Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 19 Địa Trạch Lâm, Lâm: cả lớn hanh thông, lợi về chính bền; đến tháng tám thì có hung

Địa Trạch Lâm, Lâm: cả lớn hanh thông, lợi về chính bền; đến tháng tám thì có hung

19 Địa Trạch Lâm

Chữ “Lâm” 83 gồm các bộ phận chỉ người, bề tôi và phẩm vật. “Người” lấy quân thượng làm tôn quý; “bề tôi” thống lĩnh thần dân; “phẩm vật” phân loại theo hạng bậc. Ý nói người quân chủ lâm ngự thiên hạ, thống suất thần dân, phân biệt người hiền và kẻ bất tài, rồi dùng họ theo sở trường; đó gọi là vua lâm dân, tôn lâm kẻ ti, trên lâm xuống. Lâm còn có nghĩa giám sát và giữ gìn, vì thế chữ giám cũng do dạng tỉnh lược của Lâm mà thành. Lại xét quẻ Lâm: Đoài ở dưới thấm dần lên trên, Khôn ở trên lấn xuống dưới; dưới lấn quá trên, có hình thế gần gũi thân cận. Thể quẻ, Đoài là đầm, Khôn là đất; đất ở trên đầm, tức là đất lâm đầm. Bốn hào âm ở trên, hai hào dương ở dưới; dương muốn tiến lên, nên dương lâm âm. Vì vậy Thoán truyện nói: dưới vui mà nương theo trên, trên thuận mà hạ xuống dưới. Nương theo trên là dưới phụ vào trên; hạ xuống dưới là trên đến với dưới. Gộp toàn tượng gọi là lâm lị. Do có nghĩa lâm, nên lấy Lâm làm tên quẻ.

Lâm: cả lớn hanh thông, lợi về chính bền; đến tháng tám thì có hung.



▲ Chữ Lâm trên kim văn

Quẻ Lâm có Đoài ở dưới, Khôn ở trên. Đoài là vui, Khôn là thuận. Khôn nói “cả lớn hanh thông” vì đến nhờ sự thuận; Lâm được cái thuận của Khôn nên cũng nói “cả lớn hanh thông”. Đoài nói “lợi về chính bền” vì nhờ vui mà thành tựu; Lâm được cái vui của Đoài nên cũng nói “lợi về chính bền”. “Nguyên hanh lợi trinh” là bốn đức, lần đầu đầy đủ ở quẻ Càn. Càn là trời; người lâm dân nên noi theo trời, nên Lâm cũng đủ bốn đức ấy. Thuyết “tháng tám” được các nhà Nho bàn luận nhiều, nhưng đạo Dịch không ngoài sự tiêu trưởng của âm dương. Xét theo các quẻ chủ, Lâm là quẻ của tháng hai. Tháng hai là giữa xuân, dương đang tăng trưởng; tháng tám là giữa thu, dương dần suy. Dương suy, âm trưởng là đường hung, nên nói “đến tháng tám thì có hung”. “Đến” nghĩa là chưa đến mà đã phòng trước sự đến; “có” nghĩa là chưa có mà đã lo trước khả năng có. Nếu đã đến, đã có, hung đã lâm thân thì muốn tránh cũng đã muộn. Thánh nhân dùng Kinh Dịch để răn dạy, mong người lâm dân biết phòng ngừa tai họa trước thời điểm của nó. Đó cũng là ý “giẫm lên sương thì băng cứng sẽ đến”. Nếu mọi việc đều có cát mà không có hung, thiên hạ có thể luôn được trị.

Tượng truyện nói: Lâm: cái cương dần dần trưởng, vui mà thuận, cương ở giữa mà ứng, đại hanh nhờ chính; đó là đạo của trời. Đến tháng tám thì có hung; sự tiêu suy chẳng còn lâu nữa.

“Cương” chỉ hai nét dưới của Đoài, tức hào Sơ và hào Nhị. “Tẩm” nghĩa là dần dần; hai hào dương dần trưởng ở dưới rồi tiến lên. Đoài ở trong, Khôn ở ngoài, tức trong vui mà ngoài thuận. “Cương trung” chỉ hào Nhị, cương mà được trung. “Ứng” chỉ hào Ngũ, được trung của nhu để ứng với cương trung, nên cương nhu tương ứng. “Đại” tức nguyên, “dĩ” tức lợi. Phàm Thoán truyện dùng chữ “dĩ” là để giải chữ “lợi”. Những quẻ có đủ đức “nguyên hanh lợi trinh” là Càn, Khôn, Truân, Tùy, Lâm, Vô vọng và Cách, tổng cộng bảy quẻ. Bốn đức ở các quẻ đều từ sáu hào dương của Càn mà ra. Càn là trời, nên nói “đạo của trời”. “Dần trưởng, vui mà thuận” là đạo đạt hanh thông; “cương trung mà ứng” là đạo đạt chính, tức hết sức ở người để hợp với trời. “Đến tháng tám thì có hung, sự tiêu suy chẳng còn lâu” là vì Lâm ứng với tháng hai, khi “cương dần trưởng”; đến tháng tám, nhu dần trưởng còn cương dần tiêu. “Chẳng còn lâu” là nói vừa mới tiêu, cũng chính là nghĩa của “dần dần”. Khi cương dần trưởng, quân tử ứng theo trời mà hành, đạt đại hanh nhờ chính; khi cương dần tiêu, quân tử phải cảnh giác theo thời, nhờ đó mới tránh được hung. Dương trưởng âm tiêu, xét theo đạo trời là sự qua lại của lạnh nóng; xét theo đạo trị nước là sự tiến lui của quân tử và tiểu nhân. Thánh nhân đặc biệt nhiều lần răn dạy qua quẻ Lâm; ý thật sâu xa!

Đem quẻ này ví với việc người, có khi là đứng trên cao nhìn xuống, có khi đứng trước vực mà ao ước, có khi gặp việc mà sợ hãi, có khi đối diện tiền tài, có khi đối diện gian nan; tất cả đều là Lâm. Cái hại trong việc người không mất ở cương thì cũng mất ở nhu. Cương trưởng có thể dùng nhu để bổ trợ; nhu trưởng có thể dùng cương để bổ trợ, như thế mới hòa vui thuận theo. Cương nhu đều được thì muôn việc tất hanh thông, trăm việc đều công chính; đó là điều thiện cao nhất của nhân sự. Âm dương tiêu trưởng là vòng tuần hoàn của thiên đạo, vốn không phải sức người có thể xoay chuyển, nhưng cát hung của nhân sự cũng ẩn chứa trong đó. Nói đơn giản, chưa lạnh mà không lo áo, đến lúc lạnh mới lo thì không kịp, ắt bị rét; chưa đói mà không lo thức ăn, đến khi đói mới lo thì đã muộn, ắt bị đói. Suy rộng ra, khi ác chưa lộ mà không tự xét, tự kiềm chế, ác sẽ dần tăng đến mức quá lớn, không thể sửa lại; khi tà chưa thịnh mà không tự phòng ngừa, tà sẽ dần bùng cháy, đến cực điểm thì không thể trị. Đều là đường hung. Buông theo dục vọng, phóng túng, lệch lạc, gian tà và xa xỉ, đó là lý do Đạo Chích cuối cùng vẫn là Đạo Chích. Trở về bản tính và làm sáng nó, luôn răn dè, thận trọng, kính sợ, đó là lý do Bá Di cuối cùng vẫn là Bá Di. Âm dương hàn thử của thiên đạo chuyển dời trong khoảnh khắc; thiện ác tà chính của nhân sự cũng chỉ cách nhau một lần chuyển biến. Sáu hào quẻ Lâm, chỉ hào Ngũ được trung cả cương lẫn nhu, gọi là “trí Lâm”. Có trí thì sáng, có thể xét được manh cơ, nhờ hành động trước thời mà được cát, tránh được cái hung đến sau thời. Đạo khiến nhân sự hướng cát tránh hung không ngoài điều ấy.

Đem quẻ này ví với quốc gia, vua ở Lục Ngũ lâm ngự thiên hạ, lấy vui mà được lòng dân, lấy thuận mà thừa hành theo trời; nắm Càn, hiểu Khôn, cất nhắc người ngay, truất người cong, lâm dân bằng vẻ trang nghiêm, thì tất đại hanh mà được chính. Muốn một người lâm trị thiên hạ thì thế khó; lấy thiên hạ lâm trị thiên hạ thì thế dễ. Vì vậy quân vương không quý việc tự mình trị riêng, mà quý được người cùng cai trị. Xưa Thuấn có năm bề tôi, Vũ có mười bề tôi, đều là như vậy. Vua Lục Ngũ của quẻ này giao việc cho Cửu Nhị, khiến cương nhu bổ trợ nhau, trong vui ngoài thuận, xét biến hóa của thiên thời, cân nhắc điều thích đáng của nhân sự. Ở chính để “thể nguyên”, dùng “gia hội” làm dày “hanh”, dùng lợi để làm giàu cho dân, lấy “trinh cố” để “làm việc”. Đạo ấy đủ giáo hóa anh tài trong thiên hạ, đức ấy đủ dung chứa và bảo hộ con cháu cùng lê dân. Lấy đó lâm trị một nước thì một nước trị, lâm trị thiên hạ thì thiên hạ thái bình. Nhưng quân tử không dám tự cho rằng mình đã làm nên trị bình; vì biết trị khó loạn dễ, nên phòng loạn từ khi chưa loạn; biết thái cực thì bĩ đến, nên lo bĩ trước khi bĩ đến. Người xưa cảm thấy lông chim dựng lên thì sửa sang, chằng buộc cửa sổ cửa nhà; nghe trâu thở gấp thì điều hòa âm dương, đều vì có mối lo sâu xa. Sáu hào quẻ Lâm không một hào nào nói hung, cũng vì biết nghĩ đến họa và phòng ngừa trước. Trong sáu hào, Ngũ ở ngôi tôn, có thể gọi là thánh quân thông minh sáng suốt, đủ sức lâm trị; Nhị có thể gọi là đại thần cùng có một đức; Sơ hành động bằng chính; Tứ ở rất gần và đắc vị; Thượng đôn hậu, cuối cùng được cát. Tam tuy không trung, may nhờ biết lo nên không lỗi. Một người đứng về dương, các bậc hiền tài tụ họp, vua sáng tôi hiền, được lâu dài an ổn và trị vì bền vững, há chẳng tốt đẹp sao!

Dương lịch được dùng vì hiện nay giao thiệp với nước ngoài rất thường xuyên, nên người ta theo đó mà dùng. Tuy nhiên, xét về số tháng, nó dường như không hoàn toàn khớp với sự tròn khuyết của mặt trăng. Dẫu vậy, các nước Âu Mỹ xưa kia cũng từng dùng âm lịch, nên ngày nay vẫn chia một năm dương lịch thành mười hai phần và cùng gọi là tháng. Vì thế, trong lời đoán, nói đến mấy tháng thì nhất định phải căn cứ âm lịch. Kinh Dịch lấy đông chí làm đầu tháng giêng, nên đầu cuối một năm không khác dương lịch quá lớn; vì vậy không cần kèm thêm phần giải thích về tháng.

Xem toàn quẻ, đây là thời minh chủ ở trên, thiên hạ vô cùng vui vẻ. Thế đất thấp mà thuận ở dưới; nước đầm thấm dần lên mà vui ở trên. Nước và đất vốn gần gũi nhau, cũng như người chủ bình dị gần dân, dân đều vui vẻ mà phụ thuộc bề trên. Đó là lý do Lâm có nghĩa là lâm đến. Sơ Cửu và Cửu Nhị đều gọi là “Hàm Lâm”, là tượng nước đầm từ núi chảy xuống. Ở Sơ Cửu, đầm chưa đầy nên nói “hành”; ở Cửu Nhị, nước đầm đã đầy nên nói “không gì bất lợi”. Ở Lục Tam, nước đã đến bờ nên gọi là “Cam Lâm”; ở Lục Tứ, đất tiếp với nước nên nói “Chí Lâm”; ở Lục Ngũ, đất và đầm ứng hợp chính đáng, có tượng người trí vui với nước, nên gọi là “Trí Lâm”; ở Thượng Lục, đất càng dày, đầm càng sâu, nên gọi là “Đôn Lâm”. “Hàm” là sự nhanh chóng của việc lâm; “cam” là cái hại của việc lâm; “chí” là sự chân thành của việc lâm; “trí” là sự sáng rõ của việc lâm; “đôn” là sự lâu bền của việc lâm. “Hàm Lâm” cho thấy đức có sức cảm hóa; “Cam Lâm” cho thấy tính quá nhu; “Chí Lâm” cho thấy vị trí đắc đáng; “Trí Lâm” cho thấy đạo có thể sáng tỏ; “Đôn Lâm” cho thấy chí hướng đốc hậu. Vua Lục Ngũ không tự mình lâm trị mà biết dùng người, nên được gọi là “Trí Lâm”. Dùng cái “hàm”, cái “chí”, cái “đôn” thì đạo quân tử lớn lên; bỏ một cái “cam” thì đạo tiểu nhân tiêu mất. Dương vui mà trưởng, âm thuận mà tiêu; thế là thiên thời chính, nhân sự hòa, trên dưới đồng đức, thiên hạ sáng sủa thái bình. Đây thật là phép tắc tột cùng của việc lâm dân.

Đại Tượng nói: Trên đầm có đất là quẻ Lâm. Quân tử theo đó mà giáo hóa với lòng suy nghĩ không cùng, dung chứa và bảo hộ nhân dân không bờ bến.

Thượng quái là đất, ở trên cao; hạ quái là đầm, ở chỗ thấp. Lấy cái cao mà đối diện với cái thấp, nên gọi là “Lâm”. Đạo đối với người ở dưới không ngoài hai việc: giáo hóa và dưỡng dục. Đầm lấy niềm vui làm nghĩa; dạy dỗ mà khiến người vui lòng thì có thể quy tụ tư tưởng của họ. Đất lấy sự thuận làm nghĩa; nuôi dưỡng mà khiến người thuận theo thì đủ sức dung nạp đông đảo. “Không cùng” là sự lâu dài của đầm; “không bờ cõi” là sự rộng lớn của đất. Đầm cũng tượng cho miệng, nên có thể giáo hóa; đất tượng cho bụng, nên có thể bao dung. Người quân tử lấy tượng đầm trên đất mà lâm dân, đạo giáo hóa nằm ở việc bồi dưỡng người tài, lòng bảo hộ chân thành như vỗ về trẻ đỏ. Ân trạch phổ cập muôn loài, độ lượng bao trùm một đời, ấy là chính trị theo đạo Lâm vậy.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Việc đang làm hiện nay giống như dòng nước sống trong đầm, tự do lưu hành; vận may đang lên.


○ Hỏi thương nghiệp: Đầm tượng cho hàng hóa, đất tượng cho nơi vận chuyển buôn bán. Quẻ này báo lợi nhuận dồi dào, lại còn lan xa. Đại cát.

○ Hỏi gia trạch: Nhà này ắt gần vùng sông nước, gia nghiệp đang hưng vượng, tiền tài và con cháu đều thịnh. Đại cát.

○ Hỏi chiến tranh: Trận thế nên đặt gần nước; không chỉ nhất thời giành thắng lợi mà còn có tượng muôn dân quy phục.

○ Hỏi bệnh tật: Tính mạng có thể bảo toàn, nhưng bệnh ắt kéo dài, nhất thời khó khỏi.

○ Hỏi kiện tụng: E rằng lâu ngày vẫn chưa giải quyết xong.

○ Hỏi hôn nhân: Hai họ hòa hợp, năm đời hưng thịnh. Đại cát.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

○ Hỏi người đi xa: Nhất thời chưa về.

○ Hỏi đồ thất lạc: Tìm ở nơi bờ sông, chắc có thể lấy lại.

Sơ Cửu: Cùng lâm; giữ chính thì tốt lành.

Sơ Cửu: Cùng lâm; giữ chính thì tốt lành.

Tượng truyện nói: “Cùng lâm, giữ chính thì tốt lành” là vì chí hướng được thực hành ngay chính.

Quẻ mà khí của núi và đầm thông với nhau gọi là “Hàm”. Trong quẻ này, đất ở trên đầm, khí âm dương cảm ứng lẫn nhau, nên hào Sơ và hào Nhị đều nói “hàm lâm”. Hào Sơ ở đầu quẻ, dương khí còn yếu, ứng với hào Tứ. Hào Tứ mềm thuận mà ở đúng vị; hào Sơ cứng cáp mà đắc chí. Mỗi hào đều hành động đúng theo vị của mình, nhờ đó có thể ứng hợp rồi tiến lên hào Ngũ, cùng nhau thực hiện đạo của mình để trợ giúp nền trị đạo “trí lâm” của bậc đại quân. Vì vậy nói “giữ chính thì tốt lành”. Tượng truyện nói “chí hướng được thực hành ngay chính”, vì hào Sơ ở đúng vị, nên mọi điều chí hướng thực hiện đều chính đáng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận mới vừa bắt đầu. Có thể giữ chính thì làm gì cũng không bất lợi.


○ Hỏi thương nghiệp: Hàng mới vừa ra, giá thị trường công bằng, hoàn toàn có thể vận chuyển buôn bán, không gì trái ý. Cát.

○ Hỏi gia trạch: Ắt là gia đình trung hậu, chính trực; hiện có việc lành đến cửa. Đại lợi.

○ Hỏi chiến tranh: Lần đầu ra trận, nên tiến quân theo đường lớn. Cát.

○ Hỏi bệnh tật: Bệnh mới phát, chính khí đầy đủ, có thể khỏi ngay.

○ Hỏi hôn nhân: Môn đăng hộ đối, phẩm hạnh đoan chính, là lương duyên.

○ Hỏi kiện tụng: Hễ đưa ra xét xử thì có thể kết thúc.

○ Hỏi lục giáp: Sinh con trai, lúc lâm bồn có tin mừng.

【Thí dụ】Một người bạn đến xin bói vận khí, được quẻ Lâm biến sang quẻ Sư.

Tôi đoán rằng: Quẻ này dưới đất có đầm; đầm là nơi nước dừng chứa. Đầm được đất thì chảy, đất nhận đầm thì được nhuần, đôi bên cùng lâm, nên quẻ gọi là Lâm. Nay ông được hào Sơ của quẻ Lâm. Sơ ứng với Tứ; Tứ gần ngôi tôn, có tượng quý hiển. Nhưng Tứ tuy quý hiển mà âm nhu ở âm vị, thế lực vẫn còn thiếu. Ông là hào Sơ, dương ở dương vị; tuy có tài trí nhưng không có địa vị, chưa thể thi hành chí hướng. Hào từ nói “hàm lâm”; “hàm” là cảm ứng. Nay ở hào Sơ, tức mới gặp lần đầu; tuy hợp ý hợp khí nhưng chưa thể mong việc tiến triển nhanh. Hẳn phải đợi đến “hàm lâm” của hào Nhị thì không gì bất lợi. Chắc là vào năm sau.

Người ấy kính phục rồi ra về.

Cửu Nhị: Cùng lâm; cát, không gì bất lợi.

Cửu Nhị: Cùng lâm; cát, không gì bất lợi.

Tượng truyện nói: “Lâm thành, cát, không gì bất lợi” là vì chưa thuận theo mệnh lệnh.

Hào này là chủ của quẻ thành. Có tài cương trung, ứng với vị quân chủ nhu trung ở hào Ngũ, âm dương tương ứng. Tuy ở ngôi đại thần nhưng ngày nhận chức còn nông, khó bảo đảm không bị các hào âm ganh ghét. Vì vậy nếu trực tiếp lâm xuống ắt có lỗi; nên chờ quân trưởng ở trên cảm nhận tài đức của mình rồi mới lâm, khi ấy mới được cát. Hào này nói “cát, không gì bất lợi”, là lời khen đặc biệt trong sáu hào: hào Sơ cảm ứng nhờ chính, hào Nhị cảm ứng nhờ trung. Tượng truyện nói “chưa thuận mệnh”, nghĩa là hào này ở hạ thể, không đắc vị, nên kẻ tiểu nhân chưa hoàn toàn theo mệnh lệnh của nó.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Hiện nay vận đang tốt, lại được quý nhân chiếu cố. Đại cát.


○ Hỏi thương nghiệp: Lần đầu đã được cát, lần thứ hai càng lợi hơn.

○ Hỏi gia trạch: Có tượng phúc tinh soi chiếu, trước sau đều cát.

○ Hỏi chiến tranh: Tiếp tục dốc sức thì đi đâu cũng cát, nhưng phải đề phòng trong hàng phó tướng có kẻ không tuân lệnh khiến hỏng việc.

○ Hỏi hôn nhân: Đều lợi, riêng người tuổi Mùi là tốt nhất.

○ Hỏi kiện tụng: Tuy không đến nỗi thất bại, nhưng nhất thời chưa được thuận theo.

○ Hỏi lục giáp: Sinh con trai, nhưng chưa đến lúc sinh.

○ Hỏi người đi xa: Người ở ngoài chưa định được ngày về.

【Thí dụ】Một người bạn đến xin bói vận khí của một vị quý hiển, được quẻ Lâm biến sang quẻ Phục.

Tôi đoán rằng: Quẻ này hai hào dương ở dưới đang tiến trưởng, bốn hào âm ở trên đang suy vi. Dương là quân tử, âm là tiểu nhân. Quân tử ở ngôi thì quốc gia yên ổn, muôn dân được phúc; đó là cái thiện của việc lâm dân. Nay được hào này, lấy Cửu Nhị tượng cho bậc quý hiển, ứng với ngôi quân chủ của Lục Ngũ, gọi là “hàm lâm, cát, không gì bất lợi”. Có thể biết vận khí năm nay của vị quý hiển ấy đại cát.

【Thí dụ】Năm Minh Trị thứ 27, bạn tôi là ông Kanehara Meizen đến thăm và nói: “Quê tôi, nơi tôi sinh trưởng, ở gần Hamamatsu thuộc Enshu; nghề của tôi là gây trồng rừng. Gần đây tôi kinh doanh ngân hàng ở Tokyo nên không thể cùng lúc lo liệu việc cũ ở quê. Cháu gái tôi nay đã đến tuổi lấy chồng, muốn tìm cho cháu một người phối ngẫu để nối dõi gia đình, phụng sự mẹ già, rồi cùng vợ tôi trở về quê. Xin bói xem việc ấy lành dữ thế nào.” Gieo được quẻ Lâm biến sang quẻ Phục.

Tôi đoán rằng: Quẻ Lâm có nội quái Đoài, ngoại quái Khôn. Khôn tượng cho mẹ già, Đoài tượng cho con gái nhỏ. Đoài còn tượng vui, Khôn tượng thuận, nên là tượng mẹ già yêu thương vui lòng với thiếu nữ, thiếu nữ thuận theo mẹ già. Nay được hào Nhị, hào từ nói “hàm lâm, cát”. Hào Nhị ứng với hào Ngũ; Nhị là dương ở nhu vị, Ngũ là âm ở cương vị, đúng hợp với tượng rể. Hào từ nói “cát, không gì bất lợi”, nên nhanh chóng hoàn tất hôn nhân. Nếu để lỡ thời hạn, hào Tam và Tứ đều bất lợi. Hai năm tới chưa thể thành hôn; nhất định năm nay là tốt. Ông Kanehara cảm tạ rồi ra về.

Lục Tam: Lâm bằng lời ngon ngọt thì không gì lợi. Đã lo về điều ấy thì không lỗi.

Lục Tam: Lâm bằng lời ngon ngọt thì không gì lợi. Đã lo về điều ấy thì không lỗi.

Tượng truyện nói: “Lâm bằng lời ngon ngọt” là vì vị không thích đáng. “Đã lo về điều ấy” thì lỗi không kéo dài.

“Ngọt” là vị được người ta ưa thích nhất trong năm vị, mang nghĩa vui sướng. “Cam lâm” nghĩa là không thể dùng đức mà lâm với người, lại dùng lời ngon ngọt để nịnh hót, tất không có lòng thành thực. Hào Tam gần hào Nhị, thấy Nhị chưa thuận mệnh mình nên muốn dùng lời khéo để cầu tiến. Rốt cuộc, lời tuy ngọt mà vị không đúng, thì có lợi gì? Nếu đã biết lỗi mà “lo về điều ấy”, trở tà về chính, bỏ ác theo thiện, thì cái đúng hôm nay cũng đủ bù đắp cái sai hôm trước, nhờ đó tránh được lỗi. Đó là ý “đã lo về điều ấy thì không lỗi”. Tượng truyện nói “vị không thích đáng” vì âm ở dương vị, không được chính vị; “lỗi không kéo dài” vì may mà lo sợ hối cải kịp thời, nên lỗi chưa đến mức kéo dài.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận đã không tốt, hành động cũng không chính. May mà biết hối cải, vận về sau còn đángหวัง.


○ Hỏi thương nghiệp: Nền cửa hàng không được đúng vị; chỉ kinh doanh đường là tốt.

○ Hỏi gia trạch: Vận nhà không tốt, nên dời đi thì cát.

○ Hỏi chiến tranh: Vị trí đóng quân không thích đáng; dời doanh thì cát.

○ Hỏi bệnh tật: Thuốc không đúng bệnh, nên dùng phương thuốc đắng cay thì không lỗi.

○ Hỏi hôn nhân: Không hợp.

○ Hỏi người đi xa: Ở ngoài không được lợi, gần đây có thể về.

○ Hỏi đồ thất lạc: Có thể tìm lại được.

○ Hỏi lục giáp: Sinh con gái, e khó nuôi lớn.

【Thí dụ】Năm Minh Trị thứ 5, một người bạn đến xin bói vận khí của một thương nhân, được quẻ Lâm biến sang quẻ Thái.

Tôi đoán rằng: Quẻ này trên đất có đầm. Khôn là quẻ Đất, sinh dưỡng muôn vật nên tượng cho mẹ; Đoài là quẻ Đầm, đến lần thỉnh cầu thứ ba thì được con gái nên tượng cho thiếu nữ. Đây là ý mẹ và con gái cùng lâm. Hào Tam của quẻ Lâm nói “cam lâm”: âm ở dương vị, không trung không chính, đúng như thiếu nữ dựa vào sự sủng ái, dùng lời ngon ngọt lấy lòng mẹ, mong chuyên quyền gia chính. Nay thương nhân ấy được hào này, biết rằng bản tính vốn hiểm độc, “chỉ dùng mưu mẹo để cầu lợi, một khi đắc chí thì tự mãn, hành xử như đàn bà con trẻ; có lợi gì đâu? Nếu có thể sửa đổi thì vẫn còn tránh được lỗi.”

Bạn tôi nói: “Tôi rất khâm phục sự huyền diệu của lý Dịch. Thương nhân ấy trước đây từng mua mấy khoảnh đầm lầy ở Tân Điền Yoshida, Yokohama, với giá mười sen một phản. Sau đó, vì một phú thương cần dùng làm vật thế chấp cho khoản tiền gửi tại một tỉnh nọ, ông ta mua lại với giá một yên một phản để làm thế chấp. Nhờ vậy thương nhân kia nhất thời thu món lợi kếch xù hơn một vạn yên; từ đó sinh kiêu mạn, khinh rẻ mọi người, dáng vẻ đúng như người mắc chứng cuồng loạn. Tôi sẽ nói tường tận với bạn về sự kỳ diệu của việc dự đoán bằng Dịch, để bạn truyền lại cho thương nhân ấy.”

Lục Tứ: Lâm chí thành; không lỗi.

Lục Tứ: Lâm chí thành; không lỗi.

Tượng truyện nói: “Lâm chí thành, không lỗi” là vì vị trí thích đáng.

Hào này ở gần ngôi chí tôn. Tài và chí đều yếu, nhưng nhờ tư chất nhu thuận mà ở địa vị quý hiển của bậc đại thần; có thể phần nào quên thế lực, địa vị, ứng với sự cương chính của Cửu Sơ ở dưới. Tôn người hiền, trọng đức, tình ý thành khẩn đến cùng, nên nói “chí lâm”. Đại thần có lòng thành thích điều thiện, không có ý kiêu căng tự mãn; lấy lòng chí thành cảm ứng với người hiền Cửu Sơ. Người hiền ấy cũng cảm ứng mà vui lòng quy phục, cùng nhau mưu tính việc nước, nên không lỗi. Cát lợi đối với việc lâm chính không gì lớn hơn thế. Tượng truyện nói “vị trí thích đáng”, nghĩa là có đức nhu thuận mà chính đáng.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận tốt đã đến, mọi việc đều đúng lúc đúng chỗ, chỉ cát không hung.


○ Hỏi thương nghiệp: Hiện đúng thời vận chuyển buôn bán, đi đâu làm gì cũng không bất lợi.

○ Hỏi gia trạch: Vị trí nhà đắc đáng, gia nghiệp hưng long, không lỗi.

○ Hỏi chiến tranh: Thời cơ đã đến, chính lúc có thể lâm địch mà giành thắng lợi.

○ Hỏi bệnh tật: Tuy đã nguy kịch, vẫn còn có thể không đến nỗi.

○ Hỏi hôn nhân: Hai bên vui hòa, môn hộ cũng tương xứng.

○ Hỏi người đi xa: Sắp đến ngay.

○ Hỏi đồ bị mất: Sẽ tìm được ngay.

【Thí dụ】Một người bạn đến xin bói vận khí của một vị quý hiển, được quẻ Lâm biến sang quẻ Quy muội.

Tôi đoán rằng: Quẻ này nội quái Đoài tượng cho miệng, ngoại quái Khôn tượng cho quần chúng; đó là cúi xuống lắng nghe dư luận, cân nhắc lòng dân, rồi ra xử lý công việc, nên đặt tên là Lâm. Hào Tứ có đức nhu thuận mà chính, ứng với sự cương chính của Cửu Sơ ở dưới. Quên thế lực và địa vị, hậu đãi người hiền bằng lễ, có thể gọi là chí thành, nên nói “chí lâm, không lỗi”. Nếu vị quý hiển ấy thể hội được ý này thì sẽ không lỗi.

Lục Ngũ: Trí lâm; điều thích hợp với đại quân. Cát.

Lục Ngũ: Trí [84] lâm; điều thích hợp với đại quân. Cát.

Tượng truyện nói: “Điều thích hợp với đại quân” nghĩa là hành xử theo trung đạo.

“Tri” là trí; “trí lâm” là biết người và khéo dùng người. Lấy thân một người mà lâm với sự rộng lớn của thiên hạ, tự cậy trí mình, thì vừa đủ thành bất trí. Chỉ khi thu lấy cái thiện của thiên hạ, giao phó việc thiên hạ cho người trong thiên hạ, mới “trí bao quát muôn vật, đạo cứu giúp thiên hạ”; đó là nền trị đạo chí cao của việc kính cẩn tu thân và không cưỡng làm. Hào này có đức nhu trung, ở ngôi chí tôn, ứng với Cửu Nhị bên dưới, biết người ấy hiền mà giao việc cho. Đó là “thông minh sáng suốt, đủ sức lâm trị”. Hào này đạt được điều ấy, nên nói “điều thích hợp với đại quân”. Thuấn được gọi là bậc đại trí vì hợp trí của thiên hạ làm trí mình; câu “Thuấn thích hỏi và xét lời gần gũi” cũng cùng ý đó. Tượng truyện nói “nghĩa là hành xử theo trung đạo”: hào Ngũ có đức nhu trung, nương nhờ người hiền cương trung để thành công trong trí lâm. Hành theo trung đạo chính là không thiên lệch.

  【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Nay vận gặp thời, lại được người tốt giúp sức, việc gì cũng nên thành. Cát.


○ Hỏi thương nghiệp: Biết đường đi lối lại, thông hiểu tình hình buôn bán thì tự nhiên có lợi. Cát.

○ Hỏi gia trạch: Có điềm ngũ phúc đến cửa. Cát.

○ Hỏi chiến tranh: Có được lòng quân thì biết mình biết người, đánh trận nào cũng thắng.

○ Hỏi bệnh tật: Gặp được lương y hiểu rõ nguyên nhân bệnh, chữa trị thì tự nhiên khỏi.

○ Hỏi hôn nhân: Hợp đạo gia đình, hợp làm vợ chồng. Đại cát.

○ Hỏi đồ thất lạc: Có người nhặt được, sau này tự biết.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai, chủ về quý hiển.

○ Hỏi người đi xa: Còn ở giữa đường, vài hôm nữa sẽ về.

【Thí dụ】Năm Minh Trị thứ 22, bói vận khí của một vị quý hiển, được quẻ Lâm biến sang quẻ Tiết.

Lời đoán: Hào này ở ngôi thứ năm, là ngôi của đại quân. Lời hào “Trí lâm” mang tượng của bậc đại quân, không thích hợp với bề tôi. Nay có một vị quý hiển gieo được hào này. Hào năm và hào hai ứng nhau: hào năm là quân, hào hai là thần. Vì vậy nên lấy hào hai làm tượng cho vị quý hiển ấy. “Trí lâm” là đại quân; người được đại quân biết đến chính là vị quý hiển ấy. Đã nhận được sự biết dùng của đại quân mà đứng ra trị chính, thì mọi chính sách tốt đẹp đều nên quy về quân chủ. Vì vậy nói: “Trí lâm, điều thích hợp với đại quân, tốt lành.” Tuy nhiên, ngôi càng cao thì trách nhiệm càng nặng, lại thường là nơi tập trung sự ghen ghét của thiên hạ. Điều thích hợp với quân chủ nhiều khi lại trở thành không thích hợp với bề tôi; đó cũng là cơ vận tiêu trưởng của âm dương. Cả sáu hào quẻ Lâm đều không có tượng hung. Chỉ Tượng truyện nói: “Đến tháng tám thì có điều dữ.” Bậc thánh nhân căn cứ vào quẻ tốt này mà đột nhiên nêu rõ tai họa: ngay lúc thịnh bắt đầu thì suy đã ẩn phục; phúc vừa đến thì họa liền theo sau. Nghĩa là cái tốt hôm nay cần được phòng ngừa để khỏi biến thành cái dữ về sau.

Cơ vận của Kinh Dịch cực kỳ vi tế, không dễ dò lường. Mười tháng sau, vị quý hiển ấy quả nhiên bị một tai họa hung bạo làm bị thương; sự việc không ứng vào số tháng tám của quẻ Quan, mà kéo dài đến số tháng mười của quẻ Độn. Dù người bói không thể biết chính xác thời số, nhưng đạo lý cát hung rốt cuộc không ra ngoài vòng tuần hoàn tiêu trưởng. Người đời sau cần lưu ý điều này.

【Ví dụ】Ngày mười hai tháng năm, năm Minh Trị thứ ba mươi, tôi đến thăm ông Yokoyama Magoichiro tại phố Yamashita, Tokyo; ông Amemiya Keijiro và ông Ono Kinroku cũng có mặt. Tôi nói với họ: Từ năm ngoái, chúng tôi đã hết sức đứng ra môi giới để thương hội Smith của Anh mua công trái nước ta. Nhưng giá cả không phù hợp, khiến chúng tôi khổ tâm đã lâu. Xin gieo quẻ xem khế ước mua bán này có thành hay không. Gieo được quẻ Lâm biến sang quẻ Tiết.

Lời đoán: Lâm nghĩa là đôi bên cùng đến gần nhau. Quẻ này có tượng con gái út của Đoài và người mẹ già của Khôn cùng thuận theo, cùng vui vẻ với nhau; việc mua bán công trái cũng như vậy. Ta đã chiến thắng và nhận được tiền bồi thường, muốn nhân đó mở rộng quân bị, phô bày uy tín với các nước, củng cố nền tảng quốc gia; vì thế bán công trái để bù phần thiếu hụt. Thương hội kia cũng sẽ bán lại cho các thương nhân trong nước họ với lãi suất thấp để thu lợi. Hai bên cùng mưu cầu lợi ích, giống như mẹ già và con gái út thân ái vui vẻ mà thành việc. Nay gieo được hào này, biết rằng mong muốn có thể thực hiện, việc ắt thành, không cần lo nghĩ thêm.

Ngày hôm sau quả nhiên có tin báo rằng khế ước mua bán công trái trị giá bốn mươi triệu yên đã được ký kết.

Hào Thượng lục: Đôn lâm, tốt lành, không lỗi.

Hào Thượng lục: Đôn 85 lâm, tốt lành, không lỗi.

Tượng truyện nói: Cái tốt lành của Đôn lâm là vì chí hướng ở bên trong.

“Đôn” nghĩa là đốc hậu, dày dặn. Trong quẻ này, hào Lục ở vị trí năm đã ứng với hào Cửu ở vị trí hai, hào Thượng Lục lại thuận theo mà thêm sức hỗ trợ, nên gọi là “Đôn lâm”. Cũng như trong quẻ Phục, hào Lục ở vị trí bốn đã ứng với hào Sơ Cửu, hào Lục ở vị trí năm cũng thuận theo mà thêm sức hỗ trợ, nên gọi là “Đôn phục”; ý nghĩa của hai cách gọi là một. Hào này là chỗ cực điểm của quẻ Khôn, ở cuối quẻ Lâm. Âm nhu ở trên, tuy không phải chính ứng với hào Hai, nhưng chí hướng là thuận theo Dương; hạ mình tôn quý để theo kẻ thấp hèn, hạ từ chỗ cao xuống nơi thấp, giữ lễ ý đôn hậu chân thành. Đây là người khéo giữ đạo Lâm đến cuối cùng, vì thế nói: “Đôn lâm, tốt lành, không lỗi.” Phàm trong một quẻ, hào Thượng là chỗ cực điểm; vượt quá cực điểm thường có điềm nguy hiểm. Nhưng hào này nói “Đôn lâm”, mang ý “yên ổn nơi chốn của mình, làm cho lòng nhân thêm đôn hậu”, nên không phải lo vượt quá cực điểm. Vì vậy tốt lành mà không lỗi. Tượng truyện nói: “Chí ở bên trong.” “Bên trong” chỉ hai hào Dương của nội quái. Tuy không có ứng với nội quái, chí của hào Thượng Lục chỉ đặt ở bên trong, nên nói “chí ở bên trong”. Có thể đối chiếu với Tượng truyện của hào Sơ Cửu trong quẻ Thái, nói rằng “chí ở bên ngoài”.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về thời vận: Vận tốt hiện nay đã kết thúc, chỉ nhờ giữ lòng trung hậu nên mới không mắc lỗi.


○ Hỏi về thương nghiệp: Buôn bán trong nội địa thì tốt lành.

○ Hỏi về gia trạch: Gia đình nhiều đời trung hậu, trong ngoài đều nghiêm túc hòa mục, tốt lành.’

○ Hỏi về chinh chiến: Nên tăng quân, thêm lương bổng; lấy việc bảo vệ nội địa làm trọng.

○ Hỏi về bệnh tật: Bồi dưỡng nguyên khí, không dùng thuốc cũng có điều đáng mừng.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

○ Hỏi về đồ thất lạc: Vẫn ở trong nhà, thật ra chưa từng mất.

○ Hỏi về người đi xa: Hôm nay có thể trở về.

【Ví dụ】Một người bạn họ mỗ đến xin gieo quẻ về việc mưu tính, được quẻ Lâm biến sang quẻ Tổn.

Lời đoán: Hào này là cực điểm của Lâm, công nghiệp đã hoàn tất, không còn mưu đồ nào khác. “Đôn lâm” chỉ là thêm phần đốc hậu vào đạo Lâm. Có thể lấy lòng đôn hậu mà đối đãi với người, nên được “tốt lành, không lỗi”. Nay ông gieo được hào này cũng nên hiểu ý ấy: mọi việc đều nên tăng thêm sự đôn hậu, vậy còn mưu tính nào không thành, việc gì không nên công? Sự suy nghĩ sâu sắc của ông có thể thấy rõ qua tượng của Kinh Dịch.

Ông họ mỗ nói: “Kinh Thi có câu: ‘Người khác có lòng, ta suy đoán được lòng ấy’, quả thật là nói về tiên sinh.” Ông cảm tạ sâu sắc rồi cáo từ ra về.