Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 2 Khôn là đất; Khôn: nguyên hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái. Người quân tử có chỗ để đi: đi trước thì lạc đường, đi sau thì được chủ. Đi về tây nam thì lợi, được bạn; đi về đông bắc thì mất bạn. Yên ổn giữ chính thì tốt.

Khôn là đất; Khôn: nguyên hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái. Người quân tử có chỗ để đi: đi trước thì lạc đường, đi sau thì được chủ. Đi về tây nam thì lợi, được bạn; đi về đông bắc thì mất bạn. Yên ổn giữ chính thì tốt.

Khôn: nguyên hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái. Người quân tử có chỗ để đi: đi trước thì lạc đường, đi sau thì được chủ. Đi về tây nam thì lợi, được bạn; đi về đông bắc thì mất bạn. Yên ổn giữ chính thì tốt.

02 Khôn là đất

Quẻ Khôn có ba hào âm vỡ thành sáu đoạn, là hình tượng thuần Âm hư khuyết. Chữ "Khôn[13]" trong cổ văn là "xuyên" (ba nét uốn), mà bộ thủ của chữ "thuận" và chữ "xuyên" (sông) cũng là tượng hình của "xuyên". Cho nên 《Tượng truyện》 nói "và thuận theo mà đón nhận trời", lại nói "mềm mại, thuận theo, chính đính thì có lợi". 《Văn ngôn truyện》 nói: "Đạo Khôn há chẳng phải là thuận sao?" 《Hệ từ truyện》 nói: "Quẻ Khôn là sự vô cùng thuận theo trong thiên hạ." Đều có thể thấy rõ ý nghĩa "thuận" của quẻ Khôn. Sau vì e lẫn lộn với chữ "xuyên" (sông) trong núi sông, nên đổi thành ghép từ "thổ" (đất) và "thân", nói lên Khôn là đất. Đất là thổ, về phương vị là Thân. Bổn thể của đất thì yên tĩnh mà vô cùng mềm mại, vô cùng thuận theo, để đón nhận Càn. 《Thuyết quái truyện》 nói "Khôn là nhu", 《Tạp quái truyện》 nói "Càn cương Khôn nhu", ý nghĩa mềm mại thuận theo qua đó có thể biết vậy.



Khôn: Nguyên hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái [14]. Bậc quân tử có nơi phải đi: đi trước thì lạc, đi sau thì gặp chủ. Đi về tây nam thì lợi vì được bạn; đi về đông bắc thì mất bạn. An ổn giữ chính thì tốt lành.

Khôn là quẻ đối của Càn. Khí của vạn vật bắt đầu từ trời, còn hình thể của vạn vật sinh ra từ đất. Về nghĩa, ở người là thấp mình; ở vật là giống cái; ở việc là tĩnh; ở học là năng lực; ở thời là mùa thu. Về đạo, nó có thể được người khác sử dụng nhưng không thể tự sử dụng mình. Kẻ tiểu nhân nếu biết sự mềm yếu của mình mà có thể thuận theo bậc quân tử cương minh thì sẽ đạt được. Tuy nhiên, tượng của Kinh Dịch luôn biến động, không thể chấp một cách mà luận. Điều đó không có nghĩa vua cha không được chiếm quẻ Khôn, bề tôi con cái không được chiếm quẻ Càn; cũng không có nghĩa sáu hào Càn không có tiểu nhân hay sáu hào Khôn không có quân tử. Quân tử được quẻ này thì phải biết vận khí của mình đang ở thế Khôn, noi theo nghĩa thuận của Khôn, dùng sự nhu thuận để xử lý công việc.



▲ Dạng chữ cổ của “Khôn”

Khôn là đất, thuận theo và thừa nhận Càn của Trời như mặt trời. Trời có tượng, đất có hình; trời hư, đất thực. Đất do đất đai tích tụ mà thành, ngửa nhận sự ban bố của Trời rồi hóa sinh muôn vật, không gì mà không nâng đỡ và chuyên chở. Ở con người, Khôn là bề tôi và người vợ: bề tôi thờ vua, mẹ nuôi con, vợ theo chồng, đều noi theo cái thuận tột cùng của đạo đất; nghĩa lý của chúng chỉ là một. Đức của Khôn mềm thuận, bao hàm rộng lớn, sáng rực và cao cả, đôn hậu chân thực, dày nặng; đó chính là đại đức mà Trung Dung gọi là “rộng rãi khoan dung, ôn hòa mềm mại, đủ sức bao chứa”.

Sáu hào của quẻ này đều là hào âm, tượng của sự thuận; các hào âm kép ở trong và ngoài là tượng dày; bên trong rỗng là tượng trung tâm, bao chứa và thông suốt; từng đôi hào tương so là tượng đi và sáng; vẻ đều đặn, cân xứng là tượng văn vẻ và đẹp đẽ; sáu hào âm là tượng mười hai phương và sự lớn; trật tự không rối là tượng lý; phân bố trái phải là tượng thể và sự nghiệp. Hào từ cùng Văn ngôn truyện đều kết lời dựa theo những tượng ấy.



▲ Sơ đồ phương vị của tám quái

Ý nghĩa của “nguyên hanh, lợi về chính bền” được thấy ở phần quẻ Càn. Càn là cái ở trên hình thể, chủ đạo của Trời Đất; Khôn là cái ở dưới hình thể, chủ công năng của âm dương. Đó là sự khác biệt giữa Càn và Khôn. “Nguyên hanh” của Khôn cũng là “nguyên hanh” của Càn, giống như mặt trăng nhờ nhận ánh sáng mặt trời mà có ánh sáng. Tính chất của ngựa là mềm thuận, có thể phục vụ con người; ngựa cái lại càng mềm thuận. Ở miền bắc, đàn ngựa thường đi theo mười ngựa cái với một ngựa đực, không nhập vào đàn khác. “Sự chính bền của ngựa cái” lấy hình tượng từ đó. Tuy nhiên, quẻ Càn nói về rồng, quẻ Khôn nói về ngựa: rồng bay trên trời, biến hóa tự do; ngựa đi trên đất, thuần phục con người. Ngựa cái đối với ngựa đực biểu thị sự mềm, nên nói “lợi về chính bền của ngựa cái”. Càn ở trên, Khôn ở dưới, tức Càn đi trước, Khôn đi sau. Nếu Khôn đi trước Càn thì là trái với Trời, đi đâu cũng nhất định lạc. Khôn theo sau Càn thì là “thuận theo và tiếp nhận Trời”, nhờ đó “được chủ, có hằng thường”, đi đâu cũng không gì là không lợi. Đó chính là đạo dương xướng, âm hòa; dương ban cho, âm tiếp nhận. “Có chỗ để đi” nghĩa là có việc phải làm. Khôn lấy Càn làm chủ, người quân tử lấy nhà vua làm chủ. Vua đi trước, bề tôi đi sau, theo mệnh lệnh mà hành động, vì vậy đi đâu cũng thích hợp. “Tây nam” là phương âm, thuộc Tốn, Ly, Đoài, là phương bản vị của Khôn. “Đông bắc” là phương dương, thuộc Khảm, Cấn, Chấn, là phương bản vị của Càn. “Tây nam được bạn” nghĩa là Khôn, với tư cách quẻ âm, đi về phương của âm. “Đông bắc mất bạn” nghĩa là Khôn, với tư cách quẻ âm, đi về phương của các quẻ dương. Âm đi về âm thì cùng với đồng loại; âm đi về dương thì theo dương và có điều đáng mừng. Vì vậy Thoán truyện nói: “Tây nam được bạn là cùng đi với đồng loại; đông bắc mất bạn là cuối cùng vẫn có điều đáng mừng.” “An giữ chính” nghĩa là an trú trong sự thuận theo của Khôn để tương xứng với sự mạnh khỏe của Càn. Vì thế, khi người quân tử có chỗ để đi, chỉ cần noi theo sự thuận theo của Khôn mà thôi.

Có thuyết đọc “được chủ, lợi” thành một câu, cho rằng trong nhà thì sinh con đẻ cái, cần kiệm để làm giàu; trong nước thì sử dụng lợi ích, làm dồi dào đời sống để làm giàu quốc gia. Nhưng không biết phải lấy Văn ngôn truyện của Khổng Tử làm căn cứ; chữ “lợi” thuộc hai câu bên dưới. “Được bạn” và “mất bạn” chính là đối ứng với “được chủ” ở trên.

Thoán truyện nói: Cao cả thay cái nguyên của Khôn! Vạn vật nhờ đó mà sinh, tức thuận theo mà thừa nhận trời. Khôn dày, chở muôn vật; đức của nó hợp với cái vô cương. Bao hàm rộng lớn, sáng suốt và lớn lao, muôn loài đều hanh thông. Ngựa cái thuộc loài của đất, đi trên đất không bờ bến; mềm thuận, lợi về chính bền. Đường đi của quân tử: đi trước thì mất đạo, đi sau thì thuận theo và được lẽ thường. Tây nam được bạn, cùng đi với đồng loại; đông bắc mất bạn, nhưng cuối cùng có mừng. Cái tốt của an trinh ứng với sự vô cương của đất.

Nguyên của Càn và nguyên của Khôn đều bắt nguồn từ một nguyên của Thái cực, không có hai nguyên. Khôn thừa nhận Càn, nên Khôn cũng được gọi là “nguyên”. Nguyên của Càn thuộc dương nên gọi là “đại”; nguyên của Khôn thuộc âm nên không gọi là đại mà gọi là “chí”. “Chí” nghĩa là đã đến chỗ tận cùng. Chỗ tận cùng của dương trở thành âm, mà âm chính là Khôn, nên nói “chí thay!”.

Đất Khôn xoay chuyển và vận động theo Mặt Trời, bên ngoài lấy nước làm lớp áo, tiếp nhận ánh sáng và sức nóng của Mặt Trời, làm nước bốc thành hơi, rồi mưa móc rơi xuống, tạo công năng nuôi sống. Đó gọi là tác dụng của âm dương. Âm dương là đại khí của Trời Đất, vạn vật đều nương hai khí ấy mà sinh thành. Hệ từ truyện nói: “Trời Đất uẩn kết, vạn vật biến hóa thành thuần hậu; trai gái giao tinh, vạn vật biến hóa mà sinh.” Chính là điều đó. Đại khí của Càn nguyên giao với tinh khí của Khôn nguyên, vạn vật sum suê phát triển, công cuộc sinh dưỡng không nơi nào không đến; gọi là “Chí thay Khôn nguyên, vạn vật nhờ đó mà sinh, thuận theo mà thừa nhận sự ban phát của Trời.” Càn là khí tích tụ của Trời, đức ở chỗ bắt đầu ban phát; Khôn thừa nhận khí Trời mà thành thể, đức ở chỗ tiếp nhận và nuôi dưỡng. Chữ “sinh” trong “nhờ đó mà sinh” đối ứng với chữ “thủy” trong Tượng truyện của Càn, không thể xem nhẹ. Quẻ này trên dưới đều là Khôn, có tượng dày nặng; vì thế chở núi non mà không thấy nặng, lay sông biển mà không làm rò rỉ, ứng với sự ban phát vô cùng của Trời, sinh thành vạn vật, không gì không bao dung, không gì không phát dục. Vì vậy nói: “Khôn dày chở muôn vật, đức hợp với vô cương, chứa đựng rộng lớn, sáng tỏ lớn lao, muôn loài đều hanh thông.” Theo phép tượng, tinh khí của đất là ngựa; ngựa cái thuộc âm, lại là âm chồng lên âm. Vì tính mềm thuận mà có thể đi xa, nên nói “đi trên đất không bờ bến”. Người quân tử noi theo Khôn, hành động cũng phải như vậy. Một chữ “ngựa cái” chứa dụng ý sâu xa của Thánh nhân; người đọc Dịch nên lưu tâm nghiền ngẫm. Quẻ này thuần âm; âm chủ sự thành, mà muốn thành phải lấy Càn làm chủ, nên thích hợp đi theo Càn mà hành động. Là bề tôi hay người vợ đều không thể tranh trước mà tự mình thành việc. Vì thế người quân tử gieo được quẻ này nên hành sự yên tĩnh, không nên nóng vội tiến lên; nếu hành động trước thời cơ ắt thất bại. Âm là tối tăm, mờ ám, không thích hợp chủ trì công việc, nhất thiết phải lấy việc theo dương làm chủ. Quẻ này toàn âm, nên đi trước người khác mà đảm đương việc tất lạc đường và nhiều sai lầm; thừa nhận dương rồi theo sau thì thuận mà được lẽ thường. Vì vậy nói: “Đi trước thì mất đạo, đi sau thuận theo thì được lẽ thường.” Tây nam là lui, đông bắc là tiến; hơn nữa tây nam là vị âm, đông bắc là vị dương. Trong thời của Khôn, lui về tây nam thì được bạn, tiến về đông bắc thì mất bạn. Nhưng người đời thường vui vì được bạn rồi đi về tây nam, không biết lấy âm đi vào vị âm chẳng những không ích lợi chút nào mà còn khiến mềm thêm mềm, tối thêm tối. Dù đi về đông bắc được nói là mất bạn, nhưng lấy sự tối tăm của mình đi tìm nơi sáng rõ để bổ cứu, thì tối đi sáng đến, đạo thuận và lợi ích nhiều hơn. Vì vậy nói: “Tây nam được bạn, cùng đồng loại mà đi; đông bắc mất bạn, nhưng cuối cùng có điều đáng mừng.” An định trong bổn phận và giữ vững lẽ thường như thế, nên gọi là “cát của sự an trinh”.Đức của sự chính bền là cóสิ่งยึดถือแล้วไม่เปลี่ยน เพื่อทำให้ vạn vật hoàn tất phần cuốiของ mình. Vì vậy nói: “Cát của sự an chính, ứng với đất không bờ cõi.”

Xét rằng: Dịch dựa vào con số “ba Trời hai Đất” để đặt vị trí của Trời Đất, định vị cương nhu. Tức là Trời một, Đất hai, Trời ba, Đất bốn, Trời năm, Đất sáu, trong đó âm dương đều giao nhau. Trong sáu mươi tư quẻ, chỉ có quẻ Thủy Hỏa Ký Tế là có vị trí được định hoàn toàn đúng đắn 15. Những điều trong Dịch nói “đúng vị” hay “không đúng vị” đều xuất phát từ nguyên lý này; mọi việc lớn nhỏ trong thiên hạ hợp hay không hợp đạo lý cũng đều do đó mà ra. Lại nữa, khi trong đất có trời, số hai và bốn gọi là hai đất, số một và năm gọi là hai trời, số ba gọi là trời trong đất; gộp lại gọi là ba trời. Hào trên cùng là một hào âm, biểu thị bên ngoài địa cầu vẫn còn những thế giới khác. Vị trí “ba trời hai đất” này là then chốt nhất trong Dịch. Vì vậy, ở vị trí của trời mà có đất, hoặc ở vị trí của đất mà có trời, đều gọi là không đúng vị. Dịch xử lý thời, chỗ và vị tinh mật đến như vậy.

Xét toàn quẻ, hào đầu là sự khởi đầu yếu ớt của âm. Kẻ tiểu nhân hăm hở mưu lợi mà không màng tai họa, có tượng rơi vào đường tà; câu “giẫm lên sương” là lời răn rất sâu. Hào hai được thể thuần Khôn, là hào thuần túy nhất trong quẻ, nhưng chỉ nói “không gì là không lợi”, hoàn toàn khác với Cửu Ngũ của Càn, vốn đắc ngôi trời, hành đạo trời và có điềm thái bình. Hào ba không đắc trung lại không đắc chính, là thời thưởng phạt không sáng tỏ. Hào bốn không đắc trung, khiến quân tử phải im lặng để tránh họa. Hào năm không đắc chính, khiến tôn ti đảo lộn. Đến Thượng Lục, các hào âm cùng đánh nhau, có tượng lấy máu rửa máu, là cực điểm của âm. Nói chung, Khôn là quẻ thuần âm, nên cả sáu hào phần lớn đều nói về kẻ tiểu nhân, đối lập với quân tử của Càn. Vì là tiểu nhân, Thoán truyện nói “lấy lợi làm chủ”, còn hào trên nói “đánh nhau”. “Giẫm lên sương” răn từ đầu, “giữ chính bền lâu” thận trọng ở cuối. Dù đôi khi lấy tượng để nói quân tử, ý thú vẫn khác quân tử của Càn. Quân tử của Càn là người hiền, quân tử của Khôn là người có năng lực. Người hiền dùng người, người có năng lực được người khác dùng; người hiền ở ngôi vị, người có năng lực ở chức vụ. Thời Càn, người hiền ở ngôi mà thi hành đức hóa; thời Khôn, người có năng lực ở chức mà tính toán lợi ích.

Tượng truyện nói: “Thế đất là Khôn; quân tử noi theo đó, dùng đức dày mà nâng đỡ muôn vật.”

Tượng của Khôn gồm hai quái Khôn chồng lên nhau, một ở dưới và một ở trên, giống như những chỗ cao thấp của địa hình nối tiếp nhau. Trời giống sự vận hành của khí, nên Càn nói “trời vận hành”; đất dùng hình thể để nâng đỡ muôn vật, nên Khôn nói “thế đất”. Đất có cao thấp, còn sự nhấp nhô của gò đồi, núi non là do tác dụng của hỏa khí trong lòng đất. Địa cầu vốn lấy nước làm áo, nên chỗ thấp tích tụ thành biển; Kinh Dịch gọi đó là đầm. Nước bao quanh bốn phía bị sức hút của mặt trời hấp dẫn. Khi địa hình hiện lên trên mặt nước, thế đất có cao thấp khác nhau, mỗi nơi theo hình thế của mình mà kéo dài ra. “Kéo dài” nghĩa là vươn ra, nên nói “thế đất là Khôn”. Sự khác biệt giữa trí và ngu, hiền và bất tiếu ở con người cũng như địa hình có cao thấp, đất có phì nhiêu hay cằn cỗi. Người nông phu không vì đất cằn mà bỏ việc cày cấy; quân tử không vì người ngu hoặc bất tiếu mà ngừng giáo hóa. Họ dạy nguyên do khiến sự vật thành ra như vậy, dẫn dắt người ta hiểu sự cao quý của đạo nghĩa, để nêu chuẩn mực cho xã hội. Tuy nhiên, tính người có bậc thượng trí, bậc trung tài và kẻ hạ ngu. Thượng trí tu thân rồi đem điều ấy đến với người khác; trung tài chỉ tự tu; hạ ngu không thể tự tu, phải chờ người khác cai trị và giáo hóa. Trong mọi vật hữu hình giữa trời đất, không gì dày bằng đất, và không gì không được đất nâng đỡ. Vì vậy quân tử noi theo tượng Khôn, dùng đức dày mà đối đãi với người. Dù là người trí hay ngu, hiền hay bất tiếu, tất cả đều được bao dung, cũng như Khôn không gì không nâng chở. Vì thế gọi là “dùng đức dày mà chở muôn vật”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về việc chiến tranh: Khôn tượng cho đất, cũng tượng cho đám đông; “thế” là cách gọi sức mạnh. Khi hành quân, đã được địa lợi, lại có thế lực và quân chúng, thì tấn công ắt không trận nào không thắng.


○ Hỏi về công danh: Người ở trên mà noi theo đức dày của Khôn, tích lũy đức dày để ánh sáng lan tỏa, tự nhiên sẽ có danh tiếng hiển đạt và vang xa.

○ Hỏi về kinh doanh: Khôn tượng cho giàu có, tiền của, tích lũy và tụ hợp, đều là điềm lành cho việc buôn bán. Quẻ nói “đức dày chở muôn vật”; chữ “đức” cũng thông với “đắc”, nên ắt có thể đầy tải mà trở về.

○ Hỏi về nhà cửa: Biết rằng ngôi nhà này có địa thế tốt hơn, là đại cát.

○ Hỏi về hôn nhân: Khôn là thuận, chỉ sự mềm thuận; đó là đạo của đất, cũng tức là đạo làm vợ. Đại cát.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

Sơ Lục: Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến.

Sơ Lục: Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến.

Tượng truyện nói: “Giẫm lên sương, băng cứng”: âm bắt đầu ngưng kết. Thuận theo đà ấy mà để nó phát triển, cuối cùng sẽ thành băng cứng.

Hào đầu ở vào lúc khởi đầu của thuần âm, là khi âm mới bắt đầu ngưng tụ. Tuy dấu hiệu ban đầu cực kỳ nhỏ bé, nhưng thế của nó tất sẽ dần dần lớn mạnh. Vì vậy, hào lấy ý từ việc sương giá sắp thành băng cứng. Khi mới giẫm lên sương, cần nhận biết khí âm đang dần tăng trưởng và phòng ngừa trước khi cuối cùng nó hóa thành băng cứng. Ở con người, mầm mống âm tà có thể còn rất nhỏ, dễ tan như sương giá; nhưng thế tích lũy cuối cùng sẽ thành băng cứng, cái ác nghịch ấy không thể quay ngược được nữa, đến lúc đó còn làm gì được? Vì thế, từ việc lớn là trị nước đến việc nhỏ là tu thân, đều phải thận trọng từ những dấu hiệu nhỏ bé. Văn Ngôn truyện nói: “Nhà tích thiện ắt có phúc dư; nhà tích bất thiện ắt có họa dư. Bề tôi giết vua, con giết cha, không phải là việc của một sớm một chiều; nguyên do dẫn đến đó đã tiến triển dần dần.” Có thể nói đây là lời giải thích thấu hiểu ý nghĩa này. Quẻ này toàn là âm, kẻ tiểu nhân chỉ biết lợi dục mà không biết đạo nghĩa. Ban đầu, do sự giáo dục của người cha không cẩn trọng, ngày qua tháng lại càng trượt xuống thấp, rồi lợi dục che mờ tâm trí, trở nên bất hiếu, bất đễ; đến mức cực đoan thì phạm thượng gây loạn, không còn kiêng sợ gì nữa. Tai họa ấy thật sự bắt đầu từ việc giáo dục không cẩn trọng. Ép âm, nâng dương, phòng ngừa điều nhỏ bé và ngăn sự xấu lan dần, đó là điều Thánh nhân ân cần răn dạy. Đạo Khôn tuy cực kỳ thuận theo, nhưng khi sự thuận theo ấy biến đổi, dòng chảy đến cực điểm có thể thành đại nghịch. Thánh nhân thấy tác hại của sự thuận theo Khôn khi trôi đến tận cùng, nên răn phải đề phòng băng cứng dần dần hình thành. Giẫm lên sương để phòng băng, giẫm lên đuôi hổ để phòng bị hổ cắn, đều là những lời răn sâu sắc và thiết tha như nhau. Truyện nói: “Nguyên do dẫn đến đó đã tiến triển dần dần.” “Đến” ở đây bao gồm quá khứ, tương lai và hiện tại. Thoán truyện nói về quẻ Tụng: “Cứng đến mà được trung”, và nói về quẻ Bí: “Mềm đến mà tô điểm cho cứng”; cả hai đều nói về ý nghĩa của “đến”. Những kẻ cố chấp thường cho rằng nhân quả báo ứng là thuyết của Phật giáo, còn Thánh nhân không hề nói đến; đó là sai lầm. Tượng truyện nói: “Âm bắt đầu ngưng tụ.” Điều này có nghĩa là khi dục niệm của kẻ tiểu nhân mới nảy mầm, họ thuận theo thế tự nhiên, không còn lưu tâm; lâu dần thành thói quen và phát triển đến mức thịnh. Mầm âm tà ban đầu tuy nhỏ, nhưng từ giẫm lên sương giá đến thành băng cứng, nó cứ dần dần tiến tới, không thể ngăn giữ, rồi cuối cùng làm mất thân, tan nhà, không còn cứu vãn được. Tục ngữ nói “Kẻ trộm kim sẽ trộm chuông”, chính là nghĩa ấy. Vì vậy Thánh nhân răn rằng trước khi lỗi lầm và sự lười nhác trở nên lớn, phải mau chóng sửa đổi. Hào này biến thì thành quẻ Phục. Sơ cửu của quẻ Phục nói: “Trở lại không xa, không đến nỗi hối hận, rất tốt lành.” Đó chính là sửa lỗi nhanh chóng, không để lại hối tiếc.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về kinh doanh: Ở Sơ Lục, âm khí còn yếu. “Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến” nghĩa là từ nhỏ mà suy ra đến lớn, giống như việc kinh doanh từ ít đến nhiều, tích lũy dần dần rồi đạt giàu có.


○ Hỏi về công danh: Hào đầu là thời của người trẻ mới tiến thân, từ địa vị thấp mà lên địa vị cao, như giẫm sương rồi đến băng cứng; phải tiến theo thời, không được nóng vội.

○ Hỏi về chiến tranh: Hào đầu là lúc âm mới bắt đầu, có tượng “giẫm sương”; hào trên là “rồng đánh nhau”, cực điểm của âm, có tượng “băng cứng”. “Máu của chúng đen vàng” nghĩa là hai bên cùng thất bại. Điều cần làm trước hết là thận trọng từ đầu.

○ Hỏi về nhà cửa: Khôn là quẻ thuần âm. Ở hào đầu, âm khí còn yếu nên nói “giẫm sương”; đến “băng cứng” thì âm khí đã thịnh. Âm thịnh ắt suy, là điềm không lành.

○ Hỏi về hôn nhân: Quẻ Khôn thuần âm; sương và băng đều là tượng âm. Thuần âm không có dương thì bất lợi.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

○ Hỏi về bệnh tật: E là chứng bệnh do âm tà gây ra; lúc mới phát thì còn chữa được, để lâu sẽ khó trị[16].

【Ví dụ】Mùa đông năm Minh Trị thứ hai mươi mốt, một nam tước đến nói: “Gần đây tôi muốn tham gia kinh doanh khai mỏ. Mỏ này được một học giả khoáng nghiệp bảo đảm, chắc chắn có lợi; tuy vậy, xin ông bói giúp được mất của nó.” Bói được quẻ Khôn biến thành quẻ Phục.

Lời đoán nói: Quẻ này thuần âm, không có một hào dương nào, là tượng không có sự nghiệp thống nhất, cũng là thời mọi người đều mưu lợi riêng. Hơn nữa, hào đầu là âm mới bắt đầu ngưng kết, có tượng kẻ tiểu nhân tham lam không biết đủ. Dương Càn tượng cho kim loại; quẻ này không có hào dương, nên không thể thu được vàng. Dù học giả khoáng nghiệp bảo đảm, cũng không thể vội tin. Quẻ âm thuộc về kẻ tiểu nhân; kẻ tiểu nhân chạy theo lợi mà không màng vua cha, huống chi bạn bè? Ngài nên từ chối mưu tính ấy. Nam tước nghe theo. Về sau ông được biết học giả khoáng nghiệp kia thông đồng với người nước ngoài, nói dối rằng sản lượng vàng của mỏ rất dồi dào, bày ra trò lừa đảo để dụ người ta giao nộp rất nhiều tiền; tất cả những ai mắc vào kế đó đều chịu thiệt hại nặng. Vì vậy, dù việc khai mỏ thực sự có lợi, người ta vẫn thường không tin những người bàn về khoáng nghiệp. Lòng muốn khởi nghiệp và khí thế tiến thủ của mọi người đều bị ngăn trở bởi tai hại do hạng tiểu nhân ấy gây ra.

Nhờ lời bói này, nam tước không tham gia vào kế đó và tránh được tổn thất, quả là may mắn.

【Ví dụ】Vào đông chí năm Minh Trị thứ ba mươi mốt, tôi bói vận thế của đế quốc chúng ta trong năm tới, được quẻ Khôn biến thành quẻ Phục.

Theo lệ của Kinh Dịch, dương là quân tử, âm là tiểu nhân. Quân tử là người một lòng trung thành mưu lo cho quốc gia, không ôm lòng riêng hay ý đồ quanh co. Bậc thánh thượng sáng suốt và thông tuệ, ngự trị thiên hạ, cũng nên lấy quân tử làm khuôn mẫu, lấy tiểu nhân làm điều răn. Tiểu nhân chỉ chăm lo lợi ích, không màng quốc gia thịnh hay suy. Như Mạnh Tử nói: “Trên dưới cùng tranh nhau lợi.” Cướp đoạt mãi không chán, kẻ mạnh thắng kẻ yếu, kẻ yếu thành thịt cho kẻ mạnh, đó cũng là thế tất yếu. May thay ta đang ở thời đại sáng suốt, văn hóa ngày càng hưng thịnh; dù so với các nước Âu Mỹ cũng không kém bao nhiêu. Nhưng đạo đức xã hội và lòng người ngày càng suy đồi, chỉ coi lợi là trọng. Tìm người tôn trọng phong tục cổ, bàn luận đạo đức, hiểu nghĩa mà không chỉ hiểu lợi, thì trong trăm người cũng khó có một. Há chẳng đáng than sao! Quẻ Khôn thuần âm không có dương, là thời tiểu nhân tung hoành, quân tử lui vào ẩn náu. Nay được hào đầu, đất biến thành sấm, là điềm tiểu nhân chuyên quyền và độc chiếm lợi riêng. Lời quẻ nói: “Giẫm lên sương giá, băng cứng sẽ đến”, tức là khi mới giẫm lên sương giá, tâm cơ của tiểu nhân vừa nảy mầm, còn dễ tan như sương; đến khi băng cứng kết lại, nó tạo thành thế không thể lay chuyển. Khổng Tử nói: “Nhà tích thiện ắt có phúc thừa; nhà tích bất thiện ắt có họa thừa. Bề tôi giết vua, con giết cha, không phải là việc của một sớm một chiều; nguồn gốc của nó đã dần dần tích tụ, vì đã không sớm phân biệt và sửa chữa. Kinh Dịch nói: ‘Giẫm lên sương giá, băng cứng sẽ đến’; đó là nói về việc thuận theo trình tự.” Những lời bất tường như vậy đôi khi xuất hiện trong thời đại các nước khác chinh phạt và trừng trị. Nhưng đối với đế quốc của ta, thiên tử nối truyền một dòng suốt muôn đời, bên dưới cũng không thiếu bề tôi phò tá trung quân ái quốc, nên không cần lo điều ấy. Tuy nhiên, nay nếu gieo quẻ vận nước mà được hào này, há có thể không răn mình và thận trọng sao?

Theo sự biến đổi của hào thứ hai, quẻ trở thành quẻ Sư. “Sư” tượng trưng cho việc lấy bản thân làm khuôn mẫu để dạy dỗ muôn dân; đó là dấu hiệu vận khí của năm sau và năm kế tiếp. Lời quẻ nói: “Ngay thẳng, vuông vức, lớn lao; không cần tập luyện mà không gì là bất lợi.” Hào này là âm ở vị âm, đầy đủ đức dày của Khôn, lại ở địa vị đại thần. “Ngay thẳng” là liêm chính và ôn hòa; “vuông vức” là cương trực và nghiêm minh; “lớn lao” là sáng rực lớn lao, chỉ công nghiệp của người ấy. Người quân tử giữ được đức ngay thẳng, vuông vức và lớn lao thì dù không ở địa vị ấy vẫn có cái quý của tước vị do trời ban. Kẻ tiểu nhân không có các đức ấy, chỉ một mực chạy theo tư lợi, dù sang đến bậc công khanh vẫn là kẻ thấp hèn về tước vị do người ban. Sự phân biệt quân tử và tiểu nhân là như vậy. Vì thế, khi tiểu nhân ở địa vị cao, họ thường mượn việc công để mưu lợi riêng, không màng đến an nguy quốc gia, chỉ lo tính kế cho con cháu, tự cho rằng mình đã có kế hay. Đó thật là điều thiếu suy nghĩ đến cùng cực. Đại thần mà chạy theo lợi lộc thì tất nhiên hối lộ sẽ công khai lưu hành, phải trái đảo lộn, họa loạn từ đó mà sinh ra. Không biết họa loạn kéo đến thế nào, nhưng người giàu ắt sẽ là kẻ đầu tiên chịu độc hại của nó. Như vậy, việc tiểu nhân làm để làm giàu cho gia đình thực ra đang ủ mầm tai họa khiến gia đình suy bại. Giẫm lên sương giá mà không biết đề phòng băng cứng, mưu tính của tiểu nhân chẳng phải quá ngu muội hay sao?

Hiện nay nước ta may mắn có những bậc quân tử hiền minh ở trên, giữ đức chính trực, cương phương, thi hành chính sách công minh, rộng lớn, lấy mình làm gương để dẫn dắt mọi người, làm khuôn mẫu cho các hạng người. Mong rằng dương cương sẽ trở lại, âm tà lui tránh, phong tục đổi thay, nền trị bình thái sẽ thành tựu; chẳng phải điều đó đang ở trước mắt hay sao? Quẻ Khôn lấy mười năm làm số. Quẻ thuần âm, không có một hào dương, là tượng việc thống ngự chưa hoàn toàn. Nay nếu không biết răn mình, e rằng sự lần lữa sẽ kéo dài đến mười năm, hoặc có thể xảy ra tai họa của hào Thượng lục: “Rồng đánh nhau ngoài đồng”; cũng không thể không phòng ngừa trước. “Rồng đánh nhau ngoài đồng” nghĩa là rồng chỉ người ở trên, đồng nội chỉ những kẻ có dã tâm; họ phản kích, dẫn đến đổ máu. Từ “giẫm lên sương giá” đến “rồng đánh nhau”, đối với quốc gia không có điềm chẳng lành nào lớn hơn. Hiện thời các đại thần và thủ lĩnh các đảng đều liêm chính, công bằng, vốn không có mối họa này. Nhưng vì việc chiêm đoán lại hiện ra như thế, xét đến kết cục thì vẫn rất đáng lo, dù có thể gọi là nỗi lo viển vông. “Rồng đánh nhau” mà hào này nói rốt cuộc chỉ việc gì, người có kiến thức tự khắc sẽ phân biệt được.

Hào sáu ở vị trí thứ hai: Ngay thẳng, vuông vức, lớn lao; không cần tập luyện mà không gì là bất lợi.

Hào sáu ở vị trí thứ hai: Ngay thẳng, vuông vức, lớn lao; không cần tập luyện mà không gì là bất lợi.

Tượng truyện nói: Sự vận động của hào sáu ở vị trí thứ hai là ngay thẳng vì nó vuông vức. “Không cần tập luyện mà không gì là bất lợi”: đạo của đất sáng rộng.

Hào thứ hai là âm ở vị âm, tức là hào chủ của Khôn, vì vậy có thế ở trên người khác. Trong Càn, cửu ngũ; trong Khôn, lục nhị—mỗi hào đều ở đúng bản vị của âm hoặc dương, lại hợp đức trung chính. Càn theo đạo vua nên lấy cửu ngũ làm chủ; Khôn theo đạo tôi nên lấy lục nhị làm chủ. Lục nhị đầy đủ toàn đức của đạo đất: bên trong không có tư tâm quanh co, bên ngoài việc gì cũng hợp đạo lý, nên gọi là “ngay thẳng, vuông vức, lớn lao”. “Ngay thẳng” là không tà khuất; “vuông” đối với tròn, tượng cho âm thuần. Tròn thì vận động mà không đứng yên, là đạo dương; vuông thì dừng lại và giữ thường, là đạo âm. Vì vậy nói trời tròn đất vuông. “Lớn” là rộng lớn, chỉ công đức rộng lớn của đất Khôn trong việc sinh thành và nuôi dưỡng muôn vật. “Ngay” thì lòng không tư; “vuông” thì việc hợp lý; “lớn” là nói về công nghiệp. “Ngay, vuông, lớn” thì sánh được với sự cương kiện của trời, hợp với đức tự nhiên. Thiên lý cực ngay cực vuông, nhưng dục vọng con người thì quanh co. Tính người tuy thiện, song bị dục vọng che lấp, khiến trăm ngả ngang dọc xuất hiện, trái lại làm tổn hại cái ngay của thiên lý. Quẻ này vốn không phải quẻ hung, chỉ vì bị tư dục che lấp mà rơi vào hung. Hào này được sự thuần túy của đạo Khôn, có đủ đức ngay, vuông, chính và rộng lớn. Phàm điều gì cần học tập là vì chưa hiểu rõ lý lẽ, chưa thông thạo công việc; ở đây còn cần học tập gì nữa? Vì vậy nói “không cần tập luyện mà không gì là bất lợi”. “Không cần tập luyện” nghĩa là tự nhiên mà làm được, giống ý câu trong Đại học: “Chưa từng có người phụ nữ nào học cách nuôi con rồi mới lấy chồng.” Trong sáu hào của Càn, không hào nào thịnh bằng cửu ngũ; trong sáu hào của Khôn, không hào nào thịnh bằng lục nhị. Ý của Tượng truyện là lục nhị nhu thuận, trung chính, ở ngôi chủ của quẻ; mọi động tác, dung mạo và ứng xử đều hợp khuôn phép, lại có công đức “không cần tập luyện mà không gì là bất lợi”. Đạo âm, đạo đất, đạo tôi và đạo vợ đều được thực hiện đúng mực, nên đức hạnh sáng lớn. Quẻ này thuần âm: các hào sơ, tam, ngũ nhu thuận nhưng không đắc chính; hào tứ và hào thượng nhu thuận nhưng không đắc trung. Chỉ hào này nhu thuận, trung chính, riêng đạt được tinh túy của đạo Khôn.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về kinh doanh: Lục nhị là bản vị của Khôn. “Ngay, vuông” là tính của đất; “lớn” là dụng của đất. Biết rằng việc kinh doanh ắt thuộc về sản vật trên đất, như ngũ cốc, gạo, gỗ, tơ lụa, bông vải. “Không cần tập luyện mà không gì là bất lợi”: chữ “tập” thông với “tập lại”, nghĩa là không cần gieo quẻ nhiều lần cũng biết sẽ thu được lợi.


○ Hỏi về công danh: Hào thứ hai ở giữa và đắc vị, động mà được lợi; nghĩa là không cần chờ tu dưỡng hay kinh doanh, công danh tự nhiên thành tựu, việc thành danh là chắc chắn.

○ Hỏi về chiến tranh: Trong việc binh, điều cốt yếu là chiếm được địa thế. Hành động theo phương vị của mình, thế lớn lực mạnh thì có thể định đoạt trong một trận.

○ Hỏi về nhà cửa: Lục nhị trung chính, nơi ở được sắp đặt thích đáng, nên nói “đạo của đất sáng rộng”.

○ Hỏi về hôn nhân: “Ngay thẳng, vuông vức, lớn lao” là đạo đất; đạo vợ thông với đạo đất, nên hôn nhân cũng thuận lợi.

○ Hỏi về bệnh tật: Hào nói “ngay thẳng, vuông vức, lớn lao”, biết rằng thể chất vốn cường tráng, không cần dùng thuốc cũng có tin vui[17].

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】Tháng Một năm Minh Trị thứ 23, gieo quẻ hỏi vận khí của Bá tước Ito, được quẻ Khôn biến thành quẻ Sư.

Lời đoán nói: Khôn là đất, đức của đất là thuận, thuận là đạo của bề tôi. Hào này trung chính, làm chủ một quẻ. Đất mang núi Hoa mà không thấy nặng, làm lay động sông biển mà không để tràn, tiếp nhận khí trời rồi sinh thành và nuôi dưỡng muôn vật. Nay hỏi về đại thần mà được hào này, nghĩa là người ấy gánh trọng trách của thế sự mà đủ sức đảm đương địa vị, phụng mệnh đấng tối cao mà tận hết chức phận. Hơn nữa, hào này nhu thuận, trung chính, đủ toàn đức của đạo làm tôi, nên được khen là “ngay thẳng, vuông vức, lớn lao”. “Ngay và vuông” chính là ý “lấy kính làm cho bên trong ngay thẳng, lấy nghĩa làm cho bên ngoài vuông vức”; đến chỗ công minh chính đại thì công nghiệp mới trọn vẹn. Bá tước có khí lượng và kiến thức ấy, lại có đức tính ấy; thuận theo tự nhiên nên “không cần tập luyện mà không gì là bất lợi”. Hào này biến thành quẻ Sư. Trong quẻ Sư, một hào dương ở vị trí thứ hai làm chủ toàn quẻ, tượng trưng cho việc thống ngự các hào âm. Năm nay, khi hai viện được thành lập, ông nhất định sẽ được đề cử làm chủ tịch, thống lĩnh các nghị viên và lập công chỉnh đốn. Vì vậy nói: “Sự vận động của hào sáu ở vị trí thứ hai là ngay thẳng vì nó vuông vức”; không cần chờ học tập mà không gì là bất lợi.

Về sau quả nhiên sự việc diễn ra đúng như lời đoán này.

【Ví dụ】Tháng Sáu năm Minh Trị thứ 30, tôi đến Xưởng Chế tạo Sợi bông Aichi. Xưởng này do con trai tôi là Kabei phụ trách, nên tôi đến công sở tỉnh Aichi, gặp Thống đốc Enomoto và Thư ký Yoshida. Thư ký nói: “Hiện nay chúng tôi dự định xây một bến tàu tại Atsuta trong địa hạt, nhằm tạo thuận tiện cho thành phố Nagoya; chi phí gần 2,4 triệu yên. Chúng tôi muốn trình đề án này lên hội đồng tỉnh. Vì là công trình lớn, Thống đốc và tôi rất nghi ngại không biết hội đồng có tán thành hay không, nên đã do dự khá lâu. Xin ngài gieo quẻ xem việc này thành hay bại?” Gieo được quẻ Khôn biến thành quẻ Sư.

Lời đoán nói: Quẻ Khôn trên dưới đều nhu thuận, không có chút ngăn cách nào. Hơn nữa, quẻ Khôn chủ về lợi, mà việc này lại đặc biệt ngay thẳng, vuông chính, đem lại lợi ích rất lớn. Sau khi thành công, không chỉ tỉnh này được lợi mà các tỉnh khác cũng được thuận tiện. Về sau chắc chắn sẽ được toàn thể thành viên hội đồng tỉnh tán thành, không cần phải nghi ngờ.

Thống đốc và Thư ký nghe vậy hết sức vui mừng, lập tức đưa đề án vào nghị trình của hội đồng tỉnh. Trong số 44 nghị viên, chỉ có 3 người không tán thành, và đề án được thông qua ngay.

Hào sáu ở vị trí thứ ba: Giữ kín vẻ sáng; có thể giữ chính bền. Hoặc theo việc của vua; không thành công mà vẫn có kết cục.

Hào sáu ở vị trí thứ ba: Giữ kín vẻ sáng; có thể giữ chính bền. Hoặc theo việc của vua; không thành công mà vẫn có kết cục.

Tượng truyện nói: “Giữ kín vẻ sáng, có thể giữ chính bền” là phát lộ theo đúng thời. “Hoặc theo việc của vua” là cho thấy cái biết sáng lớn.

Hào thứ ba không đắc trung, không đắc chính, lại ở cực của nội quái, nơi biến đổi; vì vậy tâm thuật và hành vi khó tránh khỏi những lỗi lầm do không trung không chính. Hơn nữa, bề tôi nhu thuận và vua ở vị trí thứ năm đều là âm, không ứng với nhau; đó là tượng bề tôi không được lòng vua. Nói chung, lục tam của Khôn thường không gặp đúng thời đúng vị. Bậc sĩ có tài có thức chỉ nên giấu đức giấu tài, chờ thời đến; nếu phô tài quá sớm, ắt chuốc nghi kỵ và ghen ghét, nên răn rằng “giữ kín vẻ sáng”. Cứng mềm xen lẫn gọi là văn; văn hoàn thành gọi là chương. “Giữ kín” là bao hàm mà không để lộ. Vì có thể yên tĩnh giữ vững nên nói “có thể giữ chính bền”. Phàm người làm bề tôi, bất luận được trọng dụng hay không, đều phải giữ chí tiết thường hằng, không thể thay đổi. Dù không có lòng cầu tiến, cũng không phải là sẽ không có ngày được dùng. Nếu xuất hiện để gánh việc, vẫn nên giấu tài, không tự nhận công, chỉ theo mệnh vua để hoàn thành việc của vua. Dù việc không thành, cũng phải khiến người đời sau có thể tiếp nối và hoàn thành; đó gọi là “không thành công mà vẫn có kết cục”. Lục tam ở trên quái dưới, có tượng “theo việc của vua”. Cửu tứ của Càn và lục tam của Khôn đều ở vị trí tiến thoái chưa định: một hào nói “ở trong vực”, hào kia nói “giữ kín vẻ sáng”. Vì thế đều thêm chữ “hoặc”, biểu thị ý muốn tiến mà chưa tiến. Ở lúc tiến thoái như vậy, cũng nên không trái thời nghi mà theo việc của vua. Trong Tượng truyện, chữ “biết” đối với chữ “thời”. Giấu tài chưa dám bộc lộ là có thể xét thời rồi mới phát. “Phát theo thời” là phát huy ánh sáng của vẻ sáng được giữ kín: lui thì biết giấu, tiến thì biết phát, nhờ vậy ánh sáng trở nên lớn. Hào này biến thành quẻ Khiêm. Cửu tam của Khiêm nói: “Lao khổ mà khiêm, quân tử có kết cục, tốt lành.” Hệ Từ truyện nói: “Lao nhọc mà không khoe, có công mà không nhận là đức, đó là sự hậu đãi đến tột bậc.” Quái dưới là Cấn; Cấn là dừng, có tượng che giấu, cũng hợp với nghĩa “giữ kín vẻ sáng”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào nói “giữ kín vẻ sáng, có thể giữ chính bền”, nghĩa là lúc bình thường phải hàm súc tài trí, thu mình giấu kín, không phô bày. Một khi hành động thì tự nhiên có thể chế thắng; dù không thành công cũng không đại bại. Vì vậy nói “không thành công mà vẫn có kết cục”.


○ Hỏi về kinh doanh: Khôn là đất, trăm thứ hàng hóa đều sinh từ đất. Người buôn có thể tích trữ trăm thứ hàng, nên nói “giữ kín vẻ sáng”. Phàm người kinh doanh đều buôn bán, vận chuyển trăm thứ hàng và đem bán đúng thời, nên nói “phát lộ theo thời”. Nội quái của Khôn đến hào ba thì đạt cực điểm, đúng là chỗ đầy thịnh, nên nói “sáng lớn”. Vì vậy, tuy nhất thời có thể chưa thành, nhưng biết chắc sẽ có kết quả cuối cùng. Tốt lành.

○ Hỏi về công danh: Phàm người cầu danh, điều thích hợp nhất là chờ thời. Khi thời chưa đến lúc phát lộ thì “giữ kín vẻ sáng, giữ chính bền”; khi thời đã đến lúc phát lộ thì xuất hiện để theo việc của vua. Người hiểu đạo này ắt có thể giữ gìn công danh đến cuối. Tốt lành.

○ Hỏi về bệnh tật: Xét nghĩa câu “không thành công mà vẫn có kết cục”, biết rằng thuốc không thể cứu được. Hung.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ 19, gieo quẻ hỏi vận khí của một người bạn tên Yanagida, được quẻ Khôn biến thành quẻ Khiêm.

Lời đoán nói: Thời Khôn thì nhu thuận mà hanh thông. Thoán truyện nói “lợi về sự chính bền của ngựa cái”; ngựa cái mang nặng và bị người sử dụng, tức là lao nhọc mà không có chỗ đứng riêng. Lại nói “quân tử có chỗ đi; trước thì lạc, sau được chủ, tốt”, nghĩa là không thể được danh dự, chỉ được hưởng bổng lộc. Hào ba ở địa vị hành động, lời hào nói: “Giữ kín vẻ sáng, có thể giữ chính bền. Hoặc theo việc của vua; không thành công mà vẫn có kết cục.” “Giữ kín vẻ sáng, có thể giữ chính bền” nghĩa là ông có tài văn chương, giấu khí dụng trong mình và chờ thời. Nay thời vận đã đến, ông sẽ phải làm công việc về văn chương. Dù người phụ trách biết tài văn của ông, muốn giao việc và trao chức, các thuộc quan khác cũng buộc phải đứng dưới ông vì thế lực không thể khác; ông chỉ có thể nhận thù lao mà thôi. Quẻ này thuần âm, không có quyền tự chủ. Dù ông hao tâm lực làm việc cực nhọc, đáng tiếc không ai biết đến. Sau khi công việc hoàn thành, công lao ắt bị người khác chiếm đoạt, ông không được chút danh dự nào; kẻ không làm việc lại được khen thưởng hoặc thăng tiến. Vì quẻ Khôn thuần âm, người âm được thế, chỉ mưu lợi cho chủ; do đó người chân thật, vững vàng lại bị họ lôi kéo, không thể thi thố với đời. Vận ông là như vậy, chỉ nên tu đức và chờ thời. “Hoặc theo việc của vua; không thành công mà vẫn có kết cục”: chữ “hoặc” nghĩa là hôm nay chưa có việc, nhưng ngày khác ắt sẽ phải làm việc.

Sau đó, quả nhiên người cùng họ ấy được một cơ quan nọ ủy thác làm công việc biên tập trong năm năm; sáng sớm đã đi, tối muộn mới về, công việc vô cùng bận rộn. Khi hoàn tất việc biên tập, các quan thuộc cơ quan ấy vốn là đồng sự của ông đều được thăng chức, hoặc được khen thưởng. Vì ông không có tên trong sổ quan chức nên không thể nhận được ân điển, chỉ được miễn khỏi nhiệm vụ ủy thác mà thôi.

Hào sáu ở vị trí thứ tư: Thắt miệng túi; không lỗi, không danh.

Hào sáu ở vị trí thứ tư: Thắt miệng túi; không lỗi, không danh.

Tượng truyện nói: “Thắt miệng túi, không lỗi” nghĩa là thận trọng thì không bị hại.

Hào thứ tư tuy nhu thuận và đắc chính, nhưng ở vị trí mất trung nên không đủ sức làm việc lớn. Hào bốn ở gần hào năm, song hai hào nhu không hòa hợp, trên dưới đóng kín và ngăn cách nhau; đó là tượng đại thần không được vua tin dùng. Trong lúc này nên thận trọng im lặng, che giấu trí tuệ, như buộc miệng túi, ngậm miệng không để lộ điều gì, lặng lẽ nhẫn nhịn và giữ vẻ ngu độn của mình. Như vậy sẽ “không lỗi, không danh”, tránh xa được tai họa. Vì thế gọi là “thắt miệng túi; không lỗi, không danh”. “Không lỗi” là tránh hại; “không danh” là thoát khỏi tiếng tăm. Nếu nhờ buộc miệng túi mà được khen, thì có danh lại thành có lỗi. Phải giấu thật sâu, không để lộ, thậm chí xóa sạch dấu vết đã từng buộc miệng túi; vì vậy Tượng truyện nói: “Thắt miệng túi, không lỗi; thận trọng thì không bị hại.” Hào này biến thành quẻ Dự, hình quẻ cũng có tượng túi được buộc miệng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về kinh doanh: Hào bốn là hào của Tốn. Tốn tượng cho thương nhân và lợi lộc, như câu “gần chợ lợi, lợi gấp ba”. Hào này nói “thắt miệng túi”, rõ ràng là tượng chiếc túi được đóng lại. Biết rằng trước đây đã thu được lợi, tiền của đã vào túi, không để cho lại chảy ra. Vì vậy nói: “Thắt miệng túi; không lỗi, không danh.”


○ Hỏi về chinh chiến: Hào lục tứ là âm trùng âm, gặp lúc bế tắc. Dù có trí tuệ cũng phải giữ tài trong túi, không thể thi thố mưu lược. Nên đóng cửa ải, không giao chiến, như buộc miệng túi lại; như vậy sẽ không có lỗi.

○ Hỏi về công danh: Hào tứ thuộc quẻ trùng, động vào vị trí bĩ. Văn Ngôn nói: “Trời đất bế tắc”; “buộc miệng túi” nghĩa là ngậm miệng. Trời đất còn đóng kín thì công danh ở đâu mà có? Nếu vọng tưởng tiến thân cầu danh, chỉ đủ chuốc họa; đáng lẽ được tiếng khen lại thành lỗi. Nên thận trọng.

○ Hỏi về gia trạch: Hào lục tứ lấy âm ở ngôi âm, lại không ở vị trí trung chính. Nhà ắt ở nơi núi khe hẻo lánh, thích hợp cho người muốn ẩn dật cư trú.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái, hoặc có thể sinh đôi hai bé gái.

【Ví dụ】 Tháng 1 năm Minh Trị thứ 12, tôi tình cờ gặp ông Godai Tomoatsu ở Osaka. Ông nhờ xem vận kinh doanh trong năm ấy; gieo được quẻ Khôn biến sang quẻ Dự.

Lời đoán rằng: Quẻ Khôn là quẻ chủ về lợi, có tượng tụ họp tranh giành lợi ích. Hào tứ lấy âm ở ngôi âm, không thể tiến lên làm việc; vì vậy năm nay nên lui về giữ thế, không nên mở rộng kinh doanh. Lời hào “buộc miệng túi” nghĩa là buộc miệng túi tiền, không được xuất tiền của hàng hóa. Buộc túi thì không thêm không bớt; mở túi ra ắt tổn thất nhiều. Tôi dặn phải thận trọng, chớ bắt tay vào việc buôn bán.

Ông Godai rất xúc động trước quẻ này. Tuy nhiên, tình thế kinh doanh dù biết là bất lợi thì chỉ có thể làm chút ít, không thể hoàn toàn không làm. Thỉnh thoảng ông vẫn kinh doanh, và quả nhiên cuối cùng bị thua lỗ.

Lục ngũ: Xiêm vàng, đại cát.

Lục ngũ: Xiêm vàng, đại cát.

Tượng truyện nói: “Xiêm vàng, đại cát” là vì vẻ văn nhã ở bên trong.

Màu vàng thuộc trung ương, cũng là màu của đất; “thường” là y phục mặc ở phần dưới. Màu vàng biểu thị trung đạo; giữ trung mà ở dưới là hình tượng của bậc đại thần phụng sự ở địa vị dưới. Hào này dùng đức nhu mà ở ngôi tôn quý thứ năm, nên có thể chỉ người nữ hậu quay mặt về phương nam mà nghe việc chính sự, hoặc người như Y Doãn và Chu Công, phò tá quân chủ, nhiếp chính. Tuy nhiên, Khôn là thuần âm, cả sáu hào đều nói về bề tôi phụng sự quân chủ; vì vậy không thể trực tiếp xem hào sáu năm là người làm vua. Người xem được hào này nên phát huy đức lớn của sự trung hòa, duy trì phép tắc triều đình, phò tá quốc quân, cuối cùng lui về giữ chức phận bề tôi. Ngôi tôn quý này sở dĩ đáng tôn quý là vì như thế: hào âm không làm mất lẽ thường của mình. Bởi vậy nói: “Thường vàng, đại cát.” Nếu không như vậy, ở ngôi tôn quý mà muốn làm chủ thiên hạ thì ắt gặp đại hung. Năm thứ mười hai đời Lỗ Chiêu công, Nam Khoái gieo quẻ được hào này [18]; vì không giữ nghĩa “thường vàng”, ông ta làm gia đình suy bại và mất thân, có thể lấy đó làm bằng chứng. Bậc Thánh nhân gắn chữ “thường” với hào này vì sợ quyền thần thừa thế dựa vào địa vị, tự tiện ban phúc giáng họa, đánh mất đạo của bề tôi, khinh nhờn quân thượng; lời răn dạy của Ngài thật sâu sắc. Tượng truyện nói: “Văn ở trong trung.” Khôn tượng cho văn, hào năm ở giữa; ý nói vẻ đẹp tích tụ ở bên trong rồi biểu hiện ra bên ngoài, có thể nhu thuận mà vẫn giữ được trung đạo và tiết tháo, nên là đại cát.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về việc chiến tranh: Khôn nói về đạo bề tôi. Hào Năm ở ngôi tôn quý, là địa vị cao sang tột bậc mà bề tôi có thể đạt được, như Thuấn nhiếp chính rồi giết bốn kẻ hung ác, hoặc Chu Công nhiếp chính rồi giết hai người chú. Hào từ nói: “Thường vàng, đại cát.” Nghĩa là văn đức phát ra thành võ công. Vì vậy Truyện nói: “Văn ở bên trong.”


○ Hỏi về công danh: Lục ngũ có địa chi tại Mão, được khí của Chấn; Chấn có tượng công danh phấn khởi vươn lên. Ngũ lại là hào Ly; Ly là ngôi màu vàng, gần giờ Ngọ, phía trên ứng với bảy sao, mà bảy sao chủ về y phục thêu dệt, nên nói “xiêm vàng”. Ly còn là sáng, có tượng văn minh phát triển hưng thịnh, nên nói “văn ở bên trong”.

○ Hỏi về kinh doanh: Hào ngũ của Khôn biến thành quẻ Tỷ. Tỷ là tốt lành, cũng là trợ giúp; việc buôn bán ắt phải được người tương trợ mới thành. Quẻ Tỷ dưới là Khôn, trên là Khảm. Khôn là xiêm nên nói “xiêm vàng”; Tỷ là cái đẹp nên nói “văn ở bên trong”. Biết rằng việc kinh doanh ắt thuộc các mặt hàng gấm vóc, xiêm áo thêu chương. Nói “đại cát” thì ắt thu lợi.

○ Hỏi về bệnh tật: Khôn là bụng lớn [19], vàng là màu trung, còn xiêm trang sức cho phần dưới; có thể biết bệnh ở trung tiêu và hạ tiêu.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 22, tôi xem vận khí của một vị quý hiển nào đó, gieo được Khôn biến sang Tỷ, rồi trình cho Công tước Sanjo và Bá tước Ito.

Lời đoán rằng: Quẻ Khôn là thuần âm, không có một hào dương nào. Hào ngũ tuy thuộc ngôi quân chủ, nhưng toàn quẻ Khôn đều nói về việc bề tôi. “Xiêm vàng, đại cát” giống như Chu Công giữ chức Trủng tể, phò tá Thành vương nhiếp chính, kính sợ thiên mệnh nên không dám mặc áo vàng, chỉ mặc xiêm vàng để nghiêm giữ phân vị quân thần. Chính vì trung tín, đốc kính nên ông có thể giữ phép triều đình, phò tá quốc quân; do đó nói “xiêm vàng, đại cát”. Nếu không thì điềm hung của nó có thể biết rõ. Nay vị quý hiển này thuở nhỏ đã có tiếng là thần đồng; khi trưởng thành được tuyển chọn trong hàng tuấn kiệt của phiên. Ông lưu lại châu Âu lâu ngày, không chỉ học rộng mà còn thông hiểu thể chế chính trị và phong tục các nước hải ngoại. Khi trở về triều, ông đứng ở vị trí trọng yếu, gánh vác công vụ nặng nề, ngấm ngầm mang theo kỳ vọng của mọi người. Nhưng nay gieo được hào này, tôi không khỏi kinh ngạc. Người ấy ở châu Âu lâu năm, tuy thông hiểu thể chế quân dân cùng trị, nhưng có lẽ lại không hiểu phép trị nước đã dựng nên và cai quản bản quốc. Sự an nguy của quốc gia chẳng lẽ gắn với con số của quẻ này ư? Phán đoán thật vô cùng khó.

Sau đó, đúng vào ngày công bố hiến pháp, người ấy bị kẻ hung bạo sát hại. Khi đó tôi mới than thở và kinh ngạc rằng quẻ này đã ứng nghiệm.

Thượng lục: Rồng giao chiến ngoài đồng, máu chúng đen vàng.

Thượng lục: Rồng giao chiến ngoài đồng, máu chúng đen vàng.

Tượng truyện nói: “Rồng giao chiến ngoài đồng” là vì đạo của chúng đã đến chỗ cùng cực.

Hào trên cùng ở cuối toàn quẻ. Đây là lúc âm tà cực thịnh; khi biến thành quẻ Bác, hiện ra tượng một dương giao chiến với năm âm. Vì thế, ngay từ đầu, hào Sơ Lục nói về việc giẫm lên sương, bậc thánh nhân ân cần cảnh báo rằng sẽ đến băng cứng: thế lực âm tà quá thịnh ắt sẽ bóc lột dương. Khi sự bóc lột trở nên nghiêm trọng, tình thế cuối cùng đi đến chỗ giao chiến; một khi đã giao chiến, tuy âm mạnh dương suy, rốt cuộc cả hai đều bị thương. “Máu” biểu thị sự tổn thương rất nặng. Huyền là màu của trời, vàng là màu của đất; trời đất chính là âm dương, nên máu huyền hoàng nghĩa là âm dương cùng bị thương. Vì vậy nói: “Rồng đánh nhau nơi đồng vắng, máu chúng màu huyền hoàng.” Xét gần hơn trong chuyện gia đình, người cha hoặc anh cả lúc đầu có thể sai lầm trong việc giáo dục em trai, rồi nuôi thành kẻ bất tài. Kết quả là cốt nhục tương tàn, người cùng loại hại lẫn nhau, tranh đấu, giết chóc và thương tích, đến khi thế cùng mới chịu dừng. Tượng nói: “Đạo của nó đã cùng.” Chữ “nó” chỉ âm dương, quân thần; chữ “đạo” cũng chỉ đạo quân thần. “Cùng” nghĩa là nghèo khốn, bức bách và khốn quẫn. Khi quân thần đã đánh lẫn nhau, sự ngang ngược vô đạo của quân chủ vốn không cần bàn, nhưng quân chủ cũng chưa phải hoàn toàn không có lỗi. Hệ Từ truyện nói: “Bề trên khinh mạn, bề dưới hung bạo, kẻ trộm sẽ nghĩ đến việc đánh phá,” lại nói: “Cất giữ lơ là là dạy kẻ trộm; dung nhan lả lơi là dạy điều dâm.” Nếu khiến bề tôi rơi đến tình trạng ấy, đạo của quân chủ cùng quẫn cũng chính là đạo của bề tôi cùng quẫn. Vì vậy nói: “Đạo của nó đã cùng.” Rồng vốn là tượng của Càn; hào này nói đến rồng để biểu thị âm cực thịnh chống lại dương. Lại nói “đồng vắng” vì ở bên ngoàiさらに của ngoại quái. Hào từ không nói hung vì cái hung đã quá rõ, không cần phải nói.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chinh chiến: Tượng đã chỉ rõ rằng hai bên đều thất bại.


○ Hỏi về công danh: Thượng ở chỗ cực của ngoại quái, như một lão sĩ trường thi đã bị bế tắc, vùi lấp từ lâu; đánh một trận nữa lại thua, thật đáng thương.

○ Hỏi về kinh doanh: Thượng lục là cuối quẻ Khôn, đạo của nó đã cùng. Tài sản cạn kiệt, vốn liếng cũng hao mòn, đường kinh doanh đã đến bước đường cùng.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng âm hư. Âm cực chống dương, can huyết bạo động, sinh mệnh đã đến chỗ cùng.

○ Hỏi về thai sản: Âm hết biến thành dương, có thể mong sinh con trai.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 6, tôi xem vận khí của chính phủ, gieo được Khôn biến sang Bác.

Lời đoán rằng: Quẻ Khôn là thuần âm, không một hào dương, là lúc đức của quân chủ không tỏa sáng. Nay minh quân ở trên, tuấn kiệt tại vị; gieo được quẻ này, tôi thầm lấy làm lạ vì không hợp với thời sự. Các vị công khanh trong triều lo xa nghĩ sâu, phò tá quốc chính, đồng tâm đồng đức, tận tụy hết mình, sao lại có tượng rồng giao chiến? Nghĩ thêm, rồng là loài thần hóa khôn lường. Từ xưa, những hào kiệt tài năng tuyệt đỉnh thường được ví như rồng. Có lẽ trong hàng đại thần, mỗi người đều ôm nỗi phẫn uất vì trung nghĩa; do bất đồng ý kiến mà nghị luận quá khích, ban đầu nghi kỵ nhau, sau thù ghét nhau, cuối cùng đánh nhau, chia thành bè đảng, công kích lẫn nhau, không tuân chiếu chỉ triều đình. Đó gọi là đánh nhau ngoài đồng, nên nói “rồng giao chiến ngoài đồng”, như cuộc tranh quyền giữa họ Nguyên và họ Bình thuở trước. Tượng hào này là như vậy, nhưng xét các vị đang ở triều hôm nay, hẳn sẽ không đến mức ấy. Tôi còn ngờ vực chưa quyết, bèn trình cho Tướng công Sanjo.

Trước đó, đại nghiệp Duy Tân đã được chỉnh đốn phần nào. Các đại thần và tham nghị, nhiều người từng đi khắp các nước Âu Mỹ để khảo sát thực địa, định lấy cái hay của họ mà sửa đổi quốc chính. Tả hữu đại thần Iwakura cùng các ông Kido, Okubo, Ito, Yamagata đi xa sang Âu Mỹ; người đi cũng như người ở lại đều tận chức để giúp công cuộc trung hưng. Họ hẹn rằng trước khi đoàn trở về sẽ không mở thêm nghị luận khác. Nào ngờ sự việc ngoài ý muốn xảy ra: khi chiến hạm Unyo của ta đo đạc cảng Nhân Xuyên của Triều Tiên, nước ấy nổ súng pháo kích. Triều nghị nổi lên ồn ào, cho rằng nên phát binh hỏi tội để rửa nhục quốc gia; điện tín truyền đến châu Âu. Công Okubo về trước, muốn đình chỉ nghị sự này, nhưng các vị từ Saigo trở xuống không theo, nghị luận càng thêm gay gắt. Chẳng bao lâu, Tả hữu đại thần Iwakura cùng những người khác đều trở về; luận điệu chinh Triều trở thành vấn đề lớn của toàn quốc. Dư luận xôn xao, lòng người phẫn uất. Cuối cùng chọn hòa nghị, nhưng những người chủ trương chinh Triều ôm bất bình, lần lượt bỏ quan. Thế là năm thứ 7 có biến Saga, năm thứ 9 có loạn Choshu, năm thứ 10 có chiến dịch Kagoshima; điềm chẳng lành của quốc gia liên tiếp xảy ra. Lời hào “rồng giao chiến ngoài đồng” quả thật không hư.

Khả năng biết trước biến cố của Chu Dịch đại thể là như vậy.

【Ví dụ】 Vào đông chí năm Minh Trị thứ 27, tôi xem năm sau được mùa hay mất mùa, gieo được Khôn biến sang Bác.

Lời đoán rằng: Đất Khôn có tính sinh dưỡng vạn vật, tiếp nhận ánh sáng và hơi nóng của mặt trời để phát huy công năng. Nhưng quẻ này thuần âm, không có một hào dương, là tượng mưa nhiều nắng ít. Lời hào “rồng giao chiến ngoài đồng” nói âm dương bất hòa, khí hậu không thuận, e khó mong được mùa. Vì vậy Tượng truyện nói “đạo của chúng đã đến chỗ cùng”. Người cầm quyền nên biết trước mùa lúa năm ấy sẽ thất thu, cần bàn biện pháp cứu đói để chuẩn bị.

Quả nhiên năm ấy nhiều nước bị lũ lụt, cái nóng mùa hè cũng kém các năm khác đôi chút, mùa thu hoạch chỉ đạt bảy phần mười.

Dụng lục: Lợi về giữ chính bền lâu.

Dụng lục: Lợi về giữ chính bền lâu.

Tượng truyện nói: “Dụng lục, giữ chính như nước” là để hoàn thành điều lớn lao.

Ý nghĩa của “Dụng lục” đã được nêu ở đầu quyển. “Vĩnh” là lâu dài, xa rộng. Tượng quẻ Khôn thuần âm, biểu thị đạo bề tôi và đạo người vợ; trong việc người là mềm thuận, chính trực, lâu bền có hằng, không đổi chí, có thể theo vua theo chồng. Tôi trung không thờ hai vua, gái trinh không lấy hai chồng — đó là nghĩa “vĩnh trinh”. Làm bề tôi hay làm vợ mà theo nghĩa “vĩnh trinh” thì đại cát và có kết cục tốt; nếu hơi đổi khác thì đi vào đường đại hung đại ác. Vì thế phải răn sâu rằng “lợi về giữ chính bền lâu”. Tính âm mềm nhưng nóng nảy, khó giữ thường hằng, có tệ tiến lui quá dễ dàng. Tượng truyện nói “để hoàn thành điều lớn lao”, nghĩa là không đổi đạo thuận của Khôn mà làm trọn cái kết. Nếu biến động, âm xâm dương, thần xâm quân, vợ lấn chồng, trái lý nghịch thường, làm sao hoàn tất được kết cục? Dương là lớn, âm là nhỏ; âm là mềm, tối và nhỏ. Nhưng siêng năng không biếng nhác, gắng học không ngơi, cuối cùng sẽ sáng tỏ; đó cũng là nghĩa hoàn thành điều lớn lao.

Xét: “Dụng cửu” của Càn vì quá cứng mạnh nên khuyên giữ đạo không đứng đầu; “Dụng lục” của Khôn, theo đạo âm, đạo bề tôi và đạo người vợ, chính là giữ thẳng đức hằng thường, không được biến động. Đây là lời cảnh giới răn nhắc.