☯
Kinh Dịch · 64 Quẻ
Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 61, quẻ Trung Phu, Phong Trạch Trung Phu, Tốn trên Đoài dưới
䷼
Trung Phu: Heo và cá, cát; lợi cho việc vượt sông lớn, lợi cho giữ chính.
Thoán truyện nói: Quẻ Trung Phu có hào mềm ở bên trong, hào cứng được vị trí trung. Vui vẻ mà khiêm thuận, nên lòng thành có thể cảm hóa đất nước. Dâng lợn và cá là tốt lành, vì lòng tin vươn đến cả lợn cá. Có lợi khi qua sông lớn, như cưỡi chiếc thuyền gỗ rỗng. Trung Phu có lợi cho việc giữ chính đạo, vì thuận ứng với Trời.
Tượng truyện nói: Gió ở trên đầm là quẻ Trung Phu. Người quân tử noi theo đó, xét xử kiện tụng và trì hoãn việc xử tử.

Quẻ 61 — nguyên văn và tổng quan
Giải thích chi tiết quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Trung Phu
Trung Phu. Lợn và cá, tốt lành. Có lợi khi qua sông lớn, có lợi cho việc giữ chính đạo.
Tượng truyện nói: Gió ở trên đầm là quẻ Trung Phu. Người quân tử xét xử kiện tụng và trì hoãn việc xử tử.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Trung Phu: Dâng lợn và cá làm lễ, tuy lễ vật mỏng nhưng lòng thành, nên tốt lành. Cũng có lợi cho việc qua sông vượt nước. Đây là lời bói tốt lành về việc giữ chính đạo.
Tượng từ nói: Thượng quái là Tốn, tượng cho gió; hạ quái là Đoài, tượng cho đầm. Gió trên đầm làm sóng nổi lên. Đó là tượng của quẻ Trung Phu. Người quân tử quan sát tượng này, cảm nhận rằng muốn cảm hóa đất nước thì phải lấy giáo hóa bằng đức làm đầu; vì vậy khi xét kiện tụng, không tùy tiện dùng hình phạt nặng.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Trung Phu có Tốn trên, Đoài dưới, là quẻ Du Hồn thuộc cung Cấn. Trung Phu mang nghĩa trung tín, chủ về việc qua sông lớn có lợi và tai ách được tiêu trừ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Có lòng tin và thực chất, chân thành và thành tín; được tri kỷ giúp đỡ thì mưu cầu sẽ thành tựu.
Người được quẻ này, nếu ngay thẳng và thành tín thì tốt lành, được bạn bè giúp đỡ, mưu việc có thể thành; người ôm tà niệm thì xấu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khó tránh sóng gió, cần thận trọng với kiện tụng.
Tài vận: Hành sự thận trọng thì có thể tránh tai họa.
Gia trạch: Tai họa kiện tụng; hôn nhân dẫn đến tranh chấp pháp lý.
Sức khỏe: Có kinh sợ nhưng không nguy hiểm.
Giải quẻ truyền thống
Quẻ này là sự chồng lên nhau của hai quái khác nhau, Đoài dưới và Tốn trên. Nghĩa gốc của chữ Phu là ấp trứng; ngày trứng nở khỏi vỏ cực kỳ chính xác, nên mang nghĩa niềm tin. Hình quẻ ngoài thực trong rỗng, ví với lòng thành tín, vì vậy gọi là quẻ Trung Phu. Đây là nền tảng để lập thân xử thế.
Đại tượng: Trung Phu mang ý nghĩa thành tín. Gió thổi trên mặt nước đầm, nước đầm tất ứng mà nổi sóng, là tượng của sự cộng hưởng.
Vận thế: Đối đãi với người bằng “thành”, xử sự bằng “tín” thì mọi việc đều tốt lành; ôm tà niệm thì xấu.
Sự nghiệp: Đối đãi với công việc bằng thái độ chân thật, trung tín thì đạt thành tựu lớn và phát triển thuận lợi. Phải tiếp tục tuân theo nguyên tắc chính đạo, không được xem nhẹ, cũng không nên quá tin người, nhất là không tự cô lập bởi tính kiêu ngạo. Nếu không, sự nghiệp sẽ đi đến thất bại.
Kinh doanh: Xử lý rất tốt, phù hợp yêu cầu thị trường. Kinh doanh cẩn trọng, coi trọng tín nghĩa, cung cấp dịch vụ chất lượng thì có thể đạt kết quả vừa ý; thậm chí mạo hiểm đối mặt khó khăn cũng không xảy ra vấn đề.
Cầu danh: Phải lấy tu dưỡng đạo đức làm nền tảng, khổ công học tập tri thức và kỹ năng, không ngừng nâng cao bản thân. Đồng thời, đừng sợ khó khăn mà hãy nỗ lực tiến lên.
Hôn nhân và tình cảm: Hai bên đối đãi với nhau bằng thái độ thành tín thì hạnh phúc viên mãn.
Quyết định: Lấy thành tín làm nền tảng lập thân xử thế, chân thành với người, giữ đúng chế độ, kiên trì nguyên tắc, hòa nhã khiêm tốn thì có thể chiến thắng mọi khó khăn; dù xảy ra vấn đề cũng còn có thể sửa sai. Tuy nhiên, nhất thiết phải tăng khả năng quan sát con người và nâng cao năng lực phân biệt phải trái.
Nguyên văn quẻ Trung Phu
Trung Phu. Lợn và cá, tốt lành. Có lợi khi qua sông lớn, có lợi cho việc giữ chính đạo.
Tượng truyện nói: Gió ở trên đầm là quẻ Trung Phu. Người quân tử xét xử kiện tụng và trì hoãn việc xử tử.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Trung Phu: Dâng lợn và cá làm lễ, tuy lễ vật mỏng nhưng lòng thành, nên tốt lành. Cũng có lợi cho việc qua sông vượt nước. Đây là lời bói tốt lành về việc giữ chính đạo.
Tượng từ nói: Thượng quái là Tốn, tượng cho gió; hạ quái là Đoài, tượng cho đầm. Gió trên đầm làm sóng nổi lên. Đó là tượng của quẻ Trung Phu. Người quân tử quan sát tượng này, cảm nhận rằng muốn cảm hóa đất nước thì phải lấy giáo hóa bằng đức làm đầu; vì vậy khi xét kiện tụng, không tùy tiện dùng hình phạt nặng.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Trung Phu có Tốn trên, Đoài dưới, là quẻ Du Hồn thuộc cung Cấn. Trung Phu mang nghĩa trung tín, chủ về việc qua sông lớn có lợi và tai ách được tiêu trừ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Có lòng tin và thực chất, chân thành và thành tín; được tri kỷ giúp đỡ thì mưu cầu sẽ thành tựu.
Người được quẻ này, nếu ngay thẳng và thành tín thì tốt lành, được bạn bè giúp đỡ, mưu việc có thể thành; người ôm tà niệm thì xấu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khó tránh sóng gió, cần thận trọng với kiện tụng.
Tài vận: Hành sự thận trọng thì có thể tránh tai họa.
Gia trạch: Tai họa kiện tụng; hôn nhân dẫn đến tranh chấp pháp lý.
Sức khỏe: Có kinh sợ nhưng không nguy hiểm.
Giải quẻ truyền thống
Quẻ này là sự chồng lên nhau của hai quái khác nhau, Đoài dưới và Tốn trên. Nghĩa gốc của chữ Phu là ấp trứng; ngày trứng nở khỏi vỏ cực kỳ chính xác, nên mang nghĩa niềm tin. Hình quẻ ngoài thực trong rỗng, ví với lòng thành tín, vì vậy gọi là quẻ Trung Phu. Đây là nền tảng để lập thân xử thế.
Đại tượng: Trung Phu mang ý nghĩa thành tín. Gió thổi trên mặt nước đầm, nước đầm tất ứng mà nổi sóng, là tượng của sự cộng hưởng.
Vận thế: Đối đãi với người bằng “thành”, xử sự bằng “tín” thì mọi việc đều tốt lành; ôm tà niệm thì xấu.
Sự nghiệp: Đối đãi với công việc bằng thái độ chân thật, trung tín thì đạt thành tựu lớn và phát triển thuận lợi. Phải tiếp tục tuân theo nguyên tắc chính đạo, không được xem nhẹ, cũng không nên quá tin người, nhất là không tự cô lập bởi tính kiêu ngạo. Nếu không, sự nghiệp sẽ đi đến thất bại.
Kinh doanh: Xử lý rất tốt, phù hợp yêu cầu thị trường. Kinh doanh cẩn trọng, coi trọng tín nghĩa, cung cấp dịch vụ chất lượng thì có thể đạt kết quả vừa ý; thậm chí mạo hiểm đối mặt khó khăn cũng không xảy ra vấn đề.
Cầu danh: Phải lấy tu dưỡng đạo đức làm nền tảng, khổ công học tập tri thức và kỹ năng, không ngừng nâng cao bản thân. Đồng thời, đừng sợ khó khăn mà hãy nỗ lực tiến lên.
Hôn nhân và tình cảm: Hai bên đối đãi với nhau bằng thái độ thành tín thì hạnh phúc viên mãn.
Quyết định: Lấy thành tín làm nền tảng lập thân xử thế, chân thành với người, giữ đúng chế độ, kiên trì nguyên tắc, hòa nhã khiêm tốn thì có thể chiến thắng mọi khó khăn; dù xảy ra vấn đề cũng còn có thể sửa sai. Tuy nhiên, nhất thiết phải tăng khả năng quan sát con người và nâng cao năng lực phân biệt phải trái.
Quẻ 61 — giải nghĩa từng hào
Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Hào Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn.
Tượng truyện nói: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Làm lễ an thần thì tốt lành. Nếu xảy ra biến cố như vậy, đương nhiên không tổ chức yến tiệc an nhàn.
Tượng từ nói: Hào từ Sơ Cửu nói làm lễ an thần thì tốt lành, vì lòng tưởng nhớ người xưa chưa thay đổi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này sẽ được quý nhân đề bạt, mưu việc thành công, nhưng trong vui có lo. Nên đi theo chính đạo, tu thân dưỡng tính, không được buông mình hưởng lạc. Người làm quan sẽ được tiến cử, có thể giữ chức vụ trọng yếu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Chuyên tâm nhất trí thì có chí ắt thành.
Tài vận: An định với nghề chính, lâu ngày ắt có thu hoạch.
Gia trạch: Không cần chuyển nhà; trước sau như một.
Sức khỏe: Cẩn phòng bệnh biến chuyển; nếu biến đổi thì nguy hiểm.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Hào Sơ Cửu của Trung Phu biến thành quẻ 59: Phong Thủy Hoán. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Tốn trên và Khảm dưới. Gió đi trên mặt nước, xô sóng lan rộng, tràn ra bốn phương. Hoán có nghĩa nước chảy phân tán. Quẻ tượng trưng cho tổ chức và lòng người ly tán; phải dùng biện pháp tích cực để khắc phục, chiến thắng tệ hại, cứu vãn sự phân tán và chuyển nguy thành an.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ nhất quẻ Trung Phu, hào từ: Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn. Giải thích hào từ.
“Ngu” chỉ dự liệu, phỏng đoán. “Có điều khác” chỉ nảy sinh lòng khác. “Yến” chỉ sự yên ổn, an nhàn.
Ý nghĩa hào từ này là: Có thể dự liệu điều tốt lành. Nhưng nếu nảy sinh ý nghĩ khác thì sẽ mất sự yên ổn.
Xét tượng quẻ, Sơ Cửu là hào dương ở vị trí cứng, được đúng vị. Nó lại ở đầu hạ quái Đoài; Đoài tượng cho vui vẻ, cho thấy Sơ Cửu có thể an với vị trí hiện tại, tự tìm niềm vui nên được tốt lành. Nhưng nó chính ứng với Lục Tứ, mà Lục Tứ là vị đại thần gần vua; Sơ Cửu có quan hệ mật thiết và có cơ hội được đề bạt. Tuy nhiên Sơ Cửu ở thế nghịch tỉ với Cửu Nhị. Nếu muốn thăng tiến, có thể bị Cửu Nhị cản trở, thậm chí vì vậy mà tranh đấu, nên không được yên ổn.
Tượng truyện phân tích hào này: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi. Điều này chỉ ra rằng có thể dự liệu điều tốt lành, bởi chí không cầu điều gì khác vẫn không đổi.
Người được hào này cần chú tâm vào công việc của mình, đừng có mong cầu xa xôi khác, đừng nghĩ đến thăng chức hay phát tài lớn; như vậy sẽ gặp cản trở và mất những ngày tháng yên ổn. Nếu an với hiện trạng thì mọi việc đều tốt lành. Nếu muốn thay đổi hiện trạng và hành động, sẽ có phiền phức ngoài dự liệu.
Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn.
Tượng truyện nói: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi.
Ý nghĩa kinh văn là: Cân nhắc kỹ rồi mới hành động thì tốt lành; những nghi ngờ khác sẽ dẫn đến bất an.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cân nhắc kỹ rồi mới hành động thì tốt lành, vì không thay đổi ý chí của mình.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo. Ta có chén rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi chia sẻ.
Tượng truyện nói: Chim non của nó họa theo, đó là biểu hiện của nguyện vọng trong lòng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Hạc già kêu dưới bóng cây, hạc non bên cạnh họa theo. Ta có rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi dùng chung.
Tượng từ nói: Hạc non họa theo hạc già, đó là biểu hiện của sự tương thông trong tâm hồn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này đi đâu cũng thuận lợi, tiền tài tăng tiến hoặc sinh con. Người làm quan sẽ được thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Người xướng kẻ họa, đúng như ý ta.
Tài vận: Chủ và khách đồng lòng, cùng nhau thu lợi.
Gia trạch: Nhà cửa phú quý, con cái hiếu thảo; vợ chồng hòa thuận.
Sức khỏe: Bệnh truyền nhiễm.
Quẻ biến của hào Cửu Nhị
Cửu Nhị biến thành quẻ 42: Phong Lôi Ích. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Chấn dưới và Tốn trên. Tốn là gió, Chấn là sấm. Gió sấm dồn dập, thế càng mạnh; sấm càng vang, gió và sấm hỗ trợ nhau cùng tăng trưởng. Quẻ này ngược với quẻ Tổn: giảm bớt ở trên để làm lợi cho dưới, còn quẻ Tổn là giảm dưới để làm lợi cho trên. Hai quẻ trình bày nguyên lý tổn ích.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị
Hào thứ hai quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo.
Giải thích hào từ
“Âm” chỉ nơi u tối. “Hòa” chỉ sự ứng họa. “Tước” là đồ đựng rượu thời cổ, ở đây chỉ rượu. “Mi” chỉ cùng nhau chia sẻ.
Ý nghĩa hào từ này là: Hạc kêu ở nơi rợp tối, hạc non theo đó họa lại. Ta có rượu ngon thơm nồng, muốn cùng ngươi uống thỏa thích.
Xét tượng quẻ, Cửu Nhị là hào dương ở vị trí mềm, nằm giữa hạ quái. Lục Tam và Lục Tứ ở phía trên đều là hào âm, nên nó ở nơi âm u. Tuy Cửu Nhị không đắc vị, nhưng có thể giữ trung đạo và sẵn lòng chia sẻ với người khác.
Hào này gợi mở tinh thần chia sẻ. Khi làm việc, dù không hài lòng lắm với chức vị, bạn cần điều chỉnh tâm thế để tiếp nhận, duy trì quan hệ hòa hợp với đồng nghiệp, đừng luôn đối nghịch và hãy sẵn lòng chia sẻ với người khác. Như vậy sẽ tạo môi trường làm việc hết sức hòa thuận.
Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo. Ta có chén rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi chia sẻ.
Tượng truyện nói: Chim non của nó họa theo, đó là biểu hiện của nguyện vọng trong lòng.
Giải thích chi tiết hào thứ ba quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Gặp địch; người thì đánh trống, người thì dừng lại; người thì khóc, người thì ca hát.
Tượng truyện nói: Người thì đánh trống, người thì dừng lại, vì vị trí không thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Đã đánh bại kẻ địch; người thì đánh trống truy kích, người thì khải hoàn báo tin thắng trận. Tin truyền đến, có người vui mừng rơi lệ, có người cất tiếng hát vang.
Tượng từ nói: Người thì đánh trống truy kích, người thì khải hoàn báo thắng; nhưng xét tượng hào, Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, trong thắng lợi e rằng ẩn chứa tai họa bất ngờ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này trong vui có lo, sự việc nhiều lần đảo ngược. Người làm quan bất hòa với đồng liêu, tiến trước rồi lui sau.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế đảo chiều, vinh nhục cũng theo đó.
Tài vận: Khi thành khi bại, thiếu chủ kiến.
Gia trạch: Cẩn phòng chuyện ly kỳ; lặp đi lặp lại vẫn chưa thành.
Sức khỏe: Lúc tốt lúc xấu, nên cầu thần linh phù hộ.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Lục Tam biến thành quẻ 9: Phong Thiên Tiểu Súc. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Càn dưới và Tốn trên; Càn là Trời, Tốn là gió. Quẻ ví với mưa thuận gió hòa, ngũ cốc sinh trưởng nên gọi là Tiểu Súc. Sức lực có hạn, phải chờ phát triển đến một mức nhất định mới có thể làm nên việc lớn.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Ý nghĩa hào từ này là: Gặp kẻ địch mạnh, có thể đánh trống tiến công, hoặc vì mệt mỏi mà lui bại, hoặc vì sợ hãi mà khóc, hoặc vì thoát được tai họa mà ca hát.
Xét tượng quẻ, Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, nên thất vị. Nó ở ranh giới hai quái, chính ứng với Thượng Cửu, cho thấy lòng bị ngoại vật lôi kéo và ràng buộc. Đáng lẽ nên an với vị trí của mình, nhưng lại muốn bám vào Thượng Cửu để tìm cơ hội thăng tiến hoặc phát triển lớn hơn. Vì vậy gặp trở lực từ mọi phía và rơi vào bất an.
Tượng truyện giải thích hào này: “Người thì đánh trống, người thì dừng lại”, vì vị trí không thích đáng. Việc gặp kẻ địch mạnh, khi thì đánh trống tiến công, khi thì mệt mỏi lui bại, đều do Lục Tam ở sai vị.
Người được hào này, dù có chỗ dựa hoặc thân thiết với lãnh đạo cấp trên, cố sức nịnh bợ để mưu thăng tiến hay tạo thuận lợi cho phát triển bản thân, nhưng người xung quanh hoặc cấp trên rất khó chịu với cách làm ấy, sẽ cản trở hoặc đả kích. Hơn nữa, người bạn dựa vào không phải lãnh đạo tối cao có thực quyền, nên chướng ngại trùng trùng.
Lục Tam: Gặp địch; người thì đánh trống, người thì dừng lại; người thì khóc, người thì ca hát.
Tượng truyện nói: Người thì đánh trống, người thì dừng lại, vì vị trí không thích đáng.
Giải thích chi tiết hào thứ tư quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi.
Tượng truyện nói: Mất đôi ngựa là cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tứ: Đang giữa tháng, đàn ngựa bị mất, nhưng không có tai họa lớn.
Tượng từ nói: Mất ngựa rồi thì về sau phải cảnh giác gấp đôi, đề phòng chuyện tương tự tái diễn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thể được đề bạt, nhưng có nỗi lo mất người phối ngẫu hoặc tài sản. Người làm quan sẽ thăng tiến, giữ địa vị trọng yếu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Giữ vững sự đầy đủ và bình ổn, đặt việc công trước việc tư.
Tài vận: Mưu sự thuận lợi, nguồn tiền cũng dồi dào.
Gia trạch: Âm khí quá thịnh; có thể góa bụa.
Sức khỏe: Có thể dần dần hồi phục.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Lục Tứ biến thành quẻ 10: Thiên Trạch Lý. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Càn trên. Càn là Trời, Đoài là đầm; lấy Trời ví vua, lấy đầm ví dân. Nguyên văn nói: “Giẫm đuôi hổ mà hổ không cắn người”, vì vậy kết quả tốt lành. Vua ở trên, dân ở dưới, mỗi bên được đúng vị. Đoài mềm gặp Càn cứng nên bước đi nguy hiểm. Lý nghĩa là thực hành, tiến lên một cách vững chân trên mặt đất.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Hào thứ tư quẻ Trung Phu, hào từ: Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Vọng” chỉ hình tượng trăng tròn vào ngày mười lăm hoặc mười sáu âm lịch. Ở đây chỉ trăng sắp đầy nhưng chưa tròn hẳn.
Ý nghĩa hào từ này là: Trăng sắp tròn mà chưa đầy, ngựa tốt mất bạn đồng hành nhưng không có lỗi.
Xét tượng quẻ, Lục Tứ là hào âm ở vị trí mềm, được đúng vị. Đây là vị đại thần gần vua, thân cận với Cửu Ngũ là quân vương và được Cửu Ngũ rất tin cậy. Tuy nhiên Lục Tứ không giữ được chính đạo, lại chính ứng với Sơ Cửu bên dưới, nên có hiềm nghi kết bè đảng riêng. Nhưng Lục Tứ nhận ra nguy cơ, chỉ trung thành với Cửu Ngũ và cắt đứt quan hệ với Sơ Cửu. Điều này giống như đôi ngựa chỉ trung thành với chủ, không liên hệ với đồng loại: “mất đôi ngựa”. Vì Lục Tứ có thể tự sửa mình nên không có lỗi.
Tượng truyện phân tích hào này: “Mất đôi ngựa”, tức cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên. Điều đó chỉ Lục Tứ thành tín, chuyên nhất, đoạn tuyệt giao du với đồng loại và chuyên tâm phụng sự quân chủ.
Người được hào này có thể đứng trước hai lựa chọn, trong công việc hoặc tình cảm có vẻ như bắt cá hai tay. Lúc này phải quyết đoán; bạn biết lựa chọn nào phù hợp và có lợi hơn cho mình, nên nhất định phải bỏ một bên để không mắc lỗi. Ở cơ quan, vốn bạn là trợ lý của lãnh đạo, nhưng nếu có đồng nghiệp bên dưới bất mãn với lãnh đạo, bạn cũng hùa theo và qua lại quá thân, hãy nhanh chóng cắt đứt quan hệ với người ấy, nếu không sẽ tự chuốc phiền.
Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi.
Tượng truyện nói: Mất đôi ngựa là cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên.
Ý nghĩa kinh văn là: Trăng gần ngày mười lăm, ngựa bị mất nhưng không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Mất ngựa vì Lục Tứ cắt đứt với đồng loại và hướng lên phụng sự Cửu Ngũ.
Giải thích chi tiết hào thứ năm quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, vì vị trí đúng đắn và thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Tù binh tụ thành từng nhóm, nối liền và trói buộc nhau. Không có tai họa.
Tượng từ nói: Giữ lòng thành tín, trước sau như một; đúng như tượng hào Cửu Ngũ cho thấy, hành vi của người ấy phù hợp với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này nhân tình hòa hợp, mưu việc thành công, làm gì cũng thuận lợi. Người làm quan có vua tôi đồng lòng, được cấp trên khen ngợi.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế trung chính, có cầu ắt được đáp ứng.
Tài vận: Đồng tâm hiệp lực thì kinh doanh thành công.
Gia trạch: Gia đình hòa vui; trăm năm hạnh phúc.
Sức khỏe: Tay chân bất tiện, mang bệnh mà vẫn kéo dài tuổi thọ.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Cửu Ngũ biến thành quẻ 41: Sơn Trạch Tổn. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Cấn trên. Cấn là núi, Đoài là đầm. Núi trên đầm dưới, đầm lớn xâm thực chân núi. Tổn ích thay đổi lẫn nhau; trong tổn có ích, trong ích có tổn. Không thể không thận trọng với cả hai. Giảm dưới để làm lợi cho trên, như trị quốc, nếu quá mức sẽ làm tổn thương nền móng quốc gia. Cần giảm thì giảm, nhưng phải lượng sức và giữ chừng mực. Giảm ít mà ích nhiều là tốt nhất.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Loan” chỉ sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.
Ý nghĩa hào từ này là: Có đức thành tín, nhờ đó gắn kết lòng người trong thiên hạ, liên hệ mật thiết với quần chúng, nên không gặp họa.
Vị trí hiện tại: Quốc Dịch Đường > Chu Dịch > Toàn thư Chu Dịch > Quẻ Trung Phu > Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu >
Chia sẻ: 0
Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
2013-10-02 | Nguồn: Quốc Học Đường | Chuyên mục: Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu | Lượt nhấp: 655 lần
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Loan” chỉ sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.
Ý nghĩa hào từ này là: Có đức thành tín, nhờ đó gắn kết lòng người trong thiên hạ, liên hệ mật thiết với quần chúng, nên không gặp họa.
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Gợi mở cho cuộc đời.
Xét tượng quẻ, Cửu Ngũ là hào dương ở vị quân chủ, giữ trung đạo và thân cận với Lục Tứ; hai bên hỗ trợ lẫn nhau nên không có sai lầm.
Tượng truyện phân tích hào này: “Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ”, vì ở đúng vị và thích đáng. Điều này chỉ việc có đức thành tín rồi gắn kết lòng người trong thiên hạ; đó là ở vị trí trung chính thích hợp, cho thấy sức giáo hóa của thành tín có thể lan đến toàn bộ đất nước.
Người được hào này cần hiểu rằng, với tư cách người lãnh đạo, nếu bạn chân thành đối đãi với cấp dưới thì họ cũng sẽ thật lòng đối đãi lại. Trong tình yêu và hôn nhân, nếu đôi bên thành tâm với nhau, tình cảm sẽ thăng hoa và phát triển.
Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, vì vị trí đúng đắn và thích đáng.
Ý nghĩa kinh văn là: Dùng thành tín gắn kết người trong thiên hạ thì không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Dùng thành tín gắn kết thiên hạ vì Cửu Ngũ ở giữa và được đúng vị.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu.
Tượng truyện nói: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời, sao có thể lâu dài được?
Giải thích bằng văn nói
Thượng Cửu: Gà bay lên trời. Bói hỏi được điềm xấu.
Tượng từ nói: Gà bay lên trời, làm sao có thể bay lâu dài?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này hư nhiều thực ít, đường phía trước hiểm nguy. Người buôn bán sẽ chịu tổn thất. Người làm quan có niềm vui được gần vua.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hư rỗng, không thực chất, khiến người lo lắng.
Tài vận: Ngoài mạnh trong rỗng, tương lai đáng lo.
Gia trạch: Khó giữ được gia nghiệp; e rằng vợ chồng khó cùng nhau đến già.
Sức khỏe: Bệnh trạng vô cùng khổ sở.
Quẻ biến của hào Thượng Cửu
Thượng Cửu biến thành quẻ 60: Thủy Trạch Tiết. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Khảm trên. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn; quá nhiều sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy cần có tiết chế, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết ngược với quẻ Hoán, là quẻ tổng của nhau và được dùng tương hỗ. Trời đất có tiết độ mới luôn mới, quốc gia có tiết độ mới ổn định, cá nhân có tiết độ mới hoàn thiện.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Hào thứ sáu quẻ Trung Phu, hào từ: Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu. Giải thích hào từ.
“Hãn” chỉ loài chim trĩ núi lông đỏ, còn gọi là chim trĩ vàng.
Ý nghĩa hào từ này là: Chim trĩ vàng dựa vào vẻ ngoài hoa lệ, kêu lớn đòi lên trời; vì vậy có thể xuất hiện điều xấu.
Xét tượng quẻ, Thượng Cửu là hào dương ở vị trí âm, không thể giữ trung thủ chính, lại ở thế nghịch tỉ với Cửu Ngũ. Dù trước đây từng đạt thành tích hoặc có chút danh tiếng, tất cả cũng như chim trĩ vàng, chỉ có vẻ ngoài. Không có năng lực lên trời mà lại lớn tiếng tuyên bố sẽ lên, chẳng khác kẻ lừa đảo hữu danh vô thực, tận dụng hết sự gian dối và giả trá, nên vô cùng nguy hiểm.
Tượng truyện phân tích hào này: “Tiếng chim trĩ bay lên đến trời”, sao có thể lâu dài! Điều đó chỉ tiếng kêu hư rỗng, không thực chất, âm thanh lớn hơn tình ý; làm sao duy trì lâu được?
Người được hào này đừng làm việc mình không thể làm, đừng phô trương thanh thế để người khác khâm phục và đi theo. Một ngày nào đó bạn sẽ lộ nguyên hình và tai họa ập đến. Nếu từng thành công rồi vênh váo, kiêu căng, coi mình là nhất, chẳng bao lâu bạn sẽ nếm mùi thất bại.
Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu.
Tượng truyện nói: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời, sao có thể lâu dài được?
Ý nghĩa kinh văn là: Gà bay lên trời, giữ chính đạo thì nguy hiểm.
Ý nghĩa Tượng từ là: Gà bay lên trời, làm sao có thể bay lâu dài?
Hào từ Sơ Cửu
Hào Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn.
Tượng truyện nói: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Làm lễ an thần thì tốt lành. Nếu xảy ra biến cố như vậy, đương nhiên không tổ chức yến tiệc an nhàn.
Tượng từ nói: Hào từ Sơ Cửu nói làm lễ an thần thì tốt lành, vì lòng tưởng nhớ người xưa chưa thay đổi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này sẽ được quý nhân đề bạt, mưu việc thành công, nhưng trong vui có lo. Nên đi theo chính đạo, tu thân dưỡng tính, không được buông mình hưởng lạc. Người làm quan sẽ được tiến cử, có thể giữ chức vụ trọng yếu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Chuyên tâm nhất trí thì có chí ắt thành.
Tài vận: An định với nghề chính, lâu ngày ắt có thu hoạch.
Gia trạch: Không cần chuyển nhà; trước sau như một.
Sức khỏe: Cẩn phòng bệnh biến chuyển; nếu biến đổi thì nguy hiểm.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Hào Sơ Cửu của Trung Phu biến thành quẻ 59: Phong Thủy Hoán. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Tốn trên và Khảm dưới. Gió đi trên mặt nước, xô sóng lan rộng, tràn ra bốn phương. Hoán có nghĩa nước chảy phân tán. Quẻ tượng trưng cho tổ chức và lòng người ly tán; phải dùng biện pháp tích cực để khắc phục, chiến thắng tệ hại, cứu vãn sự phân tán và chuyển nguy thành an.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ nhất quẻ Trung Phu, hào từ: Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn. Giải thích hào từ.
“Ngu” chỉ dự liệu, phỏng đoán. “Có điều khác” chỉ nảy sinh lòng khác. “Yến” chỉ sự yên ổn, an nhàn.
Ý nghĩa hào từ này là: Có thể dự liệu điều tốt lành. Nhưng nếu nảy sinh ý nghĩ khác thì sẽ mất sự yên ổn.
Xét tượng quẻ, Sơ Cửu là hào dương ở vị trí cứng, được đúng vị. Nó lại ở đầu hạ quái Đoài; Đoài tượng cho vui vẻ, cho thấy Sơ Cửu có thể an với vị trí hiện tại, tự tìm niềm vui nên được tốt lành. Nhưng nó chính ứng với Lục Tứ, mà Lục Tứ là vị đại thần gần vua; Sơ Cửu có quan hệ mật thiết và có cơ hội được đề bạt. Tuy nhiên Sơ Cửu ở thế nghịch tỉ với Cửu Nhị. Nếu muốn thăng tiến, có thể bị Cửu Nhị cản trở, thậm chí vì vậy mà tranh đấu, nên không được yên ổn.
Tượng truyện phân tích hào này: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi. Điều này chỉ ra rằng có thể dự liệu điều tốt lành, bởi chí không cầu điều gì khác vẫn không đổi.
Người được hào này cần chú tâm vào công việc của mình, đừng có mong cầu xa xôi khác, đừng nghĩ đến thăng chức hay phát tài lớn; như vậy sẽ gặp cản trở và mất những ngày tháng yên ổn. Nếu an với hiện trạng thì mọi việc đều tốt lành. Nếu muốn thay đổi hiện trạng và hành động, sẽ có phiền phức ngoài dự liệu.
Sơ Cửu: Dự liệu trước thì tốt lành; nếu có ý khác thì không được yên ổn.
Tượng truyện nói: “Sơ Cửu dự liệu trước thì tốt lành”, vì chí hướng chưa thay đổi.
Ý nghĩa kinh văn là: Cân nhắc kỹ rồi mới hành động thì tốt lành; những nghi ngờ khác sẽ dẫn đến bất an.
Ý nghĩa Tượng từ là: Cân nhắc kỹ rồi mới hành động thì tốt lành, vì không thay đổi ý chí của mình.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo. Ta có chén rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi chia sẻ.
Tượng truyện nói: Chim non của nó họa theo, đó là biểu hiện của nguyện vọng trong lòng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Hạc già kêu dưới bóng cây, hạc non bên cạnh họa theo. Ta có rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi dùng chung.
Tượng từ nói: Hạc non họa theo hạc già, đó là biểu hiện của sự tương thông trong tâm hồn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này đi đâu cũng thuận lợi, tiền tài tăng tiến hoặc sinh con. Người làm quan sẽ được thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Người xướng kẻ họa, đúng như ý ta.
Tài vận: Chủ và khách đồng lòng, cùng nhau thu lợi.
Gia trạch: Nhà cửa phú quý, con cái hiếu thảo; vợ chồng hòa thuận.
Sức khỏe: Bệnh truyền nhiễm.
Quẻ biến của hào Cửu Nhị
Cửu Nhị biến thành quẻ 42: Phong Lôi Ích. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Chấn dưới và Tốn trên. Tốn là gió, Chấn là sấm. Gió sấm dồn dập, thế càng mạnh; sấm càng vang, gió và sấm hỗ trợ nhau cùng tăng trưởng. Quẻ này ngược với quẻ Tổn: giảm bớt ở trên để làm lợi cho dưới, còn quẻ Tổn là giảm dưới để làm lợi cho trên. Hai quẻ trình bày nguyên lý tổn ích.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị
Hào thứ hai quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo.
Giải thích hào từ
“Âm” chỉ nơi u tối. “Hòa” chỉ sự ứng họa. “Tước” là đồ đựng rượu thời cổ, ở đây chỉ rượu. “Mi” chỉ cùng nhau chia sẻ.
Ý nghĩa hào từ này là: Hạc kêu ở nơi rợp tối, hạc non theo đó họa lại. Ta có rượu ngon thơm nồng, muốn cùng ngươi uống thỏa thích.
Xét tượng quẻ, Cửu Nhị là hào dương ở vị trí mềm, nằm giữa hạ quái. Lục Tam và Lục Tứ ở phía trên đều là hào âm, nên nó ở nơi âm u. Tuy Cửu Nhị không đắc vị, nhưng có thể giữ trung đạo và sẵn lòng chia sẻ với người khác.
Hào này gợi mở tinh thần chia sẻ. Khi làm việc, dù không hài lòng lắm với chức vị, bạn cần điều chỉnh tâm thế để tiếp nhận, duy trì quan hệ hòa hợp với đồng nghiệp, đừng luôn đối nghịch và hãy sẵn lòng chia sẻ với người khác. Như vậy sẽ tạo môi trường làm việc hết sức hòa thuận.
Cửu Nhị: Hạc kêu trong bóng râm, chim non của nó họa theo. Ta có chén rượu ngon, ta sẽ cùng ngươi chia sẻ.
Tượng truyện nói: Chim non của nó họa theo, đó là biểu hiện của nguyện vọng trong lòng.
Giải thích chi tiết hào thứ ba quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Gặp địch; người thì đánh trống, người thì dừng lại; người thì khóc, người thì ca hát.
Tượng truyện nói: Người thì đánh trống, người thì dừng lại, vì vị trí không thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Đã đánh bại kẻ địch; người thì đánh trống truy kích, người thì khải hoàn báo tin thắng trận. Tin truyền đến, có người vui mừng rơi lệ, có người cất tiếng hát vang.
Tượng từ nói: Người thì đánh trống truy kích, người thì khải hoàn báo thắng; nhưng xét tượng hào, Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, trong thắng lợi e rằng ẩn chứa tai họa bất ngờ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này trong vui có lo, sự việc nhiều lần đảo ngược. Người làm quan bất hòa với đồng liêu, tiến trước rồi lui sau.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế đảo chiều, vinh nhục cũng theo đó.
Tài vận: Khi thành khi bại, thiếu chủ kiến.
Gia trạch: Cẩn phòng chuyện ly kỳ; lặp đi lặp lại vẫn chưa thành.
Sức khỏe: Lúc tốt lúc xấu, nên cầu thần linh phù hộ.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Lục Tam biến thành quẻ 9: Phong Thiên Tiểu Súc. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Càn dưới và Tốn trên; Càn là Trời, Tốn là gió. Quẻ ví với mưa thuận gió hòa, ngũ cốc sinh trưởng nên gọi là Tiểu Súc. Sức lực có hạn, phải chờ phát triển đến một mức nhất định mới có thể làm nên việc lớn.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Ý nghĩa hào từ này là: Gặp kẻ địch mạnh, có thể đánh trống tiến công, hoặc vì mệt mỏi mà lui bại, hoặc vì sợ hãi mà khóc, hoặc vì thoát được tai họa mà ca hát.
Xét tượng quẻ, Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, nên thất vị. Nó ở ranh giới hai quái, chính ứng với Thượng Cửu, cho thấy lòng bị ngoại vật lôi kéo và ràng buộc. Đáng lẽ nên an với vị trí của mình, nhưng lại muốn bám vào Thượng Cửu để tìm cơ hội thăng tiến hoặc phát triển lớn hơn. Vì vậy gặp trở lực từ mọi phía và rơi vào bất an.
Tượng truyện giải thích hào này: “Người thì đánh trống, người thì dừng lại”, vì vị trí không thích đáng. Việc gặp kẻ địch mạnh, khi thì đánh trống tiến công, khi thì mệt mỏi lui bại, đều do Lục Tam ở sai vị.
Người được hào này, dù có chỗ dựa hoặc thân thiết với lãnh đạo cấp trên, cố sức nịnh bợ để mưu thăng tiến hay tạo thuận lợi cho phát triển bản thân, nhưng người xung quanh hoặc cấp trên rất khó chịu với cách làm ấy, sẽ cản trở hoặc đả kích. Hơn nữa, người bạn dựa vào không phải lãnh đạo tối cao có thực quyền, nên chướng ngại trùng trùng.
Lục Tam: Gặp địch; người thì đánh trống, người thì dừng lại; người thì khóc, người thì ca hát.
Tượng truyện nói: Người thì đánh trống, người thì dừng lại, vì vị trí không thích đáng.
Giải thích chi tiết hào thứ tư quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi.
Tượng truyện nói: Mất đôi ngựa là cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tứ: Đang giữa tháng, đàn ngựa bị mất, nhưng không có tai họa lớn.
Tượng từ nói: Mất ngựa rồi thì về sau phải cảnh giác gấp đôi, đề phòng chuyện tương tự tái diễn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thể được đề bạt, nhưng có nỗi lo mất người phối ngẫu hoặc tài sản. Người làm quan sẽ thăng tiến, giữ địa vị trọng yếu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Giữ vững sự đầy đủ và bình ổn, đặt việc công trước việc tư.
Tài vận: Mưu sự thuận lợi, nguồn tiền cũng dồi dào.
Gia trạch: Âm khí quá thịnh; có thể góa bụa.
Sức khỏe: Có thể dần dần hồi phục.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Lục Tứ biến thành quẻ 10: Thiên Trạch Lý. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Càn trên. Càn là Trời, Đoài là đầm; lấy Trời ví vua, lấy đầm ví dân. Nguyên văn nói: “Giẫm đuôi hổ mà hổ không cắn người”, vì vậy kết quả tốt lành. Vua ở trên, dân ở dưới, mỗi bên được đúng vị. Đoài mềm gặp Càn cứng nên bước đi nguy hiểm. Lý nghĩa là thực hành, tiến lên một cách vững chân trên mặt đất.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Hào thứ tư quẻ Trung Phu, hào từ: Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Vọng” chỉ hình tượng trăng tròn vào ngày mười lăm hoặc mười sáu âm lịch. Ở đây chỉ trăng sắp đầy nhưng chưa tròn hẳn.
Ý nghĩa hào từ này là: Trăng sắp tròn mà chưa đầy, ngựa tốt mất bạn đồng hành nhưng không có lỗi.
Xét tượng quẻ, Lục Tứ là hào âm ở vị trí mềm, được đúng vị. Đây là vị đại thần gần vua, thân cận với Cửu Ngũ là quân vương và được Cửu Ngũ rất tin cậy. Tuy nhiên Lục Tứ không giữ được chính đạo, lại chính ứng với Sơ Cửu bên dưới, nên có hiềm nghi kết bè đảng riêng. Nhưng Lục Tứ nhận ra nguy cơ, chỉ trung thành với Cửu Ngũ và cắt đứt quan hệ với Sơ Cửu. Điều này giống như đôi ngựa chỉ trung thành với chủ, không liên hệ với đồng loại: “mất đôi ngựa”. Vì Lục Tứ có thể tự sửa mình nên không có lỗi.
Tượng truyện phân tích hào này: “Mất đôi ngựa”, tức cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên. Điều đó chỉ Lục Tứ thành tín, chuyên nhất, đoạn tuyệt giao du với đồng loại và chuyên tâm phụng sự quân chủ.
Người được hào này có thể đứng trước hai lựa chọn, trong công việc hoặc tình cảm có vẻ như bắt cá hai tay. Lúc này phải quyết đoán; bạn biết lựa chọn nào phù hợp và có lợi hơn cho mình, nên nhất định phải bỏ một bên để không mắc lỗi. Ở cơ quan, vốn bạn là trợ lý của lãnh đạo, nhưng nếu có đồng nghiệp bên dưới bất mãn với lãnh đạo, bạn cũng hùa theo và qua lại quá thân, hãy nhanh chóng cắt đứt quan hệ với người ấy, nếu không sẽ tự chuốc phiền.
Lục Tứ: Trăng sắp tròn, mất đôi ngựa, không lỗi.
Tượng truyện nói: Mất đôi ngựa là cắt đứt với đồng loại để hướng lên trên.
Ý nghĩa kinh văn là: Trăng gần ngày mười lăm, ngựa bị mất nhưng không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Mất ngựa vì Lục Tứ cắt đứt với đồng loại và hướng lên phụng sự Cửu Ngũ.
Giải thích chi tiết hào thứ năm quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, vì vị trí đúng đắn và thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Tù binh tụ thành từng nhóm, nối liền và trói buộc nhau. Không có tai họa.
Tượng từ nói: Giữ lòng thành tín, trước sau như một; đúng như tượng hào Cửu Ngũ cho thấy, hành vi của người ấy phù hợp với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Tốt lành: Người được hào này nhân tình hòa hợp, mưu việc thành công, làm gì cũng thuận lợi. Người làm quan có vua tôi đồng lòng, được cấp trên khen ngợi.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận thế trung chính, có cầu ắt được đáp ứng.
Tài vận: Đồng tâm hiệp lực thì kinh doanh thành công.
Gia trạch: Gia đình hòa vui; trăm năm hạnh phúc.
Sức khỏe: Tay chân bất tiện, mang bệnh mà vẫn kéo dài tuổi thọ.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Cửu Ngũ biến thành quẻ 41: Sơn Trạch Tổn. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Cấn trên. Cấn là núi, Đoài là đầm. Núi trên đầm dưới, đầm lớn xâm thực chân núi. Tổn ích thay đổi lẫn nhau; trong tổn có ích, trong ích có tổn. Không thể không thận trọng với cả hai. Giảm dưới để làm lợi cho trên, như trị quốc, nếu quá mức sẽ làm tổn thương nền móng quốc gia. Cần giảm thì giảm, nhưng phải lượng sức và giữ chừng mực. Giảm ít mà ích nhiều là tốt nhất.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Loan” chỉ sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.
Ý nghĩa hào từ này là: Có đức thành tín, nhờ đó gắn kết lòng người trong thiên hạ, liên hệ mật thiết với quần chúng, nên không gặp họa.
Vị trí hiện tại: Quốc Dịch Đường > Chu Dịch > Toàn thư Chu Dịch > Quẻ Trung Phu > Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu >
Chia sẻ: 0
Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
2013-10-02 | Nguồn: Quốc Học Đường | Chuyên mục: Giải thích chi tiết quẻ Trung Phu | Lượt nhấp: 655 lần
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Giải thích hào từ.
“Loan” chỉ sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời.
Ý nghĩa hào từ này là: Có đức thành tín, nhờ đó gắn kết lòng người trong thiên hạ, liên hệ mật thiết với quần chúng, nên không gặp họa.
Hào thứ năm quẻ Trung Phu, hào từ: Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi. Gợi mở cho cuộc đời.
Xét tượng quẻ, Cửu Ngũ là hào dương ở vị quân chủ, giữ trung đạo và thân cận với Lục Tứ; hai bên hỗ trợ lẫn nhau nên không có sai lầm.
Tượng truyện phân tích hào này: “Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ”, vì ở đúng vị và thích đáng. Điều này chỉ việc có đức thành tín rồi gắn kết lòng người trong thiên hạ; đó là ở vị trí trung chính thích hợp, cho thấy sức giáo hóa của thành tín có thể lan đến toàn bộ đất nước.
Người được hào này cần hiểu rằng, với tư cách người lãnh đạo, nếu bạn chân thành đối đãi với cấp dưới thì họ cũng sẽ thật lòng đối đãi lại. Trong tình yêu và hôn nhân, nếu đôi bên thành tâm với nhau, tình cảm sẽ thăng hoa và phát triển.
Cửu Ngũ: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, không lỗi.
Tượng truyện nói: Có lòng tin thì gắn bó chặt chẽ, vì vị trí đúng đắn và thích đáng.
Ý nghĩa kinh văn là: Dùng thành tín gắn kết người trong thiên hạ thì không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Dùng thành tín gắn kết thiên hạ vì Cửu Ngũ ở giữa và được đúng vị.
Giải thích chi tiết hào Thượng Cửu quẻ thứ sáu mươi mốt của Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu.
Tượng truyện nói: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời, sao có thể lâu dài được?
Giải thích bằng văn nói
Thượng Cửu: Gà bay lên trời. Bói hỏi được điềm xấu.
Tượng từ nói: Gà bay lên trời, làm sao có thể bay lâu dài?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Xấu: Người được hào này hư nhiều thực ít, đường phía trước hiểm nguy. Người buôn bán sẽ chịu tổn thất. Người làm quan có niềm vui được gần vua.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hư rỗng, không thực chất, khiến người lo lắng.
Tài vận: Ngoài mạnh trong rỗng, tương lai đáng lo.
Gia trạch: Khó giữ được gia nghiệp; e rằng vợ chồng khó cùng nhau đến già.
Sức khỏe: Bệnh trạng vô cùng khổ sở.
Quẻ biến của hào Thượng Cửu
Thượng Cửu biến thành quẻ 60: Thủy Trạch Tiết. Quẻ này là sự chồng lên nhau của Đoài dưới và Khảm trên. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn; quá nhiều sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy cần có tiết chế, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết ngược với quẻ Hoán, là quẻ tổng của nhau và được dùng tương hỗ. Trời đất có tiết độ mới luôn mới, quốc gia có tiết độ mới ổn định, cá nhân có tiết độ mới hoàn thiện.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Hào thứ sáu quẻ Trung Phu, hào từ: Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu. Giải thích hào từ.
“Hãn” chỉ loài chim trĩ núi lông đỏ, còn gọi là chim trĩ vàng.
Ý nghĩa hào từ này là: Chim trĩ vàng dựa vào vẻ ngoài hoa lệ, kêu lớn đòi lên trời; vì vậy có thể xuất hiện điều xấu.
Xét tượng quẻ, Thượng Cửu là hào dương ở vị trí âm, không thể giữ trung thủ chính, lại ở thế nghịch tỉ với Cửu Ngũ. Dù trước đây từng đạt thành tích hoặc có chút danh tiếng, tất cả cũng như chim trĩ vàng, chỉ có vẻ ngoài. Không có năng lực lên trời mà lại lớn tiếng tuyên bố sẽ lên, chẳng khác kẻ lừa đảo hữu danh vô thực, tận dụng hết sự gian dối và giả trá, nên vô cùng nguy hiểm.
Tượng truyện phân tích hào này: “Tiếng chim trĩ bay lên đến trời”, sao có thể lâu dài! Điều đó chỉ tiếng kêu hư rỗng, không thực chất, âm thanh lớn hơn tình ý; làm sao duy trì lâu được?
Người được hào này đừng làm việc mình không thể làm, đừng phô trương thanh thế để người khác khâm phục và đi theo. Một ngày nào đó bạn sẽ lộ nguyên hình và tai họa ập đến. Nếu từng thành công rồi vênh váo, kiêu căng, coi mình là nhất, chẳng bao lâu bạn sẽ nếm mùi thất bại.
Thượng Cửu: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời; giữ chính đạo thì xấu.
Tượng truyện nói: Tiếng chim trĩ bay lên đến trời, sao có thể lâu dài được?
Ý nghĩa kinh văn là: Gà bay lên trời, giữ chính đạo thì nguy hiểm.
Ý nghĩa Tượng từ là: Gà bay lên trời, làm sao có thể bay lâu dài?