☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 29 Khảm là nước, Khảm trùng điệp: Có lòng thành thì riêng trong tâm được hanh thông. Hành động sẽ được tôn trọng.
䷜
Khảm là nước, Khảm trùng điệp: Có lòng thành thì riêng trong tâm được hanh thông. Hành động sẽ được tôn trọng.
29 Khảm là nước
Quẻ Khảm tiếp từ quẻ Đại Quá. Tự quái truyện nói: “Vạn vật không thể mãi mãi ở trong trạng thái quá, nên tiếp theo là Khảm.” Chữ Khảm gồm bộ thổ và chữ khiếm; khiếm nghĩa là thiếu. Vì bổ sung sự thiếu hụt của Đại Quá nên sau đó là Khảm. Thể quẻ gồm một hào lẻ và hai hào chẵn: hai hào chẵn là đất của Khôn, một hào lẻ là trời của Càn. Trời Càn ẩn trong đất Khôn, nguyên khí đầy tràn, hóa hơi ẩm mà sinh nước. Đó là “Thiên nhất sinh thủy”, cũng là lý do Khảm tượng nước.
Khảm trùng điệp[135]: Có lòng thành thì trong tâm được hanh thông. Hành động sẽ được tôn trọng.
▲ Triện thư của Khảm
Thể quẻ là Khảm trên, Khảm dưới, nên cả trên lẫn dưới đều là nước. Tám quẻ thuần đều có trên dưới hợp thành một thể, riêng Khảm thêm chữ “tập”. “Tập” có hai nghĩa: một là quen luyện, như câu “học rồi thường xuyên thực hành”; vì hiểm Khảm khó vượt, phải thành thạo và từng trải mới có thể vượt qua. Hai là lặp lại, vì trên dưới đều là Khảm, lấy nghĩa chồng điệp. Một nét ở giữa Khảm chính là dương của Càn. Dương Càn cứng chính, chân thật và ở giữa, nên nói “có lòng thành”. Một dương ở giữa là tâm; nguyên dương khai thông nên “tâm được hanh thông”. “Tâm hanh thông” cũng bắt nguồn từ “nguyên hanh” của Càn. Theo đó mà đi qua hiểm nguy thì có lòng thành, có thể đạt đến đích, hanh thông không gì ngăn trở; vì vậy nói “hành động sẽ được tôn trọng”.
Thoán truyện nói: Khảm trùng điệp là hiểm nguy chồng chất. Nước chảy mà không đầy; đi trong hiểm nguy mà không đánh mất lòng tin. “Tâm được hanh thông” là vì sự cứng mạnh ở giữa. “Hành động sẽ được tôn trọng” là vì tiến lên thì có công. Hiểm của trời không thể leo lên; hiểm của đất là núi sông, gò đồi. Vua chúa đặt ra chỗ hiểm để giữ nước. Công dụng của hiểm đúng lúc thật lớn lao biết bao!
“Khảm lặp lại”: “tập” nghĩa là chồng lặp, “Khảm” nghĩa là hiểm nguy. Vì không chỉ là một lần hiểm nguy mà là hiểm nguy chồng chất, nên gọi là “trùng hiểm”. Chữ “tập” được cấu tạo từ bộ vũ và chữ bạch; chú giải nói đó là chim bay nhiều lần. Chim thường xuyên bay lượn có thể tránh được nguy hiểm của lưới bẫy. Vì thế quẻ Khảm nói “Khảm lặp lại”, cũng lấy ý có thể tránh hiểm nguy. Khảm tượng trưng cho nước. Nước chảy không ngừng, theo dòng mà tiến, nhưng chưa từng thấy đầy tràn. Nước đầy vơi theo trăng; thủy triều buổi sớm, sóng buổi chiều, lên xuống đều có quy luật, chưa từng lỡ thời. Hào hai và hào năm, xét theo thể quẻ Càn, đều đầy thực ở bên trong. “Giữa” là lòng; chỉ khi lòng đầy thực mới có “tín”, cũng chỉ khi lòng đầy thực mới có thể hanh thông. Sở dĩ lòng được hanh thông là vì có tính cương ở bên trong. Giữa có cương thì lòng yên, lòng yên thì tinh thần hưng vượng, tinh thần hưng vượng thì thẳng tiến một mạch, đi đến đâu cũng lập được công. Cách hành xử ấy đáng được khen ngợi. Nói chung, việc thiên hạ ở trong thuận cảnh thì dễ, ở nghịch cảnh thì khó. Khổng Tử bàn về lòng nhân bằng cách nghiệm xét nó trong lúc vội vàng, khốn quẫn; Trung Dung bàn về đạo, đẩy đến nơi man di và hoạn nạn. Nơi gian nan hiểm trở, người không có nhận thức vững chắc và sức mạnh vững chắc thì không dám tiến hành. Nếu hấp tấp mà làm, người có công cũng hiếm thay. Đức của tám quẻ đều đẹp và phần nhiều cát lợi, chỉ có Khảm là hiểm và nhiều hung. Ai cũng lấy hiểm làm điều đáng sợ, nhưng Khảm lại lấy hiểm làm công dụng. Trời nhờ hiểm mà thành cao sáng, đất nhờ hiểm mà thành rộng dày, quốc gia nhờ hiểm mà thành cường thịnh. Hiểm quả là hiểm, nhưng công dụng của nó rất lớn. Biết công dụng của hiểm thì có thể biết công dụng của Khảm.
Đem quẻ này suy vào việc người, Thoán truyện nói “trùng hiểm”, cho thấy hiểm nguy không chỉ có một dạng. Phần trên và dưới của quẻ đều rỗng, phần giữa thì đặc; chỗ rỗng đều là nước, chỗ đặc ở giữa là đất; chỗ rỗng là hố sụt, chỗ đặc ở giữa là lòng thành. Lòng thành là gì? Là lấy lòng mà giao cảm với nhau. Người có thể lấy lòng giao cảm thì lòng tự nhiên hanh thông. Người ta nói trung tín có thể vượt qua sóng gió, chính là ý này. Người mới trải qua hiểm nguy thường gặp hiểm liền lùi bước. Thế nhưng thuyền buôn vượt muôn dặm nhiều lần mà không sợ, tiều phu đi bộ qua vực sâu nghìn tầng mà quên nguy. Vì sao? Vì họ đã quen thuộc. Quẻ Khảm thêm chữ “tập” chính là để khuyên người phải thực hành, nghiệm xét nhiều lần mà không được lơ là. Nước khi đi khi đến, không sai kỳ hạn; đó là cái tín của nước. Nước chảy vào mương, vào sông, tự nhiên lưu thông; đó là công của nước. Người ta đều cho nước là âm nhu, không biết nước có đức cương trung. Chính vì cương ở giữa nên mới hanh thông. Nếu người bị câu thúc bởi âm nhu thì tất sẽ quanh co, đình trệ, không thông; làm sao có thể hanh thông? Lại làm sao có thể hành động? Biết cái cương trung, rồi luyện tập để thực hành, thì sẽ xem hiểm như đất bằng, đi đâu cũng có công, thật đáng khen vậy. Xét trời, trời treo cao xa, hiểm của trời không thể trèo lên. Xét đất, núi sâu đầm lớn đều có cái hiểm riêng. Xét quốc gia, những cửa ải thấp và đèo núi hiểm trở đều là nơi nhất định phải tranh. Nói hiểm có thể dùng, nhưng hiểm cũng có lúc không thể dùng; không phải hiểm tự nó không dùng được, mà là phải dùng đúng thời. Vì vậy không nói “công dụng của hiểm rất lớn”, mà nói “công dụng của hiểm đúng thời lớn lao biết bao!”
Đem quẻ này suy vào quốc gia, quẻ Khảm có hai hào dương và bốn hào âm. Hào hai và hào năm là vị trí của vua tôi, nhưng đều hãm trong cái hiểm của hai hào âm. Triều chính rối ren, lòng dân náo động, lại thêm khí hậu trái tiết, lúa mạch không được mùa; đúng lúc thời trời và việc người cùng bế tắc, vì thế thành ra một thời đại đầy hiểm họa của Khảm. Hào đầu của nội quái là lúc bắt đầu của Khảm, tức quốc gia mới gặp hiểm; nếu mất đạo thì sẽ hung. Hào ba là một hiểm chưa yên thì một hiểm khác lại đến, thế nước gần như nguy cấp. Hào hai tuy giữ đức dương cương và ra sức cứu hiểm, nhưng hai Khảm nối tiếp nhau, chìm đắm đã sâu, nên điều đạt được cũng nhỏ. Hào bốn của ngoại quái lấy âm ở ngôi âm, ở vào nơi trùng hiểm nhiều sợ hãi. Hai đồ đựng rượu và đồ đựng thóc tượng trưng cho gánh nặng chồng chất; đó là lúc quốc gia đứng giữa nguy cấp và tồn vong. Thượng lục và hào đầu tương ứng như đầu và đuôi: hào đầu là khởi đầu của hiểm, hào trên là cuối hiểm. Lúc đầu còn có thể nói là mê muội vì chưa từng trải hiểm; đến cuối thì đã quen coi hiểm là thường, không thể dùng lẽ thường mà luận nữa. Cửu ngũ là chủ của quẻ. Dương cương một mình nắm giữ, ứng với cửu nhị. Cửu nhị biết lo nghĩ về tai họa, thức khuya dậy sớm làm tròn chức phận, phò tá vị vua cửu ngũ, dẹp loạn trong thiên hạ, yên định nạn nước. Trên dưới giao cảm tin cậy, đạo trị nước mới hanh thông, tiến hành ắt có công, há có thể để công lao bị vùi lấp sao! Thánh nhân nói về Khảm thì khuyên phải “tập”, nói về hiểm thì cảnh tỉnh bằng chữ “trùng”, nói nước “chảy mà không đầy” để nêu cái sâu, nghiệm lòng thành qua việc hành động có tín. Như vậy hiểm của Khảm mới có thể vượt qua. Đó cũng là đạo khiến người quân tử “thường giữ đức hạnh, tập việc giáo hóa”. Trời cao, đất dày, vương công lập quốc, tất cả đều là công dụng của hiểm. Khảm, Khuê và Kiển đều không phải việc tốt đẹp, nhưng thánh nhân có lúc dùng đến, nên đều ca ngợi rằng “công dụng đúng thời lớn lao biết bao!” Ý này không thể không biết.
Xét toàn quẻ, tiến cũng hiểm, lui cũng hiểm; đó gọi là trùng hiểm, tượng khó khăn chồng thêm khó khăn. Thoán truyện nói về cái khó của quân tử, các hào nói về cái khó của tiểu nhân, qua đó chỉ ra đạo thoát khỏi Khảm. Ở trong hiểm mà làm lay động tâm chí, nhẫn chịu bản tính, đó là Khảm của quân tử; gặp hiểm mà sa sút tiết tháo, mất thân, đó là Khảm của tiểu nhân. Người sống trên đời không ai không gặp Khảm, nhưng muốn phòng hiểm thì cốt phải có đạo riêng. Vì vậy lời Thoán trước hết khuyên bằng chữ “tập”, tiếp đó cảnh tỉnh bằng chữ “phu”, cuối cùng khen bằng chữ “hanh”. Nước nếu chảy thuận thì không có nỗi lo tràn ngập; bị ngăn và đình trệ thì ắt tràn. Người đi trong hiểm, thận trọng sợ hãi mà không đánh mất lòng tin, cuối cùng có thể đạt thành công. Xét tình thế sáu hào, cùng ở trong khó khăn nhưng mỗi hào có cát hung riêng. Sơ lục là lúc mới bước vào hiểm, tập luyện chưa tinh, bèn rơi xuống hố sâu; bên ngoài không có cứu viện, không thể tự cứu, nên hung. Cửu nhị cương trung, cầu tìm thì có được chút ít; ở trong hiểm mà hiểm không còn hoàn toàn là hiểm, trong hiểm đã có hanh. Vì thế nói “chưa ra khỏi trung”. Lục tam có hai Khảm nối liền, vào hiểm đã sâu, âm nhu và không chính vị, chưa thể ra khỏi hiểm, nên “rốt cuộc không có công”. Lục tứ tuy ôm lòng trung trinh nhưng khí lượng hẹp, thiếu tài cứu hiểm, chỉ biết cầu khấn quỷ thần, theo dương của cửu ngũ mà thoát hiểm; vì thế nói “chỗ giao nhau của cương và nhu”. Cửu ngũ dương cương trung chính, ở cao tại ngôi tôn quý, là chủ thể của Khảm. Điều Tượng truyện nói “nước chảy mà không đầy” chỉ hào năm mới đảm đương được. Đức của nước nằm ở sự bình; bình thì hiểm không còn là hiểm, nên nói “không lỗi”. Thượng lục ở cực điểm của Khảm. Khảm còn tượng nhà ngục, nên đây là hình ảnh sa vào hiểm rồi vào ngục. Việc sơ hào mất đạo còn có thể tha, nhưng mất đạo ở cuối thì không thể tha. Phạt ba năm, chờ người ấy hối cải và quay lại, nên ba năm là hung. Đời người giữa thế gian như nước chảy qua chỗ Khảm: không lúc nào không có hiểm nạn, không nơi nào không có khiếm khuyết. Người thường bước đâu cũng biến đường đi thành bụi gai; quân tử đi qua thì ngay cả đường đáng sợ cũng thành đại lộ. Vì sao? Quân tử đã quen luyện, người thường thì xa lạ. Đó là lý do Khảm quý chữ “tập”.
Đại Tượng truyện nói: Nước liên tiếp kéo đến, đó là Khảm lặp lại. Người quân tử noi theo, thường xuyên giữ gìn đức hạnh và thực hành việc giáo hóa.
Khảm là nước. Tính nước vốn rất bình, có thể làm chuẩn mực cho vạn vật; vì vậy Khảm biểu thị sự thông đạt, sự bình ổn và cái tín của sự đầy thực bên trong. “Tấn” nghĩa là nối tiếp, chồng lên nhau. Nói về sấm thì là âm thanh tiếp nối; nói về nước thì là dòng chảy tiếp nối. “Thường” nghĩa là trước sau như một; “tập” nghĩa là lặp đi lặp lại không thôi. Người quân tử noi theo dòng nước liên tục mà ngày ngày làm mới đức của mình, noi theo sự rèn tập của Khảm mà không mỏi mệt trong việc giáo hóa. Đức nhờ thường hằng mà không đổi; giáo hóa nhờ luyện tập mà không ngừng. Ba hào của nội quái thuộc về mình, nên nói về việc tu thân; ba hào của ngoại quái thuộc về người, nên nói về việc dạy người. Tu sửa điều đã thành tựu, khuyến khích điều chưa thành tựu: công cuộc cứu hiểm của người quân tử nằm ở đó.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có xu thế quân địch liên tục xâm kích; nên luôn luôn đề phòng.
○ Hỏi về công danh: Có tượng từng bước thăng tiến.
○ Hỏi về kinh doanh: Tài lộc như nước chảy, dồi dào liên tục, có thể lâu bền và phát triển lớn; vận buôn bán hanh thông.
○ Hỏi về gia trạch: Bên ngoài nhà, về phía bắc, nhất định có chỗ trũng hoặc hố sụt, suối chảy không ngừng. Thời của Khảm ứng với giờ Tý, phía trên gặp các sao Hư và Nguy; sao Nguy chủ việc lợp mái, e rằng nhà hàng xóm đang xây dựng.
○ Hỏi về bệnh tật: Phòng chứng tiêu chảy, đã kéo dài lâu ngày chưa khỏi. Nên cầu nguyện, lấy ý nghĩa “một vò rượu và hai đồ đựng lương thực”.
○ Hỏi về hôn nhân: Ắt là thân càng thêm thân, có tượng họ hàng kết thông gia lặp lại.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
Quẻ Khảm tiếp từ quẻ Đại Quá. Tự quái truyện nói: “Vạn vật không thể mãi mãi ở trong trạng thái quá, nên tiếp theo là Khảm.” Chữ Khảm gồm bộ thổ và chữ khiếm; khiếm nghĩa là thiếu. Vì bổ sung sự thiếu hụt của Đại Quá nên sau đó là Khảm. Thể quẻ gồm một hào lẻ và hai hào chẵn: hai hào chẵn là đất của Khôn, một hào lẻ là trời của Càn. Trời Càn ẩn trong đất Khôn, nguyên khí đầy tràn, hóa hơi ẩm mà sinh nước. Đó là “Thiên nhất sinh thủy”, cũng là lý do Khảm tượng nước.
Khảm trùng điệp[135]: Có lòng thành thì trong tâm được hanh thông. Hành động sẽ được tôn trọng.
▲ Triện thư của Khảm
Thể quẻ là Khảm trên, Khảm dưới, nên cả trên lẫn dưới đều là nước. Tám quẻ thuần đều có trên dưới hợp thành một thể, riêng Khảm thêm chữ “tập”. “Tập” có hai nghĩa: một là quen luyện, như câu “học rồi thường xuyên thực hành”; vì hiểm Khảm khó vượt, phải thành thạo và từng trải mới có thể vượt qua. Hai là lặp lại, vì trên dưới đều là Khảm, lấy nghĩa chồng điệp. Một nét ở giữa Khảm chính là dương của Càn. Dương Càn cứng chính, chân thật và ở giữa, nên nói “có lòng thành”. Một dương ở giữa là tâm; nguyên dương khai thông nên “tâm được hanh thông”. “Tâm hanh thông” cũng bắt nguồn từ “nguyên hanh” của Càn. Theo đó mà đi qua hiểm nguy thì có lòng thành, có thể đạt đến đích, hanh thông không gì ngăn trở; vì vậy nói “hành động sẽ được tôn trọng”.
Thoán truyện nói: Khảm trùng điệp là hiểm nguy chồng chất. Nước chảy mà không đầy; đi trong hiểm nguy mà không đánh mất lòng tin. “Tâm được hanh thông” là vì sự cứng mạnh ở giữa. “Hành động sẽ được tôn trọng” là vì tiến lên thì có công. Hiểm của trời không thể leo lên; hiểm của đất là núi sông, gò đồi. Vua chúa đặt ra chỗ hiểm để giữ nước. Công dụng của hiểm đúng lúc thật lớn lao biết bao!
“Khảm lặp lại”: “tập” nghĩa là chồng lặp, “Khảm” nghĩa là hiểm nguy. Vì không chỉ là một lần hiểm nguy mà là hiểm nguy chồng chất, nên gọi là “trùng hiểm”. Chữ “tập” được cấu tạo từ bộ vũ và chữ bạch; chú giải nói đó là chim bay nhiều lần. Chim thường xuyên bay lượn có thể tránh được nguy hiểm của lưới bẫy. Vì thế quẻ Khảm nói “Khảm lặp lại”, cũng lấy ý có thể tránh hiểm nguy. Khảm tượng trưng cho nước. Nước chảy không ngừng, theo dòng mà tiến, nhưng chưa từng thấy đầy tràn. Nước đầy vơi theo trăng; thủy triều buổi sớm, sóng buổi chiều, lên xuống đều có quy luật, chưa từng lỡ thời. Hào hai và hào năm, xét theo thể quẻ Càn, đều đầy thực ở bên trong. “Giữa” là lòng; chỉ khi lòng đầy thực mới có “tín”, cũng chỉ khi lòng đầy thực mới có thể hanh thông. Sở dĩ lòng được hanh thông là vì có tính cương ở bên trong. Giữa có cương thì lòng yên, lòng yên thì tinh thần hưng vượng, tinh thần hưng vượng thì thẳng tiến một mạch, đi đến đâu cũng lập được công. Cách hành xử ấy đáng được khen ngợi. Nói chung, việc thiên hạ ở trong thuận cảnh thì dễ, ở nghịch cảnh thì khó. Khổng Tử bàn về lòng nhân bằng cách nghiệm xét nó trong lúc vội vàng, khốn quẫn; Trung Dung bàn về đạo, đẩy đến nơi man di và hoạn nạn. Nơi gian nan hiểm trở, người không có nhận thức vững chắc và sức mạnh vững chắc thì không dám tiến hành. Nếu hấp tấp mà làm, người có công cũng hiếm thay. Đức của tám quẻ đều đẹp và phần nhiều cát lợi, chỉ có Khảm là hiểm và nhiều hung. Ai cũng lấy hiểm làm điều đáng sợ, nhưng Khảm lại lấy hiểm làm công dụng. Trời nhờ hiểm mà thành cao sáng, đất nhờ hiểm mà thành rộng dày, quốc gia nhờ hiểm mà thành cường thịnh. Hiểm quả là hiểm, nhưng công dụng của nó rất lớn. Biết công dụng của hiểm thì có thể biết công dụng của Khảm.
Đem quẻ này suy vào việc người, Thoán truyện nói “trùng hiểm”, cho thấy hiểm nguy không chỉ có một dạng. Phần trên và dưới của quẻ đều rỗng, phần giữa thì đặc; chỗ rỗng đều là nước, chỗ đặc ở giữa là đất; chỗ rỗng là hố sụt, chỗ đặc ở giữa là lòng thành. Lòng thành là gì? Là lấy lòng mà giao cảm với nhau. Người có thể lấy lòng giao cảm thì lòng tự nhiên hanh thông. Người ta nói trung tín có thể vượt qua sóng gió, chính là ý này. Người mới trải qua hiểm nguy thường gặp hiểm liền lùi bước. Thế nhưng thuyền buôn vượt muôn dặm nhiều lần mà không sợ, tiều phu đi bộ qua vực sâu nghìn tầng mà quên nguy. Vì sao? Vì họ đã quen thuộc. Quẻ Khảm thêm chữ “tập” chính là để khuyên người phải thực hành, nghiệm xét nhiều lần mà không được lơ là. Nước khi đi khi đến, không sai kỳ hạn; đó là cái tín của nước. Nước chảy vào mương, vào sông, tự nhiên lưu thông; đó là công của nước. Người ta đều cho nước là âm nhu, không biết nước có đức cương trung. Chính vì cương ở giữa nên mới hanh thông. Nếu người bị câu thúc bởi âm nhu thì tất sẽ quanh co, đình trệ, không thông; làm sao có thể hanh thông? Lại làm sao có thể hành động? Biết cái cương trung, rồi luyện tập để thực hành, thì sẽ xem hiểm như đất bằng, đi đâu cũng có công, thật đáng khen vậy. Xét trời, trời treo cao xa, hiểm của trời không thể trèo lên. Xét đất, núi sâu đầm lớn đều có cái hiểm riêng. Xét quốc gia, những cửa ải thấp và đèo núi hiểm trở đều là nơi nhất định phải tranh. Nói hiểm có thể dùng, nhưng hiểm cũng có lúc không thể dùng; không phải hiểm tự nó không dùng được, mà là phải dùng đúng thời. Vì vậy không nói “công dụng của hiểm rất lớn”, mà nói “công dụng của hiểm đúng thời lớn lao biết bao!”
Đem quẻ này suy vào quốc gia, quẻ Khảm có hai hào dương và bốn hào âm. Hào hai và hào năm là vị trí của vua tôi, nhưng đều hãm trong cái hiểm của hai hào âm. Triều chính rối ren, lòng dân náo động, lại thêm khí hậu trái tiết, lúa mạch không được mùa; đúng lúc thời trời và việc người cùng bế tắc, vì thế thành ra một thời đại đầy hiểm họa của Khảm. Hào đầu của nội quái là lúc bắt đầu của Khảm, tức quốc gia mới gặp hiểm; nếu mất đạo thì sẽ hung. Hào ba là một hiểm chưa yên thì một hiểm khác lại đến, thế nước gần như nguy cấp. Hào hai tuy giữ đức dương cương và ra sức cứu hiểm, nhưng hai Khảm nối tiếp nhau, chìm đắm đã sâu, nên điều đạt được cũng nhỏ. Hào bốn của ngoại quái lấy âm ở ngôi âm, ở vào nơi trùng hiểm nhiều sợ hãi. Hai đồ đựng rượu và đồ đựng thóc tượng trưng cho gánh nặng chồng chất; đó là lúc quốc gia đứng giữa nguy cấp và tồn vong. Thượng lục và hào đầu tương ứng như đầu và đuôi: hào đầu là khởi đầu của hiểm, hào trên là cuối hiểm. Lúc đầu còn có thể nói là mê muội vì chưa từng trải hiểm; đến cuối thì đã quen coi hiểm là thường, không thể dùng lẽ thường mà luận nữa. Cửu ngũ là chủ của quẻ. Dương cương một mình nắm giữ, ứng với cửu nhị. Cửu nhị biết lo nghĩ về tai họa, thức khuya dậy sớm làm tròn chức phận, phò tá vị vua cửu ngũ, dẹp loạn trong thiên hạ, yên định nạn nước. Trên dưới giao cảm tin cậy, đạo trị nước mới hanh thông, tiến hành ắt có công, há có thể để công lao bị vùi lấp sao! Thánh nhân nói về Khảm thì khuyên phải “tập”, nói về hiểm thì cảnh tỉnh bằng chữ “trùng”, nói nước “chảy mà không đầy” để nêu cái sâu, nghiệm lòng thành qua việc hành động có tín. Như vậy hiểm của Khảm mới có thể vượt qua. Đó cũng là đạo khiến người quân tử “thường giữ đức hạnh, tập việc giáo hóa”. Trời cao, đất dày, vương công lập quốc, tất cả đều là công dụng của hiểm. Khảm, Khuê và Kiển đều không phải việc tốt đẹp, nhưng thánh nhân có lúc dùng đến, nên đều ca ngợi rằng “công dụng đúng thời lớn lao biết bao!” Ý này không thể không biết.
Xét toàn quẻ, tiến cũng hiểm, lui cũng hiểm; đó gọi là trùng hiểm, tượng khó khăn chồng thêm khó khăn. Thoán truyện nói về cái khó của quân tử, các hào nói về cái khó của tiểu nhân, qua đó chỉ ra đạo thoát khỏi Khảm. Ở trong hiểm mà làm lay động tâm chí, nhẫn chịu bản tính, đó là Khảm của quân tử; gặp hiểm mà sa sút tiết tháo, mất thân, đó là Khảm của tiểu nhân. Người sống trên đời không ai không gặp Khảm, nhưng muốn phòng hiểm thì cốt phải có đạo riêng. Vì vậy lời Thoán trước hết khuyên bằng chữ “tập”, tiếp đó cảnh tỉnh bằng chữ “phu”, cuối cùng khen bằng chữ “hanh”. Nước nếu chảy thuận thì không có nỗi lo tràn ngập; bị ngăn và đình trệ thì ắt tràn. Người đi trong hiểm, thận trọng sợ hãi mà không đánh mất lòng tin, cuối cùng có thể đạt thành công. Xét tình thế sáu hào, cùng ở trong khó khăn nhưng mỗi hào có cát hung riêng. Sơ lục là lúc mới bước vào hiểm, tập luyện chưa tinh, bèn rơi xuống hố sâu; bên ngoài không có cứu viện, không thể tự cứu, nên hung. Cửu nhị cương trung, cầu tìm thì có được chút ít; ở trong hiểm mà hiểm không còn hoàn toàn là hiểm, trong hiểm đã có hanh. Vì thế nói “chưa ra khỏi trung”. Lục tam có hai Khảm nối liền, vào hiểm đã sâu, âm nhu và không chính vị, chưa thể ra khỏi hiểm, nên “rốt cuộc không có công”. Lục tứ tuy ôm lòng trung trinh nhưng khí lượng hẹp, thiếu tài cứu hiểm, chỉ biết cầu khấn quỷ thần, theo dương của cửu ngũ mà thoát hiểm; vì thế nói “chỗ giao nhau của cương và nhu”. Cửu ngũ dương cương trung chính, ở cao tại ngôi tôn quý, là chủ thể của Khảm. Điều Tượng truyện nói “nước chảy mà không đầy” chỉ hào năm mới đảm đương được. Đức của nước nằm ở sự bình; bình thì hiểm không còn là hiểm, nên nói “không lỗi”. Thượng lục ở cực điểm của Khảm. Khảm còn tượng nhà ngục, nên đây là hình ảnh sa vào hiểm rồi vào ngục. Việc sơ hào mất đạo còn có thể tha, nhưng mất đạo ở cuối thì không thể tha. Phạt ba năm, chờ người ấy hối cải và quay lại, nên ba năm là hung. Đời người giữa thế gian như nước chảy qua chỗ Khảm: không lúc nào không có hiểm nạn, không nơi nào không có khiếm khuyết. Người thường bước đâu cũng biến đường đi thành bụi gai; quân tử đi qua thì ngay cả đường đáng sợ cũng thành đại lộ. Vì sao? Quân tử đã quen luyện, người thường thì xa lạ. Đó là lý do Khảm quý chữ “tập”.
Đại Tượng truyện nói: Nước liên tiếp kéo đến, đó là Khảm lặp lại. Người quân tử noi theo, thường xuyên giữ gìn đức hạnh và thực hành việc giáo hóa.
Khảm là nước. Tính nước vốn rất bình, có thể làm chuẩn mực cho vạn vật; vì vậy Khảm biểu thị sự thông đạt, sự bình ổn và cái tín của sự đầy thực bên trong. “Tấn” nghĩa là nối tiếp, chồng lên nhau. Nói về sấm thì là âm thanh tiếp nối; nói về nước thì là dòng chảy tiếp nối. “Thường” nghĩa là trước sau như một; “tập” nghĩa là lặp đi lặp lại không thôi. Người quân tử noi theo dòng nước liên tục mà ngày ngày làm mới đức của mình, noi theo sự rèn tập của Khảm mà không mỏi mệt trong việc giáo hóa. Đức nhờ thường hằng mà không đổi; giáo hóa nhờ luyện tập mà không ngừng. Ba hào của nội quái thuộc về mình, nên nói về việc tu thân; ba hào của ngoại quái thuộc về người, nên nói về việc dạy người. Tu sửa điều đã thành tựu, khuyến khích điều chưa thành tựu: công cuộc cứu hiểm của người quân tử nằm ở đó.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có xu thế quân địch liên tục xâm kích; nên luôn luôn đề phòng.
○ Hỏi về công danh: Có tượng từng bước thăng tiến.
○ Hỏi về kinh doanh: Tài lộc như nước chảy, dồi dào liên tục, có thể lâu bền và phát triển lớn; vận buôn bán hanh thông.
○ Hỏi về gia trạch: Bên ngoài nhà, về phía bắc, nhất định có chỗ trũng hoặc hố sụt, suối chảy không ngừng. Thời của Khảm ứng với giờ Tý, phía trên gặp các sao Hư và Nguy; sao Nguy chủ việc lợp mái, e rằng nhà hàng xóm đang xây dựng.
○ Hỏi về bệnh tật: Phòng chứng tiêu chảy, đã kéo dài lâu ngày chưa khỏi. Nên cầu nguyện, lấy ý nghĩa “một vò rượu và hai đồ đựng lương thực”.
○ Hỏi về hôn nhân: Ắt là thân càng thêm thân, có tượng họ hàng kết thông gia lặp lại.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
Sơ lục: Khảm lặp lại, rơi vào hố của Khảm, hung.
Sơ lục: Khảm lặp lại, rơi vào hố của Khảm[136], hung.
Tượng truyện nói: Khảm lặp lại, vào trong Khảm; mất đạo thì hung.
“Tập” nghĩa là lặp lại và luyện thành thói quen; “đạm” là một hốc nhỏ bên trong Khảm. Hào đầu là lúc bắt đầu của quẻ, cũng là lúc bắt đầu của Khảm. Liệt Tử nói: “Có người sống bên bờ sông, quen với nước nên giỏi bơi”, ý nói người giỏi bơi thì không bị chết đuối. Hào đầu có tập nhưng chưa tinh, vì thế không thể ra khỏi Khảm mà trái lại rơi vào hố. Hố là một Khảm nhỏ; vào Khảm nhỏ thì càng lún sâu, càng khó thoát ra, nên hung. Tượng truyện nói “Khảm lặp lại, vào Khảm”, nghĩa là người tập Khảm vốn muốn ra khỏi Khảm. Việc tập Khảm rồi vào Khảm không phải do sự tập luyện làm sai lạc, mà do người tập đã mất đạo trong khi tập; vì vậy nói “mất đạo thì hung”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có ý định mai phục, nhưng ngược lại có thể sa vào kế của địch; đó là đường hung.
○ Hỏi về công danh: Ham cầu danh nhờ may rủi thì trái lại chuốc nhục; không có ích mà còn có hại.
○ Hỏi về kinh doanh: Do buôn hàng bị lỗ, chuyển vận sang nơi khác; đến nơi thì thị trường còn nhỏ hơn, không thể bán hết.
○ Hỏi về bệnh tật: Cầu thầy chữa bệnh nhưng thầy thuốc mất phương pháp đúng, bệnh càng nguy hiểm hơn.
○ Hỏi về hôn nhân: E rằng rơi vào lừa đảo, chắc chắn không phải hôn nhân chính thức do mai mối đàng hoàng.
○ Hỏi về thai sản: Phòng việc sinh nở khó khăn.
【Ví dụ】Một người bạn đến xin đoán vận khí, gieo được quẻ Khảm biến thành quẻ Tiết.
Đoán rằng: Khảm là nước, sông lớn, mương rãnh; đều là nơi nước chảy xuống chỗ thấp và trở nên ô uế. Hào đầu ở đầu quẻ, lại ở dưới cùng của quẻ, là chỗ mới bước vào nước, chưa biết sâu bao nhiêu tầng. Nay gieo hỏi vận khí mà được hào này; xét vận mệnh đời người, người bình thuận hưng vượng thì cát, người khiếm khuyết nghèo khốn thì hung. Khảm nghĩa là hãm, cho thấy hiện thời bất lợi. Nên giữ đạo để tự thủ; nếu mất đạo mà hành động càn quấy, e rằng càng lún sâu vào chỗ hãm, cái hung thật khó nói hết. Nói chung, mỗi hào ứng với một năm. Phải đợi đến hào năm, nói “Khảm không đầy, chỉ vừa bình”, thì mới không lỗi. Về sau quả nhiên sự việc đúng như lời đoán.
Tượng truyện nói: Khảm lặp lại, vào trong Khảm; mất đạo thì hung.
“Tập” nghĩa là lặp lại và luyện thành thói quen; “đạm” là một hốc nhỏ bên trong Khảm. Hào đầu là lúc bắt đầu của quẻ, cũng là lúc bắt đầu của Khảm. Liệt Tử nói: “Có người sống bên bờ sông, quen với nước nên giỏi bơi”, ý nói người giỏi bơi thì không bị chết đuối. Hào đầu có tập nhưng chưa tinh, vì thế không thể ra khỏi Khảm mà trái lại rơi vào hố. Hố là một Khảm nhỏ; vào Khảm nhỏ thì càng lún sâu, càng khó thoát ra, nên hung. Tượng truyện nói “Khảm lặp lại, vào Khảm”, nghĩa là người tập Khảm vốn muốn ra khỏi Khảm. Việc tập Khảm rồi vào Khảm không phải do sự tập luyện làm sai lạc, mà do người tập đã mất đạo trong khi tập; vì vậy nói “mất đạo thì hung”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có ý định mai phục, nhưng ngược lại có thể sa vào kế của địch; đó là đường hung.
○ Hỏi về công danh: Ham cầu danh nhờ may rủi thì trái lại chuốc nhục; không có ích mà còn có hại.
○ Hỏi về kinh doanh: Do buôn hàng bị lỗ, chuyển vận sang nơi khác; đến nơi thì thị trường còn nhỏ hơn, không thể bán hết.
○ Hỏi về bệnh tật: Cầu thầy chữa bệnh nhưng thầy thuốc mất phương pháp đúng, bệnh càng nguy hiểm hơn.
○ Hỏi về hôn nhân: E rằng rơi vào lừa đảo, chắc chắn không phải hôn nhân chính thức do mai mối đàng hoàng.
○ Hỏi về thai sản: Phòng việc sinh nở khó khăn.
【Ví dụ】Một người bạn đến xin đoán vận khí, gieo được quẻ Khảm biến thành quẻ Tiết.
Đoán rằng: Khảm là nước, sông lớn, mương rãnh; đều là nơi nước chảy xuống chỗ thấp và trở nên ô uế. Hào đầu ở đầu quẻ, lại ở dưới cùng của quẻ, là chỗ mới bước vào nước, chưa biết sâu bao nhiêu tầng. Nay gieo hỏi vận khí mà được hào này; xét vận mệnh đời người, người bình thuận hưng vượng thì cát, người khiếm khuyết nghèo khốn thì hung. Khảm nghĩa là hãm, cho thấy hiện thời bất lợi. Nên giữ đạo để tự thủ; nếu mất đạo mà hành động càn quấy, e rằng càng lún sâu vào chỗ hãm, cái hung thật khó nói hết. Nói chung, mỗi hào ứng với một năm. Phải đợi đến hào năm, nói “Khảm không đầy, chỉ vừa bình”, thì mới không lỗi. Về sau quả nhiên sự việc đúng như lời đoán.
Cửu nhị: Trong Khảm có hiểm, cầu tìm thì được chút ít.
Cửu nhị: Trong Khảm có hiểm, cầu tìm thì được chút ít.
Tượng truyện nói: Cầu tìm thì được chút ít, vì chưa ra khỏi trung.
Khảm trên là hốc, Khảm dưới là hiểm; “có hiểm” nghĩa là trước sau trái phải đều là nơi hiểm. Hào này lấy một dương hãm giữa hai âm, lại không có ứng viện, nên cố nhiên chưa thể nhanh chóng ra khỏi hiểm của Khảm. Nhưng nó có đức cương trung, nhẫn nại giữ mình trong cảnh khốn khó. Tuy chưa đạt được như hào năm là “không đầy, chỉ vừa bình”, vẫn có thể tránh lỗi; nếu không ngừng cầu tìm thì cũng không đến nỗi hoàn toàn chẳng được gì. Vì thế nói “cầu tìm thì được chút ít”; dù ít vẫn là được. Tượng truyện nói “chưa ra khỏi trung”, cho thấy sự hanh thông nằm ở giữa.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có thể bí mật thông đường hầm để tập kích doanh trại địch; tuy chưa đại thắng nhưng nhất định có thắng lợi nhỏ.
○ Hỏi về kinh doanh: Có thể mưu cầu chút lợi nhỏ.
○ Hỏi về công danh: Thử sức ở quy mô nhỏ ắt có lợi.
○ Hỏi về gia trạch: E rằng bờ sông bên ngoài nhà bị sạt lở, nên sửa sang gia cố.
○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng lở loét hoặc tương tự. Mời thầy thuốc chữa thì sẽ có chút hiệu quả, nhưng khó mong khỏi hoàn toàn.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai.
【Ví dụ】Một phú thương ở Đông Kinh, tên là Giáp Can, đến xin đoán vận khí cửa hàng, gieo được quẻ Khảm biến thành quẻ Tỷ.
Đoán rằng: Cửu nhị lấy dương ở vị âm, nhưng được vị trí trung chính, làm chủ nội quái và ứng với hào năm. Hào năm ở ngôi tôn, ắt hẳn hào năm tượng trưng cho cửa hàng chính, hào hai tượng trưng cho chi nhánh. Nay được hào hai của Khảm, nói “trong Khảm có hiểm”, ắt là cả hai cửa hàng cùng gặp hiểm, việc buôn bán nhất thời suy sút, hễ động là thường tổn hao. Đây không phải lỗi do sức người, mà là do vận khí khiến vậy. Ngài đã thay chủ nhân mà gieo quẻ, ắt phải hết lòng với việc cửa hàng. Chỉ nên giữ sự chí chính chí trung, không vướng thiên tư hay tư lợi, dốc sức mưu tính; tuy không có lợi lớn, nhất định vẫn có chút thu hoạch.
Kết quả đúng như lời đoán.
Tượng truyện nói: Cầu tìm thì được chút ít, vì chưa ra khỏi trung.
Khảm trên là hốc, Khảm dưới là hiểm; “có hiểm” nghĩa là trước sau trái phải đều là nơi hiểm. Hào này lấy một dương hãm giữa hai âm, lại không có ứng viện, nên cố nhiên chưa thể nhanh chóng ra khỏi hiểm của Khảm. Nhưng nó có đức cương trung, nhẫn nại giữ mình trong cảnh khốn khó. Tuy chưa đạt được như hào năm là “không đầy, chỉ vừa bình”, vẫn có thể tránh lỗi; nếu không ngừng cầu tìm thì cũng không đến nỗi hoàn toàn chẳng được gì. Vì thế nói “cầu tìm thì được chút ít”; dù ít vẫn là được. Tượng truyện nói “chưa ra khỏi trung”, cho thấy sự hanh thông nằm ở giữa.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có thể bí mật thông đường hầm để tập kích doanh trại địch; tuy chưa đại thắng nhưng nhất định có thắng lợi nhỏ.
○ Hỏi về kinh doanh: Có thể mưu cầu chút lợi nhỏ.
○ Hỏi về công danh: Thử sức ở quy mô nhỏ ắt có lợi.
○ Hỏi về gia trạch: E rằng bờ sông bên ngoài nhà bị sạt lở, nên sửa sang gia cố.
○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng lở loét hoặc tương tự. Mời thầy thuốc chữa thì sẽ có chút hiệu quả, nhưng khó mong khỏi hoàn toàn.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con trai.
【Ví dụ】Một phú thương ở Đông Kinh, tên là Giáp Can, đến xin đoán vận khí cửa hàng, gieo được quẻ Khảm biến thành quẻ Tỷ.
Đoán rằng: Cửu nhị lấy dương ở vị âm, nhưng được vị trí trung chính, làm chủ nội quái và ứng với hào năm. Hào năm ở ngôi tôn, ắt hẳn hào năm tượng trưng cho cửa hàng chính, hào hai tượng trưng cho chi nhánh. Nay được hào hai của Khảm, nói “trong Khảm có hiểm”, ắt là cả hai cửa hàng cùng gặp hiểm, việc buôn bán nhất thời suy sút, hễ động là thường tổn hao. Đây không phải lỗi do sức người, mà là do vận khí khiến vậy. Ngài đã thay chủ nhân mà gieo quẻ, ắt phải hết lòng với việc cửa hàng. Chỉ nên giữ sự chí chính chí trung, không vướng thiên tư hay tư lợi, dốc sức mưu tính; tuy không có lợi lớn, nhất định vẫn có chút thu hoạch.
Kết quả đúng như lời đoán.
Lục tam: Đi lại giữa những Khảm, hiểm lại tựa vào hiểm. Vào hố của Khảm, chớ dùng.
Lục tam: Đi lại giữa những Khảm, hiểm lại tựa vào hiểm. Vào hố của Khảm, chớ dùng.
Tượng truyện nói: Đi lại giữa những Khảm, rốt cuộc không có công.
Hào này lấy âm ở ngôi dương, không trung không chính, tài năng yếu mà ý chí mạnh. Nó ở giữa hai quẻ Khảm, lại không có ứng viện. Muốn vượt hiểm mà tiến thì bị Khảm của thượng quái ngăn cản; muốn tránh hiểm mà đi nơi khác thì Khảm của hạ quái chắn ngang. Vì vậy, ngay chỗ mình cũng không được yên, mà trước sau trái phải, tiến thoái động tĩnh, không nơi nào lại chẳng phải Khảm. Cho nên nói: “Đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm.” “Gối” nghĩa là dừng, là yên nghỉ; tức là đã bước vào chỗ hiểm thì tạm dừng để nghỉ. Tuy nhất thời chưa thể thoát hiểm, nhưng cũng không đến nỗi càng lún sâu. Nếu không chịu nghỉ ngơi mà gắng sức tranh đấu, tất sẽ rơi vào hố sâu trong hố Khảm, không thể cứu được. “Hố sâu” trong Thuyết văn nói: “Trong hố lại có hố”; Ngu thị nói: “Hang nhỏ trong hố.” Hào đầu và hào ba đều là âm, có tượng hang rỗng, nên đều gọi là hố sâu. Tượng truyện nói “cuối cùng không có công”, nghĩa là các bậc hào kiệt xưa nay đều được tôi luyện và thành tựu từ trong gian khổ. Hiểm của Khảm đủ làm khốn đốn con người, nhưng cũng thật sự đủ để tạo nên con người. Nếu gặp hiểm mà chỉ nghỉ ngơi biếng nhác, cầu an trộm, thì đã bỏ mất thời cơ dùng cái hiểm; vì vậy nói “cuối cùng không có công”. Lại theo một cách đọc khác, câu “hiểm mà gối” trong cổ văn của Phí Dịch viết là “kiểm mà chìm”: “kiểm” là đắp đê ngăn nước; “chìm” là tên một nghi lễ tế sông. Lễ ký nói: “Tế sông thì dìm xuống; phàm dìm vật hiến là xẻ vật sinh tế để tế sông.” Người trị thủy cốt ở thuận theo tính nước mà dẫn dòng. Nếu chỉ dùng đê ngăn, thế nước bị ứ lại sẽ càng dữ dội; đê vỡ bờ sụp, tổn hại càng nhiều. Dù dìm vật sinh để tế, rốt cuộc có ích gì? Vì thế hào răn “chớ dùng”, còn Truyện giải là “không có công”. Đây cũng là một thuyết, dường như tinh xác hơn cách giảng “gối” là yên nghỉ, dừng lại.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Tượng như doanh trại bốn mặt đều giáp hiểm, tiến thoái lưỡng nan. Nên gối giáo tạm nghỉ, chờ viện binh.
○ Hỏi về kinh doanh: Xét tượng hào, có lẽ là việc vận tải đường biển; thuyền đi bị cản trở, nên vào nơi kín đáo tạm giữ thế.
○ Hỏi về công danh: Xét tượng, đây là lúc gặp muôn vàn khốn khó, thân thể chịu đói khát nhọc nhằn. Trước mắt chưa có công, nhưng có thể mong thành công về sau.
○ Hỏi về gia trạch: Thủy pháp của ngôi nhà này rối loạn, sát khí nhiều và dữ. Phía bắc nhà có một hố sâu Khảm, nên lập tức lấp đầy.
○ Hỏi về hôn nhân: Khảm tượng người nam, đây là nhà trai đến cầu hôn. Hào nói “chớ dùng”, tất không thành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một người nọ đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Tỉnh.
Lời đoán: Khảm là quẻ hiểm, hiểm tức là khó. Hào nói “đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm”, tượng cho hiểm nguy lặp đi lặp lại, khốn khổ kéo dài. Hỏi vận khí mà được hào này, rõ ràng tiến cũng hiểm, lui cũng hiểm; nhất thời khó thoát vận rủi. Nếu hành động càn quấy, tất sẽ rơi vào hố sâu, không thể cứu. Nên cam chịu cảnh nghèo khó, tự giữ mình và chờ vận về sau.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 30, xem về bang giao với nước ngoài, gieo được Khảm biến thành Tỉnh.
Lời đoán: Cả thượng quái và hạ quái của quẻ này đều là nước. Khảm có một hào dương hãm giữa hai hào âm, tức Khảm chồng Khảm, tượng khó khăn lặp lại. Nay hỏi về bang giao với nước ngoài mà được hào này: Nhật Bản chúng ta là một nước ven biển, đông tây nam bắc đều bị đại dương bao bọc; thuyền bè qua lại, đảo đảo chồng lên nhau, nơi nào cũng là đất hiểm của Khảm. Dựng hiểm để giữ nước quả là thích đáng. Xét về bang giao, từ khi lệnh cấm biển được mở, “thuyền của Tây Di và Bắc Địch thỉnh thoảng qua lại trên biển”, “đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm” chính là tượng ấy. Gặp thời gian nan này, chỉ nên nghiêm chỉnh tu sửa phòng thủ bên trong, gối giáo chờ đợi. Nếu tùy tiện dùng binh, khó khăn sẽ càng nảy sinh, nên nói “rơi vào hố sâu trong hố”. Tượng truyện nói: “Đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm, cuối cùng không có công”, nghĩa là hiểm nguy liên tiếp kéo đến, phòng thủ trong nước còn không xuể, mà lại tùy tiện gây hấn bên ngoài, thì làm sao có thể thấy thành công?
Quả đúng như vậy! Năm ấy, chính phủ tiến hành mở rộng lục quân và hải quân, xây dựng các pháo đài, hoàn toàn ứng với tượng hào.
Tượng truyện nói: Đi lại giữa những Khảm, rốt cuộc không có công.
Hào này lấy âm ở ngôi dương, không trung không chính, tài năng yếu mà ý chí mạnh. Nó ở giữa hai quẻ Khảm, lại không có ứng viện. Muốn vượt hiểm mà tiến thì bị Khảm của thượng quái ngăn cản; muốn tránh hiểm mà đi nơi khác thì Khảm của hạ quái chắn ngang. Vì vậy, ngay chỗ mình cũng không được yên, mà trước sau trái phải, tiến thoái động tĩnh, không nơi nào lại chẳng phải Khảm. Cho nên nói: “Đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm.” “Gối” nghĩa là dừng, là yên nghỉ; tức là đã bước vào chỗ hiểm thì tạm dừng để nghỉ. Tuy nhất thời chưa thể thoát hiểm, nhưng cũng không đến nỗi càng lún sâu. Nếu không chịu nghỉ ngơi mà gắng sức tranh đấu, tất sẽ rơi vào hố sâu trong hố Khảm, không thể cứu được. “Hố sâu” trong Thuyết văn nói: “Trong hố lại có hố”; Ngu thị nói: “Hang nhỏ trong hố.” Hào đầu và hào ba đều là âm, có tượng hang rỗng, nên đều gọi là hố sâu. Tượng truyện nói “cuối cùng không có công”, nghĩa là các bậc hào kiệt xưa nay đều được tôi luyện và thành tựu từ trong gian khổ. Hiểm của Khảm đủ làm khốn đốn con người, nhưng cũng thật sự đủ để tạo nên con người. Nếu gặp hiểm mà chỉ nghỉ ngơi biếng nhác, cầu an trộm, thì đã bỏ mất thời cơ dùng cái hiểm; vì vậy nói “cuối cùng không có công”. Lại theo một cách đọc khác, câu “hiểm mà gối” trong cổ văn của Phí Dịch viết là “kiểm mà chìm”: “kiểm” là đắp đê ngăn nước; “chìm” là tên một nghi lễ tế sông. Lễ ký nói: “Tế sông thì dìm xuống; phàm dìm vật hiến là xẻ vật sinh tế để tế sông.” Người trị thủy cốt ở thuận theo tính nước mà dẫn dòng. Nếu chỉ dùng đê ngăn, thế nước bị ứ lại sẽ càng dữ dội; đê vỡ bờ sụp, tổn hại càng nhiều. Dù dìm vật sinh để tế, rốt cuộc có ích gì? Vì thế hào răn “chớ dùng”, còn Truyện giải là “không có công”. Đây cũng là một thuyết, dường như tinh xác hơn cách giảng “gối” là yên nghỉ, dừng lại.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Tượng như doanh trại bốn mặt đều giáp hiểm, tiến thoái lưỡng nan. Nên gối giáo tạm nghỉ, chờ viện binh.
○ Hỏi về kinh doanh: Xét tượng hào, có lẽ là việc vận tải đường biển; thuyền đi bị cản trở, nên vào nơi kín đáo tạm giữ thế.
○ Hỏi về công danh: Xét tượng, đây là lúc gặp muôn vàn khốn khó, thân thể chịu đói khát nhọc nhằn. Trước mắt chưa có công, nhưng có thể mong thành công về sau.
○ Hỏi về gia trạch: Thủy pháp của ngôi nhà này rối loạn, sát khí nhiều và dữ. Phía bắc nhà có một hố sâu Khảm, nên lập tức lấp đầy.
○ Hỏi về hôn nhân: Khảm tượng người nam, đây là nhà trai đến cầu hôn. Hào nói “chớ dùng”, tất không thành.
○ Hỏi sinh nở: Sinh con trai.
【Ví dụ】 Một người nọ đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Tỉnh.
Lời đoán: Khảm là quẻ hiểm, hiểm tức là khó. Hào nói “đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm”, tượng cho hiểm nguy lặp đi lặp lại, khốn khổ kéo dài. Hỏi vận khí mà được hào này, rõ ràng tiến cũng hiểm, lui cũng hiểm; nhất thời khó thoát vận rủi. Nếu hành động càn quấy, tất sẽ rơi vào hố sâu, không thể cứu. Nên cam chịu cảnh nghèo khó, tự giữ mình và chờ vận về sau.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 30, xem về bang giao với nước ngoài, gieo được Khảm biến thành Tỉnh.
Lời đoán: Cả thượng quái và hạ quái của quẻ này đều là nước. Khảm có một hào dương hãm giữa hai hào âm, tức Khảm chồng Khảm, tượng khó khăn lặp lại. Nay hỏi về bang giao với nước ngoài mà được hào này: Nhật Bản chúng ta là một nước ven biển, đông tây nam bắc đều bị đại dương bao bọc; thuyền bè qua lại, đảo đảo chồng lên nhau, nơi nào cũng là đất hiểm của Khảm. Dựng hiểm để giữ nước quả là thích đáng. Xét về bang giao, từ khi lệnh cấm biển được mở, “thuyền của Tây Di và Bắc Địch thỉnh thoảng qua lại trên biển”, “đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm” chính là tượng ấy. Gặp thời gian nan này, chỉ nên nghiêm chỉnh tu sửa phòng thủ bên trong, gối giáo chờ đợi. Nếu tùy tiện dùng binh, khó khăn sẽ càng nảy sinh, nên nói “rơi vào hố sâu trong hố”. Tượng truyện nói: “Đến đi đều là hố hiểm chồng hố hiểm, cuối cùng không có công”, nghĩa là hiểm nguy liên tiếp kéo đến, phòng thủ trong nước còn không xuể, mà lại tùy tiện gây hấn bên ngoài, thì làm sao có thể thấy thành công?
Quả đúng như vậy! Năm ấy, chính phủ tiến hành mở rộng lục quân và hải quân, xây dựng các pháo đài, hoàn toàn ứng với tượng hào.
Sáu ở vị trí thứ tư: Một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc, dùng đồ đất nung; dâng lễ giản ước qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi.
Sáu ở vị trí thứ tư: Một vò rượu, hai[137] giỏ[138] ngũ cốc, dùng đồ đất nung[139], dâng lễ giản ước qua cửa sổ[140]; cuối cùng không lỗi.
Tượng truyện nói: Một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc: đó là chỗ cứng và mềm giao nhau.
“Tôn” là đồ đựng rượu; “quỹ” là đồ đựng kê và lương thực; “nhị” nghĩa là đồ phụ, đồ đôi. Trong lễ có tôn phụ. Theo Chu lễ, đại tế dùng ba đôi, trung tế hai đôi, tiểu tế một đôi, tức là thêm vào các tôn đựng ba loại rượu. Phẫu cũng gọi là bồn, là đồ gốm. Lại nữa, địa chi của hào sáu bốn ở Sửu, phía trên ứng với sao Đẩu, có thể dùng để múc rượu, nên lấy tượng tôn. Phía trên còn có sao Kiến, hình giống quỹ; trên sao Kiến có sao Biện, cũng có hình giống quỹ. Vì vậy hào sáu bốn lấy đủ các tượng ấy. “Ước” là tiết kiệm; “nhị” biểu thị làm lễ cho đầy đủ; bồn cho thấy sự giản dị trong việc dùng đồ. “Dũ” là nơi trong phòng thông ánh sáng. Khảm có nghĩa tiếp nhận, nên nói “nạp”. Kinh Thi, bài “Thái bình”, viết: “Đem vật ấy đặt ở đâu? Dưới cửa sổ nhà tông miếu.” Ý của câu “dâng lễ giản ước qua cửa sổ” lấy từ đó. Hào sáu bốn lấy âm ở ngôi âm, vốn dễ mắc lỗi. Nhưng hào bốn có thể dùng “một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc”, giản dị mà dâng qua cửa sổ; nhờ vậy có thể cung phụng vua công khanh và tế tự tông miếu, nên cuối cùng được “không lỗi”. Tượng truyện nói “chỗ cứng và mềm giao nhau”, nghĩa là chỗ các hào cứng và mềm của thượng quái, hạ quái tiếp giáp nhau. Hai quẻ Khảm chồng lên nhau, nên đôi tôn và quỹ tượng cho sự trùng điệp ấy. Cũng có nghĩa là ở vào nơi cứng mềm giao nhau, có thể dâng tôn quỹ qua cửa sổ, đủ để biểu lộ lòng thành; vì vậy nói “không lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hành quân coi lương thực là trọng yếu; cái gọi là đủ quân trước hết phải là đủ ăn. “Dâng lễ giản ước qua cửa sổ” nghĩa là bí mật vận chuyển lương thảo qua nơi kín đáo, để phòng quân địch cướp đoạt.
○ Hỏi về kinh doanh: Khảm tượng rượu, có lẽ là nghề nấu rượu.
○ Hỏi về công danh: Có tượng xuân phong đắc ý, yến tiệc vui vẻ với khách quý, đáng mừng đáng chúc.
○ Hỏi bệnh tật: Nên cầu nguyện.
○ Hỏi về hôn nhân: Tốt lành.
【Ví dụ】 Một vị thân sĩ nọ đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Khốn.
Lời đoán: Hào bốn ở nơi nhiều sợ hãi, hiểm nguy chồng chất, vốn dễ chuốc lỗi. Nay người quý hiển hỏi vận khí mà được hào này. Hào nói “một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc, dùng đồ đất nung, dâng lễ giản ước qua cửa sổ”; theo đó có thể biết người quý hiển ăn dùng tiết kiệm, giữ lễ tự thủ, nên quả là không lỗi. Hơn nữa, hào bốn liền với hào năm: bốn lấy âm ở ngôi âm, năm lấy dương ở ngôi dương; bốn là bề tôi, năm là vua. Tượng truyện nói “chỗ cứng và mềm giao nhau”, chính là cho thấy vua tôi tương đắc.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 30, xem về bang giao giữa nước ta và Triều Tiên, gieo được Khảm biến thành Khốn.
Lời đoán: Triều Tiên ở nơi hẻo lánh của biển Đông, nước nhỏ mà yếu, lại nằm tại vị trí trọng yếu của đường biển nên bị các nước giao thiệp ngoại giao dòm ngó. Nay gặp hiểm chồng chất, vận nước đã đến cảnh hiểm trong hiểm. Hỏi về bang giao với nước ta mà được hào bốn của Khảm. Theo nghĩa của Trịnh thị và Cẩu thị trong Chu Dịch, hào sáu bốn tượng đại thần ra ngoài hội kiến chư hầu; hào bốn nâng đỡ hào chín năm, là tượng đại thần của thiên tử. “Một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc” chủ về lễ nước chủ nhà thết đãi khách. Giao thiệp giữa các nước hiện nay đều do sứ thần đảm trách, tiệc đãi sứ thần cũng là lễ thường. Nhưng câu “dâng lễ giản ước qua cửa sổ” khá đáng ngờ. Lễ yến hưởng được dâng trên chiếu, quyết không thể đưa qua cửa sổ. Hào bốn ở ngoại quái, phải chăng vua Triều Tiên chạy ra ngoài rồi nhận thức ăn tại công quán của sứ thần? “Dâng lễ giản ước qua cửa sổ” có lẽ là chỉ việc bí mật đưa thực phẩm đến. “Cuối cùng không lỗi” nghĩa là tuy nhất thời gặp nạn, rốt cuộc nhất định sẽ trở lại địa vị. Năm ấy, vua Triều Tiên quả nhiên đã có việc chạy vào công sứ quán Nga.
Tượng truyện nói: Một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc: đó là chỗ cứng và mềm giao nhau.
“Tôn” là đồ đựng rượu; “quỹ” là đồ đựng kê và lương thực; “nhị” nghĩa là đồ phụ, đồ đôi. Trong lễ có tôn phụ. Theo Chu lễ, đại tế dùng ba đôi, trung tế hai đôi, tiểu tế một đôi, tức là thêm vào các tôn đựng ba loại rượu. Phẫu cũng gọi là bồn, là đồ gốm. Lại nữa, địa chi của hào sáu bốn ở Sửu, phía trên ứng với sao Đẩu, có thể dùng để múc rượu, nên lấy tượng tôn. Phía trên còn có sao Kiến, hình giống quỹ; trên sao Kiến có sao Biện, cũng có hình giống quỹ. Vì vậy hào sáu bốn lấy đủ các tượng ấy. “Ước” là tiết kiệm; “nhị” biểu thị làm lễ cho đầy đủ; bồn cho thấy sự giản dị trong việc dùng đồ. “Dũ” là nơi trong phòng thông ánh sáng. Khảm có nghĩa tiếp nhận, nên nói “nạp”. Kinh Thi, bài “Thái bình”, viết: “Đem vật ấy đặt ở đâu? Dưới cửa sổ nhà tông miếu.” Ý của câu “dâng lễ giản ước qua cửa sổ” lấy từ đó. Hào sáu bốn lấy âm ở ngôi âm, vốn dễ mắc lỗi. Nhưng hào bốn có thể dùng “một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc”, giản dị mà dâng qua cửa sổ; nhờ vậy có thể cung phụng vua công khanh và tế tự tông miếu, nên cuối cùng được “không lỗi”. Tượng truyện nói “chỗ cứng và mềm giao nhau”, nghĩa là chỗ các hào cứng và mềm của thượng quái, hạ quái tiếp giáp nhau. Hai quẻ Khảm chồng lên nhau, nên đôi tôn và quỹ tượng cho sự trùng điệp ấy. Cũng có nghĩa là ở vào nơi cứng mềm giao nhau, có thể dâng tôn quỹ qua cửa sổ, đủ để biểu lộ lòng thành; vì vậy nói “không lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hành quân coi lương thực là trọng yếu; cái gọi là đủ quân trước hết phải là đủ ăn. “Dâng lễ giản ước qua cửa sổ” nghĩa là bí mật vận chuyển lương thảo qua nơi kín đáo, để phòng quân địch cướp đoạt.
○ Hỏi về kinh doanh: Khảm tượng rượu, có lẽ là nghề nấu rượu.
○ Hỏi về công danh: Có tượng xuân phong đắc ý, yến tiệc vui vẻ với khách quý, đáng mừng đáng chúc.
○ Hỏi bệnh tật: Nên cầu nguyện.
○ Hỏi về hôn nhân: Tốt lành.
【Ví dụ】 Một vị thân sĩ nọ đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Khốn.
Lời đoán: Hào bốn ở nơi nhiều sợ hãi, hiểm nguy chồng chất, vốn dễ chuốc lỗi. Nay người quý hiển hỏi vận khí mà được hào này. Hào nói “một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc, dùng đồ đất nung, dâng lễ giản ước qua cửa sổ”; theo đó có thể biết người quý hiển ăn dùng tiết kiệm, giữ lễ tự thủ, nên quả là không lỗi. Hơn nữa, hào bốn liền với hào năm: bốn lấy âm ở ngôi âm, năm lấy dương ở ngôi dương; bốn là bề tôi, năm là vua. Tượng truyện nói “chỗ cứng và mềm giao nhau”, chính là cho thấy vua tôi tương đắc.
【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ 30, xem về bang giao giữa nước ta và Triều Tiên, gieo được Khảm biến thành Khốn.
Lời đoán: Triều Tiên ở nơi hẻo lánh của biển Đông, nước nhỏ mà yếu, lại nằm tại vị trí trọng yếu của đường biển nên bị các nước giao thiệp ngoại giao dòm ngó. Nay gặp hiểm chồng chất, vận nước đã đến cảnh hiểm trong hiểm. Hỏi về bang giao với nước ta mà được hào bốn của Khảm. Theo nghĩa của Trịnh thị và Cẩu thị trong Chu Dịch, hào sáu bốn tượng đại thần ra ngoài hội kiến chư hầu; hào bốn nâng đỡ hào chín năm, là tượng đại thần của thiên tử. “Một vò rượu, hai giỏ ngũ cốc” chủ về lễ nước chủ nhà thết đãi khách. Giao thiệp giữa các nước hiện nay đều do sứ thần đảm trách, tiệc đãi sứ thần cũng là lễ thường. Nhưng câu “dâng lễ giản ước qua cửa sổ” khá đáng ngờ. Lễ yến hưởng được dâng trên chiếu, quyết không thể đưa qua cửa sổ. Hào bốn ở ngoại quái, phải chăng vua Triều Tiên chạy ra ngoài rồi nhận thức ăn tại công quán của sứ thần? “Dâng lễ giản ước qua cửa sổ” có lẽ là chỉ việc bí mật đưa thực phẩm đến. “Cuối cùng không lỗi” nghĩa là tuy nhất thời gặp nạn, rốt cuộc nhất định sẽ trở lại địa vị. Năm ấy, vua Triều Tiên quả nhiên đã có việc chạy vào công sứ quán Nga.
Hào cửu ngũ: Hố chưa đầy, lễ tế đã yên ổน hoàn tất, không lỗi.
Hào cửu ngũ: Hố chưa đầy, lễ tế đã yên ổน hoàn tất, không lỗi.
Tượng truyện nói: Hố Khảm chưa đầy; phần giữa chưa trở nên lớn.
Hào chín năm lấy dương ở ngôi dương, được trung chính, là chủ của Khảm. Câu trong Thoán truyện “nước chảy mà không đầy” chỉ hào năm mới đủ đảm đương. Đức của nước ở chỗ bằng phẳng; đã bằng thì hiểm không còn là hiểm. “Vừa đạt được bình” nghĩa là vừa mới đạt trạng thái cân bằng. Khảm là hố. Nước trong hố, nếu chưa đầy thì phẳng; nếu đầy thì tràn lan, chảy ngang, có nguy cơ phá vỡ bờ. Việc trong thiên hạ phần nhiều vì đầy mà chuốc họa, nước cũng vậy. Vì không đầy mà lại phẳng, nên “không lỗi”. Tượng truyện nói “ở giữa chưa lớn”, chữ “lớn” cũng có nghĩa là đầy. Chính vì dòng Khảm không lớn mạnh nên mới được bình ổn, không hiểm. Nếu thành nước lũ lớn thì sẽ gây tai họa; nước lớn có ích gì? Vì vậy nói “ở giữa chưa lớn”. Khảm là nơi nguy hiểm, vốn không phải điều tốt đẹp. Hào năm tuy giỏi xử hiểm nhờ “không đầy”, nhưng lời đoán chỉ nói “không lỗi”, chưa đủ để gọi là tốt lành.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Đạo làm tướng kỵ nhất là cậy công mà kiêu, khiến lòng quân bất bình; đó là đường dẫn đến thất bại. Dù Tôn Vũ sống lại cũng không thể lập công.
○ Hỏi về kinh doanh: Không tham lợi bất ngờ nhất thời, biết cân nhắc giá cả cho công bằng để tính kế lâu dài, đó là người buôn giỏi.
○ Hỏi về công danh: Danh vị không lớn.
○ Hỏi về thời vận: Khiêm nhường thì được lợi, đầy tràn thì chuốc tổn. Suốt đời tụng niệm câu ấy là được.
○ Hỏi về gia trạch: Ngoài nhà có mảnh đất nhỏ, dòng nước trong và nông chảy qua, lại có một sườn dốc bằng phẳng; phong cảnh khá đẹp, không lỗi.
○ Hỏi về hôn nhân: Cửa nhà hai họ tương xứng, tốt lành.
【Ví dụ】 Một thương nhân quen biết đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Sư.
Lời đoán: Khảm là quẻ khó khăn. Nay được hào năm, những gian khổ từ trước sẽ dần trở nên bình hòa, sau đó có thể bước vào vận thịnh. Vì vậy nói “hố Khảm chưa đầy, vừa đạt được bình thì không lỗi”. Về sau quả nhiên ứng đúng như lời đoán.
Tượng truyện nói: Hố Khảm chưa đầy; phần giữa chưa trở nên lớn.
Hào chín năm lấy dương ở ngôi dương, được trung chính, là chủ của Khảm. Câu trong Thoán truyện “nước chảy mà không đầy” chỉ hào năm mới đủ đảm đương. Đức của nước ở chỗ bằng phẳng; đã bằng thì hiểm không còn là hiểm. “Vừa đạt được bình” nghĩa là vừa mới đạt trạng thái cân bằng. Khảm là hố. Nước trong hố, nếu chưa đầy thì phẳng; nếu đầy thì tràn lan, chảy ngang, có nguy cơ phá vỡ bờ. Việc trong thiên hạ phần nhiều vì đầy mà chuốc họa, nước cũng vậy. Vì không đầy mà lại phẳng, nên “không lỗi”. Tượng truyện nói “ở giữa chưa lớn”, chữ “lớn” cũng có nghĩa là đầy. Chính vì dòng Khảm không lớn mạnh nên mới được bình ổn, không hiểm. Nếu thành nước lũ lớn thì sẽ gây tai họa; nước lớn có ích gì? Vì vậy nói “ở giữa chưa lớn”. Khảm là nơi nguy hiểm, vốn không phải điều tốt đẹp. Hào năm tuy giỏi xử hiểm nhờ “không đầy”, nhưng lời đoán chỉ nói “không lỗi”, chưa đủ để gọi là tốt lành.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Đạo làm tướng kỵ nhất là cậy công mà kiêu, khiến lòng quân bất bình; đó là đường dẫn đến thất bại. Dù Tôn Vũ sống lại cũng không thể lập công.
○ Hỏi về kinh doanh: Không tham lợi bất ngờ nhất thời, biết cân nhắc giá cả cho công bằng để tính kế lâu dài, đó là người buôn giỏi.
○ Hỏi về công danh: Danh vị không lớn.
○ Hỏi về thời vận: Khiêm nhường thì được lợi, đầy tràn thì chuốc tổn. Suốt đời tụng niệm câu ấy là được.
○ Hỏi về gia trạch: Ngoài nhà có mảnh đất nhỏ, dòng nước trong và nông chảy qua, lại có một sườn dốc bằng phẳng; phong cảnh khá đẹp, không lỗi.
○ Hỏi về hôn nhân: Cửa nhà hai họ tương xứng, tốt lành.
【Ví dụ】 Một thương nhân quen biết đến xin xem vận khí, gieo được Khảm biến thành Sư.
Lời đoán: Khảm là quẻ khó khăn. Nay được hào năm, những gian khổ từ trước sẽ dần trở nên bình hòa, sau đó có thể bước vào vận thịnh. Vì vậy nói “hố Khảm chưa đầy, vừa đạt được bình thì không lỗi”. Về sau quả nhiên ứng đúng như lời đoán.
Thượng lục: Bị trói bằng dây, đặt giữa bụi gai; ba năm không được giải thoát, xấu.
Thượng lục: Bị trói bằng dây[141], bị đặt[142] giữa bụi gai[143]; ba năm không được giải thoát, xấu.
Tượng truyện nói: Thượng lục đã mất đạo, nên ba năm đều xấu.
Hào trên lấy âm ở ngôi âm, ở cuối chỗ hiểm của Khảm mà vẫn không biết hối cải thức tỉnh. Nếu hào đầu mất đạo thì còn có thể nói là chưa từng trải; nhưng hào trên mất đạo là đã quen coi việc ấy như thường. Người không thể dùng lý lẽ mà cảm hóa thì chỉ còn cách dùng pháp luật để ràng buộc. Khảm tượng tội lỗi, ngục tù và bụi gai. “Dây trói” là dây thừng, “bụi gai” là tường ngục; trói bằng dây và đặt giữa bụi gai là để trị tội và khiến người ấy hối cải. Khảm tượng ba năm, nên giam cầm ba năm, đúng với luật nói: “Tội nặng thì ba năm được thả.” Sau ba năm nếu hối lỗi đổi sang điều thiện, sẽ trở về chính đạo; nếu ba năm vẫn không thay đổi, thì suốt đời mất đạo. Vì vậy Tượng truyện nói “mất đạo thì xấu”. Bậc thánh nhân trừng trị điều ác, ban đầu dùng pháp luật nghiêm khắc ràng buộc, cuối cùng ắt dùng khoan dung mà tha thứ. Trị lâu mà vẫn không sửa đổi thì còn làm gì được nữa? Đành thôi. Qua đó có thể biết bậc thánh nhân chưa từng nhẹ nhàng vứt bỏ con người.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có lo ngại quân đội phải viễn chinh, phục dịch lâu ngày mà không trở về được.
○ Hỏi về kinh doanh: Có lẽ là việc thu mua tơ tằm; sau ba năm mới có thể thu lợi.
○ Hỏi về công danh: E có tai họa ngoài ý muốn; không chỉ công danh không thành mà còn phải đề phòng tội lao ngục. Xấu.
○ Hỏi về hôn nhân: Tơ hồng buộc chân, hôn nhân đã có tiền định. Nhưng duyên lành chưa đến, phải đợi sau ba năm mới thành.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai, nhưng phải muộn.
○ Hỏi về gia trạch: Không biết vì duyên cớ gì nhà này bị bỏ hoang, dây leo mọc đầy quanh tường, nên gấp rút tu sửa. Người ở trước bất lợi, người ở sau thì tốt.
【Ví dụ】 Tháng mười năm Minh Trị thứ 17, bọn bạo loạn nổi lên ở huyện Chichibu, tỉnh Saitama, thế lực cực kỳ hung hãn, sắp lan sang xâm lấn các huyện khác, khiến tôi rất lo lắng. Ngẫu nhiên một người bạn đến xin xem kết cục ra sao, gieo được Khảm biến thành Hoán.
Lời đoán nói: Tượng của hào này chỉ rõ rằng, đối với kẻ không theo giáo hóa thì phải dùng hình pháp để trị. Trói bằng xiềng xích, giam giữa bụi gai, đó là phép luật dùng để trị tội. Khi ấy, quốc gia noi theo Tây Âu, tiến hành cải cách chính sự cũ. Trong số đó có những kẻ chống đối, thầm oán rằng chính sách mới gây bất tiện; chúng mê hoặc quần chúng, nổi dậy như đàn ong, xâm lấn và cướp phá các quận. Bọn này đều là hạng vô lại, xảo quyệt, không sợ pháp luật, tự chuốc lấy hiểm nguy mà chẳng biết kiêng dè. Quốc gia bất đắc dĩ phải bắt thủ lĩnh của chúng, giam vào ngục hình. Không lập tức đem xử tử công khai, mà giam trong ba năm để chúng biết hối cải. Sau ba năm mà vẫn không sửa đổi thì không gì hung hiểm hơn. Những biện pháp chính phủ thi hành về sau cũng không vượt ra ngoài ý nghĩa của quẻ bói này.
【Ví dụ】 Sau khi nước ta đánh bại nhà Thanh, ba nước Nga, Pháp và Đức liên minh, lấy danh nghĩa bảo hộ nhà Thanh để ép ta trả lại Liêu Đông. Về sau, ba nước nhân đó mượn các vùng trọng yếu như Lữ Thuận, Sơn Đông, Vân Nam, cưỡng ép lập đường sắt và chiếm giữ mỏ. Việc họ làm hoàn toàn trái với lý do đã nêu trước kia. Khi ấy nước ta đã đoán trước ý đồ của ba nước, bèn hỏi một quẻ và gieo được Khảm biến thành Hoán.
Lời đoán: Thượng lục là cuối quẻ Khảm, vốn có thể vượt qua đây để ra khỏi hiểm. Nhưng thượng lục lấy âm ở ngôi âm, lại ở ngoài quẻ, rõ ràng cho thấy các nước ngoài có âm mưu quỷ kế, sẽ xuất hiện để mưu tính việc riêng. Ép ta trả Liêu Đông không phải vì nhà Thanh, mà thực ra là ba nước tính kế cho mình. Chẳng bao lâu, cả ba nước cưỡng chiếm hoặc mượn các khu vực trọng yếu như Sơn Đông, Lữ Thuận, Vân Nam, lập đường sắt; mưu kế xảo quyệt ấy hiện rõ. “Bị trói bằng dây, đặt giữa bụi gai” ví với tình trạng cưỡng bức của họ. “Ba năm” cũng có thể hiểu là “ba nước”, nghĩa là nếu ba nước chưa đạt được ham muốn thì việc sẽ chưa kết thúc. Tượng truyện nói: “Thượng lục mất đạo, xấu.” “Đạo” là đường; ba nước dựng đường sắt ở Trung Quốc, rõ ràng là mất đường, nên xấu.
Tượng truyện nói: Thượng lục đã mất đạo, nên ba năm đều xấu.
Hào trên lấy âm ở ngôi âm, ở cuối chỗ hiểm của Khảm mà vẫn không biết hối cải thức tỉnh. Nếu hào đầu mất đạo thì còn có thể nói là chưa từng trải; nhưng hào trên mất đạo là đã quen coi việc ấy như thường. Người không thể dùng lý lẽ mà cảm hóa thì chỉ còn cách dùng pháp luật để ràng buộc. Khảm tượng tội lỗi, ngục tù và bụi gai. “Dây trói” là dây thừng, “bụi gai” là tường ngục; trói bằng dây và đặt giữa bụi gai là để trị tội và khiến người ấy hối cải. Khảm tượng ba năm, nên giam cầm ba năm, đúng với luật nói: “Tội nặng thì ba năm được thả.” Sau ba năm nếu hối lỗi đổi sang điều thiện, sẽ trở về chính đạo; nếu ba năm vẫn không thay đổi, thì suốt đời mất đạo. Vì vậy Tượng truyện nói “mất đạo thì xấu”. Bậc thánh nhân trừng trị điều ác, ban đầu dùng pháp luật nghiêm khắc ràng buộc, cuối cùng ắt dùng khoan dung mà tha thứ. Trị lâu mà vẫn không sửa đổi thì còn làm gì được nữa? Đành thôi. Qua đó có thể biết bậc thánh nhân chưa từng nhẹ nhàng vứt bỏ con người.
【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có lo ngại quân đội phải viễn chinh, phục dịch lâu ngày mà không trở về được.
○ Hỏi về kinh doanh: Có lẽ là việc thu mua tơ tằm; sau ba năm mới có thể thu lợi.
○ Hỏi về công danh: E có tai họa ngoài ý muốn; không chỉ công danh không thành mà còn phải đề phòng tội lao ngục. Xấu.
○ Hỏi về hôn nhân: Tơ hồng buộc chân, hôn nhân đã có tiền định. Nhưng duyên lành chưa đến, phải đợi sau ba năm mới thành.
○ Hỏi về thai sản: Sẽ sinh con trai, nhưng phải muộn.
○ Hỏi về gia trạch: Không biết vì duyên cớ gì nhà này bị bỏ hoang, dây leo mọc đầy quanh tường, nên gấp rút tu sửa. Người ở trước bất lợi, người ở sau thì tốt.
【Ví dụ】 Tháng mười năm Minh Trị thứ 17, bọn bạo loạn nổi lên ở huyện Chichibu, tỉnh Saitama, thế lực cực kỳ hung hãn, sắp lan sang xâm lấn các huyện khác, khiến tôi rất lo lắng. Ngẫu nhiên một người bạn đến xin xem kết cục ra sao, gieo được Khảm biến thành Hoán.
Lời đoán nói: Tượng của hào này chỉ rõ rằng, đối với kẻ không theo giáo hóa thì phải dùng hình pháp để trị. Trói bằng xiềng xích, giam giữa bụi gai, đó là phép luật dùng để trị tội. Khi ấy, quốc gia noi theo Tây Âu, tiến hành cải cách chính sự cũ. Trong số đó có những kẻ chống đối, thầm oán rằng chính sách mới gây bất tiện; chúng mê hoặc quần chúng, nổi dậy như đàn ong, xâm lấn và cướp phá các quận. Bọn này đều là hạng vô lại, xảo quyệt, không sợ pháp luật, tự chuốc lấy hiểm nguy mà chẳng biết kiêng dè. Quốc gia bất đắc dĩ phải bắt thủ lĩnh của chúng, giam vào ngục hình. Không lập tức đem xử tử công khai, mà giam trong ba năm để chúng biết hối cải. Sau ba năm mà vẫn không sửa đổi thì không gì hung hiểm hơn. Những biện pháp chính phủ thi hành về sau cũng không vượt ra ngoài ý nghĩa của quẻ bói này.
【Ví dụ】 Sau khi nước ta đánh bại nhà Thanh, ba nước Nga, Pháp và Đức liên minh, lấy danh nghĩa bảo hộ nhà Thanh để ép ta trả lại Liêu Đông. Về sau, ba nước nhân đó mượn các vùng trọng yếu như Lữ Thuận, Sơn Đông, Vân Nam, cưỡng ép lập đường sắt và chiếm giữ mỏ. Việc họ làm hoàn toàn trái với lý do đã nêu trước kia. Khi ấy nước ta đã đoán trước ý đồ của ba nước, bèn hỏi một quẻ và gieo được Khảm biến thành Hoán.
Lời đoán: Thượng lục là cuối quẻ Khảm, vốn có thể vượt qua đây để ra khỏi hiểm. Nhưng thượng lục lấy âm ở ngôi âm, lại ở ngoài quẻ, rõ ràng cho thấy các nước ngoài có âm mưu quỷ kế, sẽ xuất hiện để mưu tính việc riêng. Ép ta trả Liêu Đông không phải vì nhà Thanh, mà thực ra là ba nước tính kế cho mình. Chẳng bao lâu, cả ba nước cưỡng chiếm hoặc mượn các khu vực trọng yếu như Sơn Đông, Lữ Thuận, Vân Nam, lập đường sắt; mưu kế xảo quyệt ấy hiện rõ. “Bị trói bằng dây, đặt giữa bụi gai” ví với tình trạng cưỡng bức của họ. “Ba năm” cũng có thể hiểu là “ba nước”, nghĩa là nếu ba nước chưa đạt được ham muốn thì việc sẽ chưa kết thúc. Tượng truyện nói: “Thượng lục mất đạo, xấu.” “Đạo” là đường; ba nước dựng đường sắt ở Trung Quốc, rõ ràng là mất đường, nên xấu.