Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 7 Địa Thủy Sư, Sư: Chính bền; bậc đại nhân thì tốt, không lỗi.

Địa Thủy Sư, Sư: Chính bền; bậc đại nhân thì tốt, không lỗi.

07 Địa Thủy Sư

“Quẻ Sư [42]”: Trong chữ triện, bên trái là bộ phụ, bên phải là khăn. Thêm một nét ở trên khăn biểu thị một người có thể chỉ huy nhiều người. Quẻ Sư tiếp theo quẻ Tụng. Tụng tất có đông người; “sư” nghĩa là đông người, nên quẻ Sư nối sau quẻ Tụng. Sư có hai nghĩa: một là dạy dỗ môn sinh, hai là thống lĩnh quân đội; cả hai đều mang tượng dẫn dắt đám đông. Lấy hào Cửu nhị làm chủ quẻ, thống lĩnh năm hào âm để vượt qua hiểm nạn của quẻ Khảm. Khôn ở trên, Khảm ở dưới: trong đất có nước. Nước nương vào đất mà yên ổn cư trú; đất được nước làm cho nhuận, sinh dưỡng muôn vật, đôi bên giúp nhau thành công. Tính chất của nước và đất vốn gần gũi nhau. Trong quẻ này, nước ở dưới đất, là tượng cái hiểm lớn phát sinh bên dưới cái thuận lớn; tượng tụ tập đám đông, chiếm cứ nơi hiểm trở, gây rối loạn bất định. Sư là một người thống lĩnh đám đông để bình định. Trước khi loạn lạc xảy ra, dùng đạo của quân đội để giáo hóa và dẫn dắt, sửa đổi lòng dạ sai trái, dẹp loạn trước khi nó thành hình. Khi loạn đã xảy ra, thống lĩnh quân đội chinh phạt, diệt kẻ cầm đầu đại ác, dẹp loạn ngay lúc nó vừa phát sinh; tất cả đều thuộc về đạo Sư. Hào đầu mềm yếu, lại không ở đúng vị, là đầu mối làm phát sinh gian nan. Hào hai ở giữa hiểm nạn nhưng có thể dẫn đám đông bình định khó khăn, nên là hào chủ của toàn quẻ.

Sư: Chính bền; bậc đại nhân thì tốt, không lỗi.



▲ Chữ kim văn của “Sư”



▲ Chữ triện của “Sư”

Các hào từ đều gắn với nghĩa quân sự, nên Thoán truyện cũng theo đó mà giải thích; người đọc nên suy ra theo loại. Việc quân sự là huy động đông người, sử dụng binh khí, làm tổn hại sinh mạng và làm cạn ngân khố; quốc gia chỉ dùng khi bất đắc dĩ. Nếu có thể không dùng mà vẫn phát binh thì gọi là cùng binh hiếu vũ, cực kỳ vô đạo, nên răn rằng: “Sư phải chính.” “Trinh” nghĩa là chính, tức đạo dùng quân phải lấy chính làm gốc. Phát binh động chúng, làm hại thiên hạ mà không chính thì dân không theo. “Đại nhân” trong các bản thông hành bị in nhầm thành “trượng nhân”; chỉ Tử Hạ truyện dùng “đại nhân”, giống với Thoán từ của quẻ Khốn. Lấy đại nhân làm nguyên soái nghĩa là giao cho người có khả năng dẹp loạn lập lại trật tự, trừ bạo an dân, nên nói “đại nhân thì tốt”. Binh khí là vật dữ, chiến tranh là việc nguy hiểm, vốn thuộc về có lỗi. Nhưng đại nhân thuận theo trời và lòng dân, trừ bạo cho thiên hạ; đó là quân của bậc vương giả. Dù có giết chóc và thương tổn, cũng không hại đạo sinh sinh của trời đất, nên tốt mà không lỗi.

Thoán truyện nói: Sư là chúng, trinh là chính. Có thể làm cho chúng trở nên chính thì có thể làm vua. Cứng cáp ở trung vị mà có ứng, đi trong hiểm mà vẫn thuận; dùng điều ấy trị thiên hạ thì dân theo. Tốt, còn có lỗi gì nữa?

Về chữ “dĩ”, Xuân Thu truyện nói: “Có thể điều khiển nó từ hai phía thì gọi là dĩ”, nên dĩ còn có nghĩa là dùng. Nguyên soái có thể dùng chúng bằng sự nghiêm chính, có thể gọi là quân của bậc vương giả. “Cương trung” nghĩa là một hào dương ở giữa nội quái, ứng với vị quân chủ Lục Ngũ ở trên. Nội quái Khảm là hiểm, ngoại quái Khôn là thuận, nên nói “đi trong hiểm mà vẫn thuận”. Chữ “độc”, Mã Dung giải là trị, Vương Bật giải là sai khiến; xưa kia chữ độc và chữ dục còn thông nhau về âm nghĩa, nên cũng có thể hiểu là nuôi dưỡng. Đại ý là dùng điều này để trị thiên hạ, dùng điều này để sai khiến thiên hạ, các cách hiểu đều hợp lý. Hán nho giải độc là làm hại; nếu là làm hại thiên hạ thì dân ắt không theo, làm sao có thể làm vua? Nếu nói là dùng dân để trị loạn, giống như dùng thuốc độc công vào ung nhọt, thì cũng gượng ép. Chúng lấy chính mà dấy lên, dân lấy thuận mà theo; thuận thì được tốt, chính thì còn lỗi gì? “Tốt” nói về sự việc, “không lỗi” nói về đạo lý.

Đem quẻ này xét về nhân sự, Khảm là con trai giữa, đáng lẽ ở ngoài mà lại ở trong; Khôn là âm già, đáng lẽ ở trong mà lại ở ngoài. Vị trí mẹ con đảo lộn, mất trật tự, là tượng bất an; ắt sẽ mở đầu loạn trong nhà. Cần có người cương trung ở bên trong gia trưởng, dùng chính trực mà cai quản, như vậy gia đạo mới được chỉnh tề.

Đem quẻ này xét về quốc gia, thượng quái là chính phủ, được tính thuận của Khôn nhưng âm yếu, ít uy nghiêm, không thể kiềm chế dân chúng bên dưới; hạ quái là nhân dân, được tính hiểm của Khảm, âm hiểm và thích gây sự, hễ hành động là muốn chống chính phủ ở trên. Ví như nước ở dưới đất, tràn lan không nơi quy tụ, là tượng tụ chúng chiếm hiểm, gây rối và không thuận. Quẻ này năm hào đều âm, chỉ Cửu Nhị độc nhất có dương cương. Cửu Nhị nên nhận mệnh vua ở Lục Ngũ, đảm nhiệm riêng chức nguyên soái, dẫn chúng phát binh. Dùng điều này trị thiên hạ, đó là nghĩa của câu “cương trung mà ứng, đi trong hiểm mà thuận”; “dân theo, tốt, còn lỗi gì nữa”.

Xét toàn quẻ, Cửu Nhị là nguyên soái, năm hào âm theo đó. Sơ Lục là quân chúng, Cửu Nhị là chủ soái, Lục Tam và Lục Tứ là phó tướng, Lục Ngũ là vị đối diện với địch, Thượng Lục là thời điểm ban thưởng công lao. Xét theo nội ngoại quái, Cửu Nhị là tướng soái, Lục Ngũ là quân chủ. Tướng soái nhận mệnh vua mà xuất chinh, đúng như câu “lễ nhạc, chinh phạt đều từ thiên tử mà ra”. Tướng soái giúp chủ thành nghiệp vương, cùng nhau lập công. Vì vậy “có thể làm chúng trở nên chính” nói về tướng soái ở Cửu Nhị; “có thể làm vua” nói về quân chủ ở Lục Ngũ.

Sáu quẻ từ quẻ Truân trở đi đều là sự nghiệp của bậc thánh nhân trong việc cứu vãn hiểm nạn. Việc thiên hạ chưa từng có việc gì không bắt đầu bằng gian nan. Tự quái truyện nói: “Tụng ắt có chúng; Sư là chúng, nên tiếp theo là Sư.” Khôn tượng chúng, Lý gặp hiểm Khảm, là tượng binh khí hung dữ; một hào dương ở Cửu Nhị dẫn năm hào âm là tượng hành quân. Có người hỏi: hai quẻ Sư và Tỷ đều là đất nước gặp nhau, nhưng hào tượng khác nhau rất lớn, vì sao? Đáp: quẻ Tỷ có một hào dương ở trên, như quân chủ ở ngôi tôn nhìn xuống; quẻ Sư có một hào dương ở dưới, như bề tôi phụng mệnh xuất chinh. Quẻ Khôn nói chiến đấu, còn quẻ này gọi là Sư, vì sao? Sư nghĩa là dân, quốc gia lấy dân làm gốc. Đạo trời chuộng sự sống, không chuộng giết chóc; thánh nhân che chở muôn dân như thương người bị thương. Nhưng khi thiện ác hiện hình và đối nghịch, năm loại binh khí nổi lên khiến người hại nhau, đó là số phận bất đắc dĩ của trời đất, chỉ có thể dùng khi không còn cách nào khác. Vì vậy khi Vệ Linh Công hỏi Khổng Tử về trận pháp, Khổng Tử không đáp. Tử Lộ hỏi nếu chỉ huy ba quân thì chọn ai, Khổng Tử nói: “Ắt phải là người gặp việc thì biết sợ, thích mưu tính và hoàn thành được việc.” Hai chữ “biết sợ”, “thích mưu tính” thật thận trọng! Có thể thấy thánh nhân chưa từng nhẹ lời về việc phát binh. Trong quẻ này, Cửu Nhị là hiền tướng cương trung; Lục Tam tham công nên thất bại; Lục Tứ không có công, chỉ giữ thường lệ; Lục Ngũ là quân chủ nhưng không giao quyền trọn vẹn cho tướng, can thiệp quyền hạn khiến hỏng việc. Quẻ này đủ để quan sát tình hình quân sự. Nói chung, ba quân hòa hợp, tướng soái hiền tài, phó tướng tuân lệnh, việc giao quyền chuyên nhất, rút quân ban thưởng, tôn trọng đức và báo đáp công lao—đó là hành động của bậc đế vương. Tất cả cốt yếu quy về “bao dung dân chúng, nuôi dưỡng quần chúng”; sáu hào không lấy việc toàn thắng, ý nghĩa ấy có thể thấy rõ.

Đại tượng truyện nói: Trong đất có nước, đó là Sư. Bậc quân tử noi theo mà bao dung dân chúng, nuôi dưỡng quần chúng.

Khảm ở trong Khôn nên nói “trong đất có nước”. Nước ẩn trong đất, không có đất nào không có nước, cũng như binh ẩn trong dân, không có binh nào tách khỏi dân. Giấu binh trong dân thì có cái lợi của binh mà không có cái hại của binh; nước giấu trong đất cũng có cái lợi của nước mà không có cái hại của nước. “Nước ở trong đất” cho thấy rõ đất bao bọc nước, là tượng bao dung dân chúng, nuôi dưỡng quần chúng. Khôn là dân, Khảm là chúng; “dung” là bảo hộ, “súc” là nuôi dưỡng, bao gồm cả nghĩa giáo dục và cảm hóa. Tướng soái Cửu Nhị có đức lớn, lượng rộng, có thể bao dung vô số người và nuôi dưỡng quần chúng. Vì vậy, ngày bình thường thì giải tán quân lính về làm ruộng; khi có việc thì tập hợp nông dân thành lính. Không nói “trị dân” mà nói “dung dân”, vì trị thiên về nghiêm, còn dung thiên về rộng. Không nói “động chúng” mà nói “súc chúng”, vì động thì nhọc, còn nuôi thì được an nhàn. Có câu rằng quân có thể trăm năm không dùng, nhưng không thể một ngày không chuẩn bị. “Bao dung dân chúng, nuôi dưỡng quần chúng” là đạo lo việc quân lúc bình thời. Quân sự vốn là việc làm tổn hại dân chúng, vậy mà thánh nhân lấy tượng lại nói “bao dung dân chúng, nuôi dưỡng quần chúng”. Ý nghĩa võ lực chân chính không giết chóc, chỉ thế cũng đủ hiểu.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh, chinh phạt: Quẻ lấy tên là Sư, nghĩa các hào rất rõ, có thể xét từng hào; cát hung tự nhiên sẽ nghiệm.


○ Hỏi về kinh doanh: Khôn là tài sản, là tụ; Khảm là người, là nạp, vốn có sức bao dung và bảo hộ. Nước Khảm ở trong đất, được đất bao bọc; nguồn tài như nước chảy không ngừng, biết rằng việc kinh doanh sẽ giàu có. Tốt.

○ Hỏi về công danh: Nước ở trong đất, như người sĩ còn ẩn cư, chưa hiển đạt. Nhưng đức lượng tự có thể bao dung dân chúng và muôn vật; một khi được tiến cử dùng đến, sẽ như nước chầu về biển, ban phát lợi ích rất rộng. “Quân tử” là danh xưng người có đức và có địa vị. Tốt.

○ Hỏi về hôn nhân: Xét Khôn và Khảm hỗ dụng, đất nước thân cận, ắt là hôn nhân do mối thân tình cũ giữa hai nhà. Đại cát.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng nước đầy bụng, trướng bụng. Khảm là tâm, là lo buồn; nên tĩnh tâm, điều khí, giải sầu tìm vui thì sẽ tự khỏi.

○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.

Sơ Lục: Xuất quân phải theo kỷ luật; không tốt thì hung.

Sơ Lục: Xuất quân phải theo kỷ luật; không tốt thì hung.

Tượng truyện nói: Xuất quân phải theo kỷ luật; để mất kỷ luật thì hung.

Quẻ này có Khảm ở trong, Khôn ở ngoài; từ trong ra ngoài gọi là xuất. “Dĩ” vẫn có nghĩa là dùng. Khảm là luật; luật là pháp lệnh, hiệu lệnh và tiết chế. Hào đầu là khởi đầu của các hào, cũng là khởi đầu xuất quân. Câu “gặp việc thì biết sợ” nói rằng phải thận trọng từ đầu. Việc quân dẫn đám đông vào nơi nguy hiểm, hệ trọng đến tồn vong quốc gia và an nguy nhân dân. Nếu kỷ luật không nghiêm, lòng người không hòa hợp, ba quân sẽ thất bại, không có gì hung hơn. “Phủ” nghĩa là không; “tạng” nghĩa là tốt, cùng nghĩa với câu trong Vệ phong của Kinh Thi “sao lại không tốt”. “Xuất quân theo kỷ luật” chưa thể quyết định trước thắng bại nên không nói là cát. Nhưng nếu không khéo dùng kỷ luật thì rơi vào nguy hiểm, tất nhiên là hung. Tượng truyện nói “mất kỷ luật thì hung”; “không tốt” chính là mất kỷ luật. Một thuyết khác cho rằng phủ là bế tắc, quân tâm bị ngăn cách, không thể hòa hợp; tạng thông với tàng, nghĩa là che giấu sâu, không phát ra, tức sợ địch. Dù kỷ luật nghiêm minh cũng tất bại. Huống nữa, người không tốt ắt không thể “dùng kỷ luật”, hung họa là chắc chắn. Thuyết này cũng hợp lý.

Hào này ở đầu chỗ hiểm của Khảm, nên lấy việc mất kỷ luật làm lời răn, đúng với câu “làm việc phải mưu tính từ đầu”. Nội quái biến thành Đoài, nước Khảm biến thành đầm, dừng lại không chảy, là tượng kỷ luật không được thi hành.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về công danh: Hào đầu là lúc mới ra đời cầu danh. “Xuất quân theo kỷ luật” là chính, như người sĩ lấy đạo làm trọng. Mất đạo thì dù vinh hiển cuối cùng cũng thành nhục, hung.


○ Hỏi về kinh doanh: Hào đầu cho biết đây là nghiệp mới lập. Nước ở trong đất cho biết việc vận chuyển và buôn bán đường biển. Nói chung, mưu lợi bằng nghĩa thì tốt; mất nghĩa thì hung.

○ Hỏi về nhà cửa: Quẻ Sư có Khảm ở trong, Khôn ở ngoài, nên nhà này ắt tọa Tý kiêm Sửu, hướng Ngọ Mùi. Nhân khẩu trong nhà rất đông. “Xuất quân có kỷ luật” cũng có nghĩa trị gia phải theo phép tắc. Phủ là không, tạng là tốt; trị gia không tốt thì gia đạo ắt hung.

○ Hỏi về bệnh tật: Quẻ Sư một dương năm âm, ắt là chứng hàn nhiều nhiệt ít. Bệnh mới khởi phát, nên mời lương y điều trị; nếu không sẽ hung.

【Ví dụ】Có người muốn thành lập một công ty công nghiệp có tổ chức, huy động vốn cổ phần và lập điều lệ, nên xin gieo quẻ xem công ty có thành công hay không. Gieo được quẻ Sư biến sang quẻ Lâm.

Lời đoán nói: Trong quẻ này, hào Cửu nhị, một hào Dương thống lĩnh nhiều hào Âm, là tượng một người cương kiện tất phải làm hội trưởng để chỉ huy mọi người. Nay điều lệ đã hoàn toàn đầy đủ, không có sơ suất, ắt thấy kỷ luật và trật tự được chỉnh đốn nghiêm túc. Tuy nhiên, theo lời hào, sự thịnh suy của hội này hoàn toàn nằm ở kỷ luật khi làm việc. Hiện nay những người ở nước ta góp vốn thành lập công ty đều lấy các nước Âu Mỹ làm khuôn mẫu. Sự tiện lợi về đường thủy, đường bộ ở các nước ấy không thể sánh với bản quốc, vì vậy rất thích hợp cho việc buôn bán và vận chuyển đủ loại hàng hóa. Góp vốn của nhiều người để mua sắm máy móc thì tiết kiệm nhân lực, chi phí chế tạo cũng rẻ, đạt được thắng lợi lớn. Còn những người kinh doanh vốn nhỏ và những nhà công nghiệp độc lập thì không ai tránh khỏi thất bại. Nay nước ta mô phỏng họ, muốn lập công ty, nhưng việc góp vốn đông người quả thật không dễ, hơn nữa tìm được người thích hợp để làm việc kinh doanh trong ban quản trị cũng khó. Vì vậy, khi lập công ty, điều trước hết là phải chọn được hội trưởng xứng đáng. Chọn được người thì việc có thể thành, nghiệp có thể hưng; không chọn được người thì dù thành lập cũng thất bại. Nay hào Sơ ở đầu công việc, chưa thể căn cứ vào điều lệ để định cát hung. Phải đợi việc bầu hội trưởng được xác định rồi mới có thể đoán sự hưng phế của công nghiệp.

Cửu nhị: Ở giữa quân đội, tốt lành, không lỗi. Nhà vua ba lần ban mệnh.

Cửu nhị: Ở giữa quân đội, tốt lành, không lỗi. Nhà vua ba lần ban mệnh.

Tượng truyện nói: “Ở giữa quân đội mà tốt lành” là vì được hưởng ân sủng của Trời. “Nhà vua ba lần ban mệnh” là vì ôm ấp, che chở muôn nước.

Trong quẻ Sư, Cửu nhị ứng chính với hào Ngũ. Một hào Dương là nơi quy tụ của các hào Âm, nên là chủ tướng trong quân, được chuyên quyền chiến phạt. “Ở giữa quân đội” nghĩa là ở giữa trận địa mà vẫn đắc đạo trung chính. “Nhà vua ba lần ban mệnh”: mệnh ấy là ân mệnh, chỉ việc được nhà vua sủng ái và ban ơn nhiều lần. “Ba” nói sự ban thưởng thường xuyên. Hào này lấy Dương cư Âm vị; trong quẻ Sư, nó là hào chủ của quẻ hỗ Chấn, ở địa vị tướng soái. Khảm là trí, Chấn là dũng; lấy đức của hào Dương mà ở giữa, nên trí dũng đều đủ, uy tín cùng được thi hành. Quả thật đủ đảm nhiệm chức nguyên soái, chính là “đại nhân” được Thoán truyện nói đến. Nhận mệnh vua từ Lục ngũ, thống lĩnh quân chúng; lại được Lục tam là đồng liêu thân cận, được Sơ lục là dân chúng thuận theo. Trên dưới đều tương thân tương ứng, cùng làm tham mưu, nên việc đánh ắt thắng, việc công ắt thành chỉ nhờ vị tướng Cửu nhị này. Vị vua tượng bởi Lục ngũ đã chuyên tâm giao phó, lại ban ân rất hậu, nên Cửu nhị tự nhiên được quyền chuyên chế. Đó là ý “việc ngoài cõi đều giao cho khanh”. Trách nhiệm đã lớn thì mệnh lệnh tất được thi hành, vì thế thành công cũng dễ. Từ xưa, dù trong triều có quyền thần, ngoài biên có tướng giỏi mà vẫn không thắng được địch, đều do sự tín nhiệm không chuyên nhất. Hào này nói “nhà vua ba lần ban mệnh”, đủ thấy sự ủy nhiệm chuyên nhất và ân sủng dày dặn. Tượng truyện nói “nhận ân sủng của Trời”; “Trời” ở đây chính là nhà vua. Gọi vua là Trời cho thấy nhà vua sáng suốt trong việc dùng người hiền. Tượng truyện lại nói “ôm ấp muôn nước”, nghĩa là mệnh lệnh của vua không cốt dùng uy lực, mà cốt thu phục và che chở dân chúng.

Khi hào này biến, toàn quẻ trở thành Khôn, rời khỏi hiểm của Khảm mà đi vào sự thuận của Khôn, có tượng dẹp loạn lập lại chính đạo. Quẻ Địa Thủy Sư đột nhiên biến thành Khôn Vi Địa, có tượng mở mang đất đai, khai phá bờ cõi. Hào này là hào chủ làm thành quẻ, nên lời Thoán “tốt lành, không lỗi” được quy vào nó.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về công danh: Cửu nhị lấy một hào Dương thống lĩnh năm hào Âm; lời hào nói “ở giữa quân đội, tốt lành”, như một con hạc giữa đàn gà, là người tài năng xuất chúng. “Nhà vua ba lần ban mệnh” nghĩa là nhờ tài năng mà được phong tước, hiển nhiên nhận mệnh vua.


○ Hỏi về kinh doanh: Cửu nhị là hào chủ của toàn quẻ, người ấy ắt có mưu lược vượt trội, lão luyện thông đạt trong thương vụ, có thể được cử làm người đứng đầu công ty thương mại. Tốt.

○ Hỏi về gia trạch: “Ở giữa quân đội mà tốt lành” nghĩa là gia đình ấy ắt là một nhà lớn trong làng, đồng thời là người hiền thiện của làng ấy.

○ Hỏi về hôn nhân: Cửu nhị biến thành Khôn. Khôn là đạo của đất, cũng là đạo của người vợ. Tính chất của nước và đất hòa hợp với nhau, nên tốt lành.

○ Hỏi về bệnh tật: Biết rằng thủy khí đình trệ, tích tụ ở trung cung. Phải làm cho thủy khí lưu thông, trung tiêu được thư thái rộng rãi, bệnh sẽ không gây hại. Tốt.

○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.

【Ví dụ】Tháng mười hai năm Minh Trị thứ hai mươi lăm, xem quẻ về Quốc hội khóa thứ năm, được quẻ Sư biến thành Khôn.

Lời đoán nói: Trong quẻ này, Cửu nhị lấy một hào Dương thống lĩnh năm hào Âm. Đem so với việc người, đó là vị thầy cương kiện dạy dỗ các học trò thuộc Âm, vì vậy quẻ được gọi là Sư. Đem so với quốc gia, Cửu nhị là vị đại thần cương nghị: ở trong thì làm tể tướng, ra ngoài thì làm tướng quân. Khi quốc gia có việc, người ấy nhận mệnh vua để chuyên quyền chinh phạt, quyền lực không rơi vào tay người khác, uy tín và quyền thế cùng được thi hành. Đó là ý câu: “Sư là chúng, trinh là chính; có thể làm cho chúng trở nên chính thì có thể làm vua.” Trong sáu mươi bốn quẻ, ba trăm tám mươi bốn hào của Kinh Dịch, chỉ riêng hào này dạy dân, dùng uy nghiêm của mình và giữ gìn quốc gia. Khi thiên mệnh quy về mình, đó là lúc người đại nhân phải trên nhận mệnh vua, dưới thuận lòng dân, đem chính đạo lớn lao mà dấn thân báo quốc. Nay xem quẻ về Quốc hội mà được lời hào này, cũng phải trên nhận mệnh vua, dưới thuận lòng dân; như thế việc nghị bàn mới đạt được trung đạo. Nếu việc nghị bàn ở trên không được vua tín nhiệm, ở dưới không được dân tín nhiệm, thì nhất định không thể thi hành.

Tháng mười hai năm sau, năm Minh Trị thứ hai mươi sáu, Quốc hội buộc chủ tịch phải rút lui. Đó là hào Dương ở hào Nhị biến thành Âm, một lần nữa có lệnh đình chỉ; đến lần thứ ba thì cuối cùng có lệnh giải tán. Quả nhiên ứng với lời đoán: “Nhà vua ba lần ban mệnh, ôm ấp muôn nước.” Than ôi! Thiên mệnh nghiêm minh và xác thực như vậy, há chẳng đáng sợ và kính nể sao!

Lục tam: Quân đội có thể phải chở xác chết, xấu.

Lục tam: Quân đội có thể phải chở xác chết, xấu.

Tượng truyện nói: “Quân đội có thể phải chở xác chết” nghĩa là hoàn toàn không lập được công, thất bại lớn.

“Chở xác chết” nghĩa là quân đội thất bại, người chết trận rất nhiều, phải chở thi thể về bằng xe. Khi hào này biến, nội quái trở thành Tốn. Tốn là tiến lui, có tượng nghi ngờ, nên dùng chữ “hoặc”. Cổ ngữ nói: “Tai họa của ba quân sinh ra từ hồ nghi”; nghi ngờ là điều đại kỵ trong việc hành quân. Lục tam lấy Âm cư Dương vị, không trung không chính. Tiến thì không có ai ứng, lui thì không có gì để giữ. Hào ở cuối nội quái, đối diện quân địch của ngoại quái, đúng vào lúc giao phong chạm lưỡi gươm. Lấy mềm ở ngôi cứng, giống kẻ tiểu nhân tài yếu mà chí cương, trộm quyền của Cửu nhị, cậy mạnh tiến bừa, cuối cùng mất quân kỷ, làm tan quân, phải chở xác chết về. Vì thế nói: “Quân đội có thể phải chở xác chết, xấu.” Tượng truyện nói “hoàn toàn không có công”, cũng tức là đại bại. Việc quân cần sự tín nhiệm chuyên nhất. Hào Nhị là chủ tướng, hào Tam là phó tướng. Phó tướng tự tiện dùng quyền gây thất bại thì chủ tướng cũng không thể thoái thác trách nhiệm, nên nói “hoàn toàn không có công”. Như trận Thành Bộc, tả quân và hữu quân thất bại, còn Tử Ngọc không bại; nhưng Tử Ngọc là người cầm quân, nên vẫn không thể tránh tội làm bại quân. Xét toàn quẻ, cả sáu hào đều tượng quân đội và binh sĩ. Riêng nói về hào Tam, nội quái là tiên phong, ngoại quái là địch; Khôn ở ngoại quái tượng trưng cho số đông, nên là quân địch đông đảo. Đến hào Tứ thì lại lấy Ngũ và Thượng làm địch. Hào Ngũ ở ngôi vua mà không phải địch; đây là trường hợp biến lệ khi lấy tượng của quẻ và hào. Kinh Dịch lấy tượng đại khái như vậy, người học không thể không biết.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về kinh doanh: Khảm là xe, xe dùng để chở hàng hóa. Khảm cũng là hãm, là phá. Xe gặp chỗ hiểm hẹp thì xe có thể hỏng, hàng hóa đổ nát. Người chết gọi là thi thể, cũng giống như xe bị hỏng và hàng hóa mất sạch. “Hoặc” là lời nói về điều chưa xảy ra; “hoàn toàn không có công” nghĩa là tổn thất lớn. Người buôn đường dài chưa chắc gặp mối nguy này, nhưng không thể không đề phòng. Tượng của hào răn dạy như vậy.


○ Hỏi về công danh: “Quân tử được xe” nghĩa là được đức; xe là vật chở đức mà thi hành. Quân tử là danh xưng chỉ người có đức có vị. Có người nói “chở xác chết” là chỉ kẻ không có đức mà chiếm giữ địa vị, nên xấu.

○ Hỏi về gia trạch: Các nhà Âm Dương gọi phong thủy là kham dư; kham là Trời, dư là đất. “Chở xác chết” nghĩa là đất có tử khí, làm sao không xấu được!

○ Hỏi về hôn nhân: Hào Tam ở cuối Khảm, nhận khí của Càn. Càn dưới Tốn trên thành quẻ Tiểu Súc. Hào Tam quẻ Tiểu Súc nói: “Xe tuột nan, vợ chồng quay mặt chống nhau”; Tượng truyện nói: “Không thể chỉnh đốn gia thất”, nên biết rõ sự xấu.

○ Hỏi về thai sản: Dù sinh con trai cũng xấu.

【Ví dụ】Năm Minh Trị thứ ba, ba thương nhân Yokohama chất hàng nhập khẩu lên tàu hơi nước, chở đến Hakodate để bán. Đúng lúc hàng nhập khẩu khan hiếm, họ thu được lợi nhuận gấp ba, bèn lại mua một lượng hàng rất lớn, định đi chuyến nữa để kiếm lời lớn. Một người trong số đó, ông nọ, đến xin xem quẻ về Tổn và Ích, được quẻ Sư biến thành Thăng.

Lời đoán nói: Quẻ này có tượng ném đất từ trên mặt nước xuống. Đem xét trong việc kinh doanh, mục đích chưa xác định, hỗn tạp đến mức không thể nói được. Huống hồ nay các ông được hào Tam; các ông mua rẻ những món hàng hiện khó tiêu thụ ở Tokyo và Yokohama, định đem bán tại vùng xa xôi để thu lợi lớn. Các thương nhân khác nghe tin cũng sẽ tính chuyện mua đủ loại hàng, ai nấy đều muốn tranh đi trước. Nhưng những món hàng không hợp thời, khi mọi người cùng tranh nhau vận chuyển, nhất định sẽ bị đẩy giá lên. Đến Hakodate, nếu mỗi người lại tranh nhau bán, thương nhân địa phương đã sớm đoán biết điều đó. Sau này hàng đến mà không bán được, ắt phải hạ giá; dù hạ đến cực rẻ vẫn không bán được thì nhất định phải chở về. Việc bốc xếp và vận chuyển qua lại sẽ tiêu hao rất lớn; đến khi bán được, không những không có lời mà còn tổn hại cả vốn. Chở hàng trên xe quay về chẳng khác gì chở xác chết trở về. Vì vậy, tốt hơn hết là dừng lại.

Ông nọ nghe vậy rất cảm phục, bèn dừng chuyến đi lên miền Bắc. Về sau quả nhiên mọi việc đúng như lời đoán. Những thương nhân khác đi Hakodate đều chịu tổn thất lớn.

Lục tứ: Quân đội lui về bên trái, không lỗi.

Lục tứ: Quân đội lui về bên trái[43], không lỗi.

Tượng truyện nói: “Lui về bên trái, không lỗi” nghĩa là chưa đánh mất lẽ thường.

Bên trái đối lập với bên phải, chỉ nơi không được sử dụng. Tay phải thuận tiện, còn tay trái ở phía lệch, vì thế thuật không chính đáng gọi là tả đạo, quan bị giáng chức gọi là tả thiên, kế sách không thích hợp gọi là tả kế. “Lui về bên trái” nghĩa là lui lại đóng quân. Tả thị nói: “Không tiến gọi là thứ”, lại nói: “Phàm quân đóng ba đêm gọi là một thứ.” Kinh Dịch còn lấy Dương làm phải, Âm làm trái; Lục tứ là Âm cả về hào lẫn vị, nên gọi là trái. Hào này mềm yếu, không được trung, chí hướng yếu, không thể thắng địch. Tự biết không thể thắng, cân nhắc tình thế rồi lui, giữ được toàn quân; so với sự tan vỡ của hào Tam thì tốt hơn rất nhiều, nên không lỗi. Tượng truyện nói “chưa mất lẽ thường”, nghĩa là không trái với phép thường của việc lui về bên trái. Câu cổ ngữ “thấy có thể tiến thì tiến, biết khó thì lui” là điều tốt trong việc quân. Nếu có thể tiến mà lại lui, sao có thể không lỗi? Kinh Dịch nêu rõ đạo lý này để răn người đời sau chớ lượng sức không đủ mà tiến bừa.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về gia trạch: Hào Tứ ra khỏi Khảm, trải qua Khôn. Khôn là Tây Nam, nên nhà này ắt quay về Tây Nam. Việc tốt chuộng bên trái; nhà này gần phương Đông, Thanh Long chủ niềm vui, nên tốt lành, không lỗi.


○ Hỏi về công danh: Quan chức bị hạ xuống gọi là tả, tức cái gọi là giáng chức. Nói “lui về bên trái” thì không tốt.

○ Hỏi về kinh doanh: “Cao” là lấy bên trái làm cao, còn “thứ” cũng có nghĩa là thấp. Xem được hào này thì biết hàng hóa và tài sản ắt không phải loại thượng hạng. Tuy nhiên, dù là hàng thứ phẩm vẫn có thể kiếm lời, nên nói “chưa mất lẽ thường”.

○ Hỏi về hôn nhân: Nam vẫn trọng bên phải, nữ vẫn trọng bên trái. Hào nói “lui về bên trái”, lẽ nào là vào ở rể nhà người nữ? Tuy làm rể cũng không lỗi.

○ Hỏi về bệnh tật: Mùa xuân sinh ở bên trái, được sinh khí ấy thì bệnh ắt không đáng ngại.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】Khi tôi ở Atami, một trung tướng lục quân và một thiếu tướng lục quân nọ đến chơi. Vì một chiến hạm đi ngang qua chiến hạm Mabuya rồi về cảng quá muộn, họ hỏi việc ấy cát hung ra sao; được quẻ Sư biến thành Giải.

Lời đoán nói: Sư là một hào Dương thống lĩnh năm hào Âm, là quẻ trong đó đông đảo Âm theo một Dương, nên gọi là Sư. Lục tứ ở Âm vị, lui khỏi chiến địa để nghỉ ngơi. Hào nói “không lỗi”, Tượng truyện nói “chưa mất lẽ thường”, nghĩa là mọi việc vẫn như thường, không có sự cố. Nay xem về chiến hạm Mabuya mà được hào này: Sư tượng chiến hạm; “lui về bên trái” là tượng tạm rời khỏi tuyến đường, neo đậu và nghỉ. “Không lỗi” có nghĩa bổ khuyết sai sót, tức là sửa chữa thân tàu. Có lẽ hiện giờ chiến hạm đang neo đậu để sửa thân tàu. Không thể không nhanh chóng dò xét và lo việc cứu trợ. Tháng sau là thời của hào Ngũ, lời hào nói: “Con trưởng cầm quân, em út chở xác chết.” Con trưởng tức đại phu, chỉ các sĩ quan cao cấp, có thể bảo đảm vô sự; em út chỉ những người làm việc tạp dịch trên tàu, e rằng sẽ gặp tai họa. Hơn nữa, khi hào này biến, ngoại quái trở thành Chấn. Trên nước Khảm nổi lên gỗ Chấn, cũng có thể biết thân tàu không việc gì.

Lời đoán này từng được truyền bá một thời gian. Về sau, vì không tìm thấy tung tích chiến hạm nói trên, chính phủ xác định nó đã bị chìm, bèn thu 1.300.000 yên tiền bảo hiểm từ một công ty bảo hiểm Pháp để làm tiền cứu trợ cho gia quyến các sĩ quan hải quân, thủy thủ và những người khác cùng ở trên con tàu ấy.

Những lời đoán của tôi thường phải trải qua vài năm mới được nghiệm. Một trăm lần đoán thì trúng cả một trăm, chưa từng sai một lần. Chỉ riêng trong cách luận sống động ba trăm tám mươi bốn hào của Kinh Dịch, hào Thượng quẻ Thủy Lôi Truân là tôi từng không dùng lời hào mà dựa vào sự biến đổi để đoán, rồi tình cờ sai. Hơn nữa, tuy hào này bị phê là không đắc trung, chẳng phải có thể do việc dò xét chưa đến nơi đến chốn hay sao? Lại nữa, trong hai tháng không xảy ra việc gì, nhưng sau đó mới gặp biến cố; điều ấy cũng không thể biết được. Vì vậy, lời đoán này vẫn còn ở giữa đúng và không đúng. Với một hào như vậy, những kẻ học nông cạn thời nay không thể lên tiếng xen vào. Đợi đến đời sau, khi xuất hiện người chuyên tâm học Dịch như tôi, mới có thể phán định đúng sai.

Lục ngũ: Ngoài đồng có chim; có lợi khi nêu rõ lời nói, không lỗi. Con trưởng cầm quân, em út chở xác chết. Giữ chính thì xấu.

Lục ngũ: Ngoài đồng có chim; có lợi khi nêu rõ lời nói, không lỗi. Con trưởng cầm quân, em út chở xác chết. Giữ chính thì xấu.

Tượng truyện nói: “Con trưởng cầm quân” là hành động theo đạo trung chính. “Em út chở xác chết” là vì dùng người không đúng.

“Ruộng” là nơi gieo trồng lúa và ngũ cốc; “cầm thú” là cách gọi chung các loài chim muông. “Trong ruộng có cầm thú” nghĩa là chim thú kéo đến phá hoại mùa màng, cũng như giặc cướp kéo đến làm hại nhân dân. Vì vậy phải xua đuổi và bắt giữ chúng, không thể không duy trì phòng bị. Hào này là hào năm, ở ngôi tôn quý, nhưng đức tính nhu thuận. Thấy giặc cướp đến xâm phạm, bèn truyền lệnh xuống, giao cho tướng soái chủ trì việc chinh phạt, nên nói “có lợi về việc nắm lời mà ra lệnh”. Quẻ hỗ của hào này, nếu biến, sẽ thành Cấn. Cấn tượng cho bàn tay, cũng tượng cho việc nắm giữ, nên là hình tượng của việc nắm lời mà ra lệnh. Cửu nhị giữ đức cương trung, bên trên thừa hưởng ân sủng của Trời, phụng hành mệnh lệnh để trị tội. Như lời nói “quân xuất chinh phải có kỷ luật”, ắt lập được công, nên nói “không lỗi”. Nhưng đã giao cho trưởng tử thống lĩnh quân đội, lại giao thêm cho đệ tử, khiến quyền của trưởng tử bị chia sẻ; đó là quân chủ ở lục ngũ không chuyên nhất trong việc tín nhiệm. Trưởng tử chỉ cửu nhị, đệ tử chỉ lục tam. Cửu nhị cương trung, có tài; khi xuất quân thì kỷ luật nghiêm minh, nên tốt lành. Lục tam âm nhu, không đắc trung, không có trí cũng không có mưu, vì thế đại bại tan tác, chở xác chết trở về. Do đó nói: “Trưởng tử thống lĩnh quân đội, đệ tử chở xác chết.” Trưởng tử này chính là “đại nhân” được nói trong lời Thoán. Lời Thoán gọi là “đại nhân”, còn mệnh lệnh của quân chủ gọi là “trưởng tử”. Sách Tản Ngôn nói: “Tất cả những người con từ con thứ hai trở xuống đều là em của trưởng tử, gọi là đệ tử.” Trong quẻ này, cửu nhị là chủ soái; lục tam và lục tứ mỗi hào chia nhau chỉ huy một đạo quân. Nêu cửu nhị và lục tam mà không nói đến lục tứ là vì cửu nhị đại cát, lục tam đại hung, còn lục tứ có thể không đánh mất phép thường, nên không lỗi. “Chính mà hung” nghĩa là khi bổ nhiệm tướng và xuất quân, nhất thiết phải chọn người hiền mà giao phó; đó là “chính”. Trái lại, dù giữ điều chính vẫn thành hung. Hai chữ “chính hung” này bao quát điều cốt yếu của cả chương. Ở hào này, đối phương đến xâm lược nên ta mới đi đánh dẹp; lỗi thuộc về đối phương, vì thế “không lỗi”. Câu “do hành xử ở giữa” trong Tượng truyện nghĩa là trưởng tử cửu nhị có tài đức hành xử trung chính, có thể lập công trong việc chinh phạt. Câu “việc sai khiến không thích đáng” nghĩa là đệ tử lục tam âm nhu, không đắc trung, làm mất kỷ luật và làm hỏng quân đội; đó là vì giao cho người ấy nhiệm vụ không phù hợp với tài năng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về kinh doanh: Hào nói “ruộng có cầm thú”, cũng như nói người nông dân có thóc, người buôn bán có lợi nhuận. “Chấp ngôn” là chứng từ hợp đồng. Trong việc kinh doanh, tốt nhất nên để người giàu kinh nghiệm, từng trải làm chủ; như vậy thì có lợi, nếu không sẽ gặp hung.


○ Hỏi về nhà cửa: Ngôi nhà này có lẽ là nhà mới mua theo hợp đồng; có lợi cho trưởng phòng, nhưng bất lợi cho các con thứ.

○ Hỏi về công danh: Biết rằng người này vốn nổi tiếng tài năng, có bản lĩnh một buổi sáng bắt được mười con chim. Nhưng điều cốt yếu là đức phải hơn người; nếu đức kém vật chất, dù chính đáng vẫn hung.

○ Hỏi về hôn nhân: “Có cầm thú” chỉ nghi lễ nạp nhạn; “chấp ngôn” chỉ văn thư của người mai mối. Hôn sự đang được định liệu này, nếu là trưởng nam kết hôn với trưởng nữ thì tốt lành.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, là trưởng nam của quẻ Chấn.

【Ví dụ】Tháng Giêng năm Minh Trị thứ 18, tôi đến Atami tắm suối nước nóng để tránh rét. Khi ấy, tại kinh thành Triều Tiên xảy ra biến động, chính phủ sắp chất vấn triều đình nhà Thanh. Triều đình và dân chúng đều xôn xao, mọi người chú ý xem ai sẽ được cử làm sứ thần và việc thương nghị sẽ tiến hành ra sao. Tôi bèn gieo quẻ hỏi người đảm nhiệm sứ mệnh, được quẻ Sư biến sang Khảm.

Lời đoán nói: “Ruộng có cầm thú” nghĩa là chim đến phá hoại mùa màng của ta. Còn “trưởng tử thống lĩnh quân đội” phải chăng chỉ người đàn ông Choshu được tuyển chọn đảm nhiệm việc này? Một chỗ nói “trưởng tử”, một chỗ nói “đệ tử”, đều chỉ người được giao sứ mệnh. Trong triều đình hiện nay, xét về các chính trị gia lão luyện, không ai bằng Bá tước Ito; ông là người Choshu. Quẻ “trưởng tử” phải chăng ứng vào người này? Xét cuộc thương nghị lần này theo lời “thống lĩnh quân đội”, mục đích thực sự vốn là hòa bình, nhưng cũng không thể không chuẩn bị trước. Nếu ta không chuẩn bị cả hai mặt hòa và chiến, rốt cuộc khó mà nói đến hòa bình. Việc này quả là mối quan hệ lớn; nếu nhượng một bước, ắt sẽ tan vỡ. Muốn hàn gắn và khiến hai nước không rơi vào cảnh khốn khó, chỉ cốt ở việc phái đúng người làm sứ thần. Nếu Bá tước Ito đảm nhiệm trọng trách này, ông sẽ xử lý thích đáng lúc gấp lúc hoãn, nhất định có thể lập lại hòa bình bên bàn tiệc ngoại giao, không còn gì phải nghi ngờ. Vì vậy nói “dùng sự trung hành”. “Trung hành” là điều Kinh Dịch coi trọng, nghĩa là giữ được trung chính và đạt sự thích đáng; đó là lời khen. Nếu giao việc cho người khác, e có nỗi lo “sai khiến không đúng”. Một chữ “sai khiến” liên quan đến sinh tử của dân chúng, an nguy của quốc gia. Tùy việc bổ nhiệm có thích đáng hay không, sự khác biệt giữa cát hung, thành bại thực lớn như trời với đất. Nay được quẻ này như vậy, có thể biết lời răn dạy của Kinh Dịch sâu sắc đến nhường nào. Hiện giờ chưa thể nói tường tận, nhưng xét lời hào thì có thể biết cát hung.

Chẳng bao lâu sau, Bá tước Ito quả nhiên nhận lệnh được phái làm đại sứ sang nhà Thanh.

Hào Thượng lục: Bậc đại quân ban mệnh, mở nước và nối tiếp dòng họ[44]; không nên dùng kẻ tiểu nhân.

Hào Thượng lục: Bậc đại quân ban mệnh, mở nước và nối tiếp dòng họ[44]; không nên dùng kẻ tiểu nhân.

Tượng truyện nói: Đại quân có mệnh là để định công cho chính đáng. Chớ dùng kẻ tiểu nhân, vì ắt sẽ làm loạn đất nước.

“Đại quân” chỉ quân vương Lục ngũ. “Có mệnh” nghĩa là luận công và ban thưởng. “Mở nước” nghĩa là mới phong các chư hầu; “dựng nhà” nghĩa là cho làm khanh đại phu. Hào này nếu ngoại quái biến thì thành Cấn; Cấn tượng cửa cung, lầu gác, là tượng của nhà; Khôn tượng đất, là tượng của nước. Thượng hào ở cực điểm của thượng quái, là lúc võ công của quẻ Sư kết thúc: chiến tranh đã định, công lao hoàn thành, quân khải hoàn và ban thưởng. Cửu nhị là chủ soái, có công đầu, nên được phong bằng việc “mở nước”. Lục tứ “lui về đóng ở thứ vị” nhưng có công, nên được thưởng bằng việc “dựng nhà”. Lục tam lấy nhu ở vị âm, thất bại chạy về với xe chở xác, là tiểu nhân; vì vậy răn không được dùng lại. Thượng lục ở bên cạnh đại quân, trong việc quân không có nhiệm vụ gì, nhưng ở bên trong tham gia phò tá vương mệnh, hoàn thành đạo trị tướng, nên công cũng lớn; vì thế cũng được ban thưởng. Xét rõ lớn nhỏ của công lao, phân biệt nặng nhẹ của tội lỗi, thưởng nhất định công bằng, phạt nhất định thi hành—đó đều là mệnh của đại quân. Vì vậy nói “để định công cho chính đáng”. Nếu dựa vào quan hệ để cầu công, che đậy tô điểm để thoát tội, thì đó không phải mệnh của Cửu ngũ, mà là đánh mất sự chính đáng. Tiểu nhân trong quân ngũ có thể chạy xông pha mà lập công, hoặc nhờ dũng cảm mà giành thắng lợi, không phải hoàn toàn không có công. Nhưng chỉ nên thưởng họ tiền bạc, lụa là, bổng lộc và chức vị; không được cho họ “mở nước dựng nhà”, để ngăn họa về sau. Tượng truyện nói: “Chớ dùng kẻ tiểu nhân, vì ắt sẽ làm loạn đất nước”—lời răn thật sâu sắc. Hào này ở cực điểm của Khôn trong thượng quái; phục quái là Càn, tượng đại quân. Hạ quái Khảm tượng trộm cướp; trộm cướp chính là tiểu nhân, nên cảnh báo “chớ dùng”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về nhà cửa: Hào nói “đại quân có mệnh, mở nước dựng nhà”, biết rằng đây ắt là một gia tộc quyền thế danh giá. “Chớ dùng kẻ tiểu nhân” là lời răn đối với hậu duệ của họ.


○ Hỏi về kinh doanh: Thượng lục ứng với địa chi Tỵ, được khí của Tốn. Tốn tượng thương mại, lại có ý “gần chợ lợi, lợi gấp ba”; gia đình này ắt hưng khởi nhờ kinh doanh. Tốn cũng tượng mệnh lệnh. Hào nói “đại quân có mệnh”, nên sẽ nhờ giàu mà đạt quý, gia đạo ngày càng hưng thịnh. Nhưng giàu sinh kiêu, gần gũi tiểu nhân là điều cần răn dè.

○ Hỏi về công danh: Thượng lục ở cuối quẻ, chỉ thời điểm luận công ban thưởng, rõ ràng cho thấy công danh hiển hách. Là trưởng nam của Chấn, tự nhiên có thể gánh vác gia đình; chỉ người con trai giữa của Khảm là không thể dùng, nên nói: “Chớ dùng kẻ tiểu nhân.”

○ Hỏi về hôn nhân: Từ hào ba đến hào sáu của quẻ Sư là Khôn; Khôn tượng đạo của người vợ. Hào nói “mở nước dựng nhà”, biết hai họ đều là gia tộc lớn. Lại nói “đại quân có mệnh”, người mai mối ắt là quý nhân. Tốt lành.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, chủ về quý hiển.

【Ví dụ】Một vị quý hiển mắc bệnh ung thư dạ dày. Khi tôi đến thăm, tình cờ có ba nghị quan của Viện Nguyên lão đang ngồi đó. Một nghị quan hỏi tôi: “Vị này cùng các bậc nguyên lão lập công lớn trong thời Duy Tân. Những người khác đều được ban tước vị và ân điển, chỉ riêng vị này chưa được hưởng vinh dự ấy. Nay ông mắc bệnh nặng, e rằng gặp điều bất trắc. Chúng tôi là bạn bè, muốn nhờ ông dâng lời thỉnh cầu việc này; không biết nguyện vọng có đạt được không? Xin gieo một quẻ.” Tôi gieo quẻ, được quẻ Sư biến sang Mông.

Lời đoán nói: Vị này có công với quốc gia, mọi người đều biết. Triều đình ắt có cách báo đáp, vốn chẳng cần phải nói thêm. Nay quẻ nói “đại quân có mệnh”, biết rằng việc ban tước vị sẽ xảy ra trong vài ngày tới.

Quả nhiên sáu ngày sau, ông được ban ân điển tước Nam tước.


(Lời phụ) Trong sáu mươi tư quẻ, tám quẻ Sư, Tỉ, Đồng nhân, Đại hữu, Tùy, Cổ, Tiệm và Quy muội được gọi là các quẻ Quy hồn. Nếu một người hỏi về số mệnh mà được một trong những quẻ này, hào trên chỉ thời điểm tận mệnh. Hệ Từ truyện nói: “Xét rõ đầu nguồn, trở về chỗ cuối, có thể biết thuyết về sống chết.” Nhờ đó có thể biết kết cục của người ấy. Sinh tử của con người có sự phân biệt giữa chính mệnh và phi mệnh. Tâm hồn nương nơi thân thể cũng như người tạm trú trong một ngôi nhà. Khi thần hồn rời khỏi thân thể, cũng như thời hạn thuê nhà đã hết; hồn lìa thân chết, gọi là chính mệnh. Nếu thời hạn chưa hết, nhưng nhà bị hư hỏng, rồi phát sinh bệnh tật hoặc tai họa bất thường khác khiến thân thể chết và tâm hồn đột nhiên đoạn tuyệt, gọi là phi mệnh. Muốn cứu cái chết phi mệnh ấy, e rằng ngay cả lương y cũng không thể làm gì. Trong ba trăm tám mươi bốn hào, chỉ tám hào này biểu thị cái chết theo chính mệnh. Than ôi! Sinh tử của con người quả thật đáng thương.