; tĩnh đến cực điểm thì động bắt đầu. Muôn vật đổi mới, đông qua xuân tới, mọi thứ được giải tỏa, đó là Giải.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất của quẻ Quy Muội, hào từ: Sơ Cửu: Người em gái xuất giá làm vợ thứ, như người què vẫn có thể đi; tiến hành thì tốt lành. Giải nghĩa hào từ
Đệ: Thời xưa, khi chị gái xuất giá, em gái đi theo làm vợ thứ được gọi là đệ. Lý: tiến về phía trước.
Ý nghĩa của hào từ này là: Người chị lấy chồng làm vợ cả, người em lấy chồng làm vợ thứ, cùng phụng sự một người chồng. Giống như người què chân, tuy bước đi xiêu vẹo không ngay thẳng, nhưng họ giúp đỡ lẫn nhau, hành xử theo lễ, nên tiến lên vẫn có thể gặp điều lành.
Xét về quái tượng, Sơ Cửu ở đáy quẻ, vị trí thấp nhất, không được Lục Ngũ ở ngôi quân chủ coi trọng, nên không phải ngôi chính thê. Sơ Cửu lại nghịch tỷ với Cửu Nhị; Cửu Nhị chính ứng với Lục Ngũ. Nếu Sơ Cửu không muốn làm thiếp thì khó tìm được người chồng vừa ý. Nhận ra tiền đồ mờ mịt, đành nhún mình lấy làm vợ thứ; vì biết giữ quy củ và lễ phép nên vẫn là tốt lành.

Tượng truyện phân tích hào này: “Người em gái lấy làm vợ thứ” là tình trạng bình thường trong hôn nhân; “người què có thể đi, tốt lành vì nâng đỡ lẫn nhau” cho thấy dù ở địa vị vợ thứ, nếu phụ tá và chăm sóc chồng thì vẫn có thể được tốt lành.
Người được hào này phải hiểu đạo lý: Dù biết đãi ngộ mình nhận được là bất công, nếu vẫn cam lòng chấp nhận và giữ thái độ khiêm nhường thì có thể được tốt lành.
Bói gặp hào này, làm việc chớ vội cầu thành, nếu không sẽ như cô gái xuất giá làm thiếp: tuy có kết quả nhưng không được như ý.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Mắt bị khiếm khuyết mà vẫn nhìn thấy; có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo.
Tượng truyện nói: Có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo, vì chưa thay đổi lẽ thường.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Mắt đã mù mà vẫn nhìn thấy. Đây là điềm bói thuận lợi cho người tù.
Tượng truyện nói: Đây là điềm bói thuận lợi cho người tù, vì dù ở trong lao ngục vẫn không mất chính đạo, nên có thể lại nhìn thấy ánh sáng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này không nên tiến thủ; giữ nếp cũ thì tai họa không sinh.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không cần ảo tưởng, hãy an tâm tu dưỡng.
Tài vận: Nhờ kiến giải độc đáo mà âm thầm thu lợi.
Gia trạch: Hợp ẩn cư; ở nhà phụ thì thích hợp.
Sức khỏe: Giữ gìn đôi mắt.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào thứ hai biến, quẻ trở thành quẻ 51 của Chu Dịch: Chấn vi Lôi. Đây là quẻ đồng, hai quái Chấn chồng lên nhau, Chấn dưới và Chấn trên. Chấn là sấm; hai Chấn chồng nhau tạo tiếng vang lớn, xua tan khí trì trệ, khiến mọi việc thông suốt. Ngày thường nên ở yên mà nghĩ đến nguy, giữ lòng kính sợ, không dám lơ là; gặp biến cố bất ngờ vẫn có thể bình thản, nói cười như thường.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Hào thứ hai của quẻ Quy Muội, hào từ: Cửu Nhị: Mắt bị khiếm khuyết mà vẫn nhìn thấy; có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo. Giải nghĩa hào từ
Miểu: Vốn chỉ mắt có tật, ở đây chỉ việc nhắm một mắt mở một mắt, biết hồ đồ đúng lúc, có đức khoan dung nhẫn nhịn. U: chỉ nỗi oán hận âm thầm. Trinh: giữ chính đạo.
Xét về quái tượng, Cửu Nhị là hào dương ở vị trí cứng, nằm giữa quẻ. Tuy trong lòng không cam, vẫn giữ được trung đạo. Giống như thiếu nữ nóng lòng lấy chồng nhưng gặp một người chồng không vừa ý; dù ôm oán hận, chỉ còn cách nhắm một mắt cho qua và giữ vững chính đạo.
Tượng truyện giải thích hào này: “Có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo” vì chưa thay đổi lẽ thường. Điều này chỉ ra rằng cách nghĩ ấy có lợi cho người ôm oán hận giữ chính đạo, bởi vẫn tuân thủ những quy tắc thường hằng.
Người được hào này có thể gặp trắc trở trong sự nghiệp, bất mãn với lãnh đạo hoặc cấp trên; hành vi của họ khiến bạn khinh thường, nhưng vì cần công việc này nên hãy nhắm mắt cho qua, làm tốt việc của mình, hoàn thành bổn phận và nhận lương là đủ. Về hôn nhân, có thể bất mãn với người bạn đời nhưng không thể thay đổi hiện trạng; khi ấy đừng kiểm soát đối phương, chỉ cần làm trọn bổn phận của mình.
Cửu Nhị: Mắt bị khiếm khuyết mà vẫn nhìn thấy; có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo.
Tượng truyện nói: Có lợi cho người bị giam giữ giữ vững chính đạo; lẽ thường chưa thay đổi.
Giải thích chi tiết hào Lục Tam của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Người con gái chờ đợi, rồi trở về lấy làm vợ thứ.
Tượng truyện nói: Người con gái chờ đợi, việc ấy không thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Gả con gái và cho chị gái đi theo, sau đó lại cùng em gái trở về nhà cha mẹ.
Tượng truyện nói: Gả con gái mà cho chị gái đi theo là việc không thích đáng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này tiến lui thất thường, lao dịch và bi khổ. Người làm quan có nguy cơ bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bị người khác áp chế, hãy nhẫn nại một thời gian.
Tài vận: Trước mắt không có lợi, có thể tính chuyện tương lai.
Gia trạch: Không phải chính trạch; không phải hôn nhân chính thức.
Sức khỏe: Chờ đúng thời thì có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào thứ ba biến, quẻ trở thành quẻ 34 của Chu Dịch: Lôi Thiên Đại Tráng. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Càn dưới và Chấn trên. Chấn là sấm; Càn là trời. Càn cứng mạnh, Chấn chuyển động. Sấm vang trên trời, mây sấm cuồn cuộn, thanh thế lớn lao, dương khí thịnh mạnh, muôn vật sinh trưởng. Cứng mạnh có lực nên gọi là Tráng; vừa lớn vừa mạnh nên gọi là Đại Tráng. Bốn hào dương thịnh vượng, tích cực hành động; trên dưới đều chính, nên chuẩn mực ngay thẳng, bóng cũng thẳng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Hào thứ ba của quẻ Quy Muội, hào từ: Lục Tam: Người con gái chờ đợi, rồi trở về lấy làm vợ thứ. Giải nghĩa hào từ
Tu: Nghĩa là chờ đợi; ở đây chỉ việc nóng lòng lấy lòng bề trên để chờ gả nhưng không được gả, đành quay về chờ đợi.
Ý nghĩa của hào từ này là: Người con gái muốn lấy làm chính thất nhưng mãi không tìm được đối tượng thích hợp, cứ chờ đợi; cuối cùng lỡ mất tuổi xuân, nóng lòng xuất giá và lấy thân phận vợ thứ đi theo làm của hồi môn.
Lục Tam là hào âm ở vị trí cứng, bị thất vị. Tượng truyện giải thích: “Người con gái chờ đợi”, là không thích đáng. Muốn lấy làm chính thất nhưng cứ chờ mãi vì chưa tìm được người thích hợp là điều không đúng.
Người được hào này có thể không tìm được vị trí thích hợp trong cuộc sống hoặc sự nghiệp. Lúc này không nên tiếp tục ngồi chờ vô ích, mà nên hạ thấp tiêu chuẩn để được người khác chấp nhận. Dù cảm thấy tủi thân, vẫn tốt hơn là lãng phí thời gian và tuổi trẻ.
Nhìn từ góc độ khác, Lục Tam cũng nhắc người ta không nên nóng vội cầu thành. Giống như gả con gái, vốn không muốn làm thiếp nhưng vì vội xuất giá nên cuối cùng trở thành vợ thứ, thiếp thất.
Lục Tam: Người con gái chờ đợi, rồi trở về lấy làm vợ thứ.
Tượng truyện nói: Người con gái chờ đợi, điều ấy là thích đáng.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ: Người con gái lỡ kỳ lấy chồng, chậm xuất giá vì đang chờ đúng thời.
Tượng truyện nói: Ý định đằng sau việc lỡ kỳ lấy chồng là chờ đợi để rồi hành động.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Đã quá tuổi lấy chồng mà vẫn chậm trễ không cưới vì còn có điều chờ đợi.
Tượng truyện nói: Quá tuổi mà chưa lấy chồng vì nàng quyết tâm tìm được người đàn ông vừa ý.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này chưa gặp ngày lành, phải chờ thời vận.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận hành có lúc, không nên nóng vội tiến lên.
Tài vận: Chờ thời mà hành động, tự nhiên có thể thu lợi.
Gia trạch: Tạm thời chớ dời nhà, phải chờ thời gian thích hợp.
Sức khỏe: An tâm tĩnh dưỡng.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào thứ tư biến, quẻ trở thành quẻ 19 của Chu Dịch: Địa Trạch Lâm. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Đoài dưới và Khôn trên. Khôn là đất, Đoài là đầm. Đất cao hơn đầm, đầm chứa trong đất. Tượng người quân chủ đích thân đến với thiên hạ, trị nước yên dân, trên dưới hòa hợp.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Quy Muội, hào từ: Cửu Tứ: Người con gái lỡ kỳ lấy chồng, chậm xuất giá vì đang chờ đúng thời. Giải nghĩa hào từ
Lỡ kỳ: Làm chậm ngày tháng; ở đây chỉ việc đến tuổi lấy chồng nhưng không vội vàng kết hôn qua loa.
Ý nghĩa của hào từ này là: Người con gái chờ lấy chồng trì hoãn ngày xuất giá, lặng lẽ đợi thời cơ tốt.
Xét về quái tượng, Cửu Tứ là hào dương ở vị trí âm, sát bên Lục Ngũ, thuộc ngôi đại thần gần vua. Ở đây chỉ người phụ nữ xuất thân cao quý, đức tài song toàn, không muốn vội vàng lấy chồng mà chờ thời cơ tốt.
Tượng truyện giải thích hào này: Ý định đằng sau việc lỡ kỳ lấy chồng là chờ đợi để rồi hành động. Nghĩa là bỏ qua thời cơ xuất giá để đợi một thời cơ tốt hơn.
Người được hào này tuy đã đến tuổi kết hôn nhưng vẫn chậm cưới vì muốn tìm người phối ngẫu thích hợp. Chỉ cần đợi thêm một thời gian, người vừa ý sẽ xuất hiện.
Người được hào này khi làm việc không nên nóng vội cầu thành. Dù có thể lỡ thời cơ, kết quả sẽ viên mãn hơn.
Cửu Tứ: Người con gái lỡ kỳ lấy chồng, chậm xuất giá vì đang chờ đúng thời.
Tượng truyện nói: Ý định đằng sau việc lỡ kỳ lấy chồng là chờ đợi để rồi hành động.
Giải thích chi tiết hào Lục Ngũ của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục Ngũ: Đế Ất gả con gái; tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của người vợ thứ. Mặt trăng gần tròn. Tốt lành.
Tượng truyện nói: Đế Ất gả con gái, tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của vợ thứ. Vị trí ở giữa, nên hành xử theo địa vị cao quý.
Giải thích bằng văn nói
Lục Ngũ: Đế Ất gả con gái cho Văn Vương nhà Chu, cho con gái thứ đi theo. Của hồi môn của chị không tốt bằng của em. Chọn ngày mười bốn một tháng làm ngày lành. Tốt lành.
Tượng truyện nói: Đế Ất gả con gái cho Văn Vương nhà Chu, của hồi môn của chị không tốt bằng của em. Hào Lục Ngũ ở vị trí giữa của thượng quái, tượng người nữ gả vào nhà chồng và ở địa vị tôn quý.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này đang gặp vận tốt, có thể kết hôn hoặc được tài lộc. Người làm quan sẽ được trọng dụng, giữ chức vụ quan trọng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khiêm nhường được phúc, cùng người khác dắt tay tiến lên.
Tài vận: Hàng về sau tốt hơn, bán sớm có lợi.
Gia trạch: Hỷ sự sắp đến; hai con gái cùng xuất giá.
Sức khỏe: Nửa tháng có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào thứ năm biến, quẻ trở thành quẻ 58 của Chu Dịch: Đoài vi Trạch. Đây là quẻ đồng, hai đầm chồng lên nhau, đầm dưới và đầm trên. Đoài là nước. Hai đầm nối liền, hai dòng nước giao hòa, trên dưới hòa thuận, đoàn kết nhất trí, bạn bè tương trợ, vui mừng hân hoan. Đoài là vui. Cùng giữ đức cứng mạnh, bên ngoài ôm vẻ mềm hòa, kiên trì theo chính đạo, dẫn dân hướng lên.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Quy Muội, hào từ: Lục Ngũ: Đế Ất gả con gái; tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của người vợ thứ; mặt trăng gần tròn, tốt lành. Giải nghĩa hào từ
Quân: Chỉ gia chủ. Quân phu nhân: Ở đây chỉ người vợ chính thất. Mệ: Chỉ y phục. Cơ: Nghĩa là gần đến.
Vọng: Ngày trăng tròn.
Ý nghĩa của hào từ này là: Khi em gái của Đế Ất xuất giá, váy áo nàng mặc còn không rực rỡ, hoa mỹ bằng váy áo của người vợ thứ đi theo; mặt trăng gần ngày rằm, sắp tròn, tốt lành.
Xét về quái tượng, Lục Ngũ ở ngôi quân chủ giữa quẻ. Em gái của Đế Ất ở vị trí này nhưng không lấy trang sức để làm vui lòng người khác, cũng không dựa vào địa vị quân chủ của anh trai mà tự xem mình cao hơn.
Tượng truyện giải thích hào này: “Đế Ất gả con gái, tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của vợ thứ”; vị trí ở giữa nên hành xử theo địa vị cao quý. Điều này cho thấy dù ở địa vị trung tâm rất tôn quý, vẫn giữ được đức cần kiệm và khiêm nhường.
Người được hào này, về hôn nhân, nếu đã tìm được nơi nương tựa vừa ý thì chỉ cần không bám víu, không so sánh, giữ thái độ khiêm nhường mềm mỏng là có thể hạnh phúc viên mãn. Nếu là người phụ nữ mạnh mẽ hoặc có địa vị cao hơn chồng, càng phải chú ý điều này.
Lục Ngũ: Đế Ất gả con gái; tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của vợ thứ; mặt trăng gần tròn, tốt lành.
Tượng truyện nói: Đế Ất gả con gái, tay áo của phu nhân chính thất không đẹp bằng tay áo của vợ thứ. Vị trí ở giữa, nên hành xử theo địa vị cao quý.
Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ 54 trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục: Người nữ nâng chiếc giỏ không có gì bên trong; người nam mổ cừu mà không có máu. Không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Thượng Lục không có thực chất, như đang nâng chiếc giỏ rỗng.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Khi làm lễ tế, cô dâu cầm chiếc giỏ đựng lễ vật nhưng trong giỏ trống không; chú rể dùng dao đâm con cừu nhưng cừu không chảy máu. Đây là điềm không lành, không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Thượng Lục không có thực chất, như nâng chiếc giỏ rỗng. Hào Thượng Lục ở cuối quẻ, cô độc không nơi nương tựa, nên việc nâng chiếc giỏ rỗng là phù hợp.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này nhiều việc không thuận, mọi mưu tính đều thành hư không. Người làm quan giữ hư vị mà không có bổng lộc thực.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Mọi việc không thuận, nên thận trọng.
Tài vận: Vốn rỗng, hàng thiếu, làm sao thu được lợi?
Gia trạch: Phải đề phòng tranh chấp; hôn nhân không chính đáng.
Sức khỏe: Hư lao, mất máu, có vẻ là chứng khó chữa.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第54卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào trên cùng biến, quẻ trở thành quẻ 38 của Chu Dịch: Hỏa Trạch Khuê. Đây là quẻ dị chồng lên nhau, Đoài dưới và Ly trên. Ly là lửa; Đoài là đầm. Lửa trên, đầm dưới, trái nhau mà không hỗ trợ. Khắc chế thì lại sinh ra, qua lại không dứt. Muôn vật có khác biệt, tất có dị biệt, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lẫn nhau. Khuê nghĩa là mâu thuẫn.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Quy Muội, hào từ: Thượng Lục: Người nữ nâng chiếc giỏ không có gì bên trong; người nam mổ cừu mà không có máu. Không có gì lợi. Giải nghĩa hào từ
Nữ: Chỉ thiếu nữ chưa kết hôn. Thừa: Chỉ nâng đỡ, cầm giữ. Khuông: Đồ đựng của hồi môn, dùng để chứa vật phẩm hồi môn.
Sĩ: Chỉ thiếu nam chưa kết hôn. Kiếp: Nghĩa là đâm.
Ý nghĩa của hào từ này là: Chiếc giỏ của người nữ trống không, không có vật gì; người nam dùng dao giết cừu mà không thấy máu chảy, vô cùng bất lợi.
Trong nghi lễ định hôn và cưới hỏi thời xưa, bên nữ phải chuẩn bị một phần của hồi môn nhất định, bên nam giết một con dê đực để lấy máu tế lễ. Ở Thượng Lục, bên nữ không có hồi môn trong giỏ, bên nam đâm dê mà không có máu chảy, ngụ ý người nữ không thể sinh con, người nam không có người thừa kế huyết thống, nên “không có gì lợi”.
Tượng truyện giải thích hào này: Thượng Lục không có thực chất, như nâng chiếc giỏ rỗng. Điều này chỉ ra rằng Thượng Lục trống rỗng, không thực chất, giống như cầm một chiếc giỏ hoàn toàn không có gì.
Người được hào này có quan hệ vợ chồng không hòa hợp, đôi bên đều mất sức hấp dẫn đối với nhau, khó có kết quả gì.
Thượng Lục: Người nữ nâng chiếc giỏ không có gì bên trong; người nam mổ cừu mà không có máu. Không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Thượng Lục không có thực chất, như nâng chiếc giỏ rỗng.