Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ

Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 30 Ly là lửa. Ly: lợi về chính bền, hanh thông. Nuôi bò cái thì tốt lành.

Ly là lửa. Ly: lợi về chính bền, hanh thông. Nuôi bò cái thì tốt lành.

30 Ly là lửa

Quẻ Ly gồm hai hào âm và bốn hào dương, trên dưới hợp thành một thể. Ly là tượng chẵn. Hào lẻ thực có âm ở giữa, tích tụ mà thành Khảm; cái chẵn chia dương ở giữa, tách thành hai mà thành Ly. Nước làm nền cho sự bắt đầu, lửa làm nền cho sự sinh trưởng; nước hóa khí, lửa hóa hình, nên nói “đất thứ hai sinh ra lửa”. Lửa có tượng là cái chẵn; cái lẻ của Ly thành cái chẵn, cái chẵn hai phần thành Ly. Vì vậy, không gì biểu hiện Ly tốt hơn lửa. Lửa chỉ là một đốm sáng, nhưng Ly là muôn ngọn đuốc, gặp vật gì cũng thiêu đốt; lòng người chỉ là một tâm, nhưng Ly là muôn sự ứng nghiệm, chạm đến đâu cũng thông suốt. Chính vì bên trong lửa trống rỗng, nên nó mới có thể tách mà phát sáng.

Ly [144]: lợi về chính bền, hanh thông. Nuôi bò cái [145] thì tốt lành.



▲ Chữ triện của Ly



▲ Chữ triện của Ly

Hai hào của Khôn hợp thành Ly; âm trống rỗng bên trong, hướng vào mà kết hợp, nên thể quẻ lấy mềm làm chủ. Mềm thì dễ gần với bất chính; bất chính thì không hanh thông. Vì vậy, điều có lợi là hành xử chính đáng, nhờ đó mới hanh thông; cho nên chữ “hanh” đứng sau “lợi trinh”. Các quẻ khác đều nói “hanh lợi trinh”, riêng Ly lại nói “lợi trinh” trước rồi “hanh”, vì Ly bên trong mềm, bên ngoài cứng, không được chính vị: ban đầu tuy thông nhưng cuối cùng ắt bế tắc. Bởi vậy lợi ở chỗ giữ trinh, giữ trinh rồi mới hanh. “Nuôi bò cái thì tốt lành”: Ly là con của Khôn; Khôn là bò, Ly cũng là bò cái. Bò cái mềm thuận, mang tính của Khôn. Các hào âm biểu thị giống cái; hào hai và hào năm ở giữa, dương bao bọc âm là tượng nuôi dưỡng. Bò cái không dùng làm vật tế, lợi ở việc sinh sản, nên nói “nuôi”. Ly do hai hào của Khôn tạo thành. Khôn nói “ngựa cái”; ngựa cái lợi về đi xa nên lấy đức trinh. Ly nói “bò cái”; bò cái lợi về sinh sôi, nên không lấy đức trinh. Khôn làm nền cho sự sinh trưởng, Ly là lửa, lửa sinh đất; bò thuộc tính đất, có tượng sinh sôi không dứt, nên nói “nuôi bò cái thì tốt lành”.

Thoán truyện nói: Ly nghĩa là nương bám. Mặt trời và mặt trăng nương nơi trời; trăm thứ lúa, cỏ cây nương nơi đất. Ánh sáng chồng lên nhau, nương theo chính đạo, thì biến hóa và làm nên thiên hạ. Cái mềm nương nơi trung chính nên hanh thông; vì vậy nuôi bò cái thì tốt lành.

Quẻ Ly trên dưới đều là lửa, lấy tượng “ánh sáng hai lần phát sinh, đó là Ly”. “Ly là nương bám”; Ly là lửa. Lửa có khí mà không có hình cố định, nhờ bám vào vật mà hiện ra hình dạng. Vạn vật không gì không có chỗ nương bám. “Cái gốc ở trời thì gần với trên”, nên nương nơi trời; “cái gốc ở đất thì gần với dưới”, nên nương nơi đất. Mặt trời và mặt trăng ở trên trời, trăm thứ lúa cỏ cây ở trên đất, đều là tượng của ánh sáng. “Ánh sáng chồng lên nhau” nghĩa là Ly chồng lên Ly. Ly sáng vì giữa rỗng, có được thể của sự sáng chính đáng. Hào sáu ở vị trí thứ hai là hào chủ của Ly; hào năm lặp lại nó, kết hợp với hào hai để hoàn thành ánh sáng, nên nói “ánh sáng chồng lên nhau, nương nơi chính đạo”. Vì chỗ nương là chính, nên có thể hướng về ánh sáng mà trị nước, biến hóa thiên hạ. “Cái mềm nương nơi trung chính” chỉ hào sáu ở vị trí thứ hai. Hào hai lấy mềm ở vị trí mềm, vừa ở giữa vừa chính, được chỗ nương thích hợp, nên hanh thông. Ly có hai quẻ hỗ là Tốn và Đoài. Vị trí sao của Đoài ở phương tây, phía trên ứng với sao Mão. Phía nam sao Mão có sao gọi là Thiên Uyển, chủ việc chăn nuôi trâu ngựa; phía tây có sáu sao Cửu Cảo, chủ tích trữ cỏ làm thức ăn cho trâu ngựa. Vì vậy nói “nuôi bò cái”. Bò cái tính mềm thuận, trông vào người để được cho cỏ và chăn dắt. Sự nương bám của nó không có chủ ý; nương bám không vì tư lợi là mức chính đáng cao nhất, chính vì chính đáng nên tốt lành. Nương nơi trời đất là cái hanh thông lớn; nuôi bò cái là cái hanh thông nhỏ. Nêu cả lớn lẫn nhỏ thì bao quát đầy đủ công dụng của sự nương bám.

Đem quẻ này áp vào việc người, Ly do ở giữa trống rỗng mà thành, lòng người cũng trống rỗng ở giữa. Vì vậy Ly là lửa, lòng người cũng là lửa; Ly lấy sự sáng, lòng người cũng lấy sự sáng. Lửa vốn không có thực thể, nhờ nương vào vật mới sinh ngọn; tâm cũng không có hình, nhờ nương vào vật mới phát ra thần. Nương nơi mắt thì thành thấy, nơi tai thì thành nghe, nơi miệng thì thành ăn, nơi thân thì thành mọi động tác tiến lui xoay chuyển. Lòng người không ai không có chỗ nương. Nương nơi đạo thì chính, nương nơi dục thì tà, nương nơi đức thì trung, nương nơi lợi thì lệch. Cái tà và lệch ắt bế tắc; cái trung chính mới hanh thông. Từ chỗ lòng mình giữ gìn mà phát ra thành việc, mọi chỗ nương đều đạt được sự chính đáng. Từ lòng một người lan đến lòng nhiều người, thì trong thiên hạ không gì không được giáo hóa. Lòng người trống nên linh diệu; linh diệu nên sáng; sáng nên thông. Sở dĩ trống rỗng mà có thể linh diệu là vì đạt được cái chính của sự mềm.

Trong quẻ Ly, cái mềm ở giữa. Hai hào cứng bao bọc một hào mềm, tức dùng hai hào cứng để nuôi một hào mềm. Trong muôn loài, loài có tính mềm là bò; bò cái lại càng mềm hơn, nên dễ nuôi nhất. Ly nhờ hai hào mà được cái mềm của Khôn, vì vậy Khôn nói “ngựa cái”, Ly nói “bò cái”; ý nghĩa đều lấy ở sự mềm. Gần như quẻ này đang dạy người ta việc chăn nuôi vậy.

Đem quẻ này áp vào quốc gia, thượng quái thuộc về chính phủ, hạ quái thuộc về nhân dân. Ly là lửa, lửa bốc lên trên, nên uy thế và đức đều phát ra từ trên. Ly cũng là thai nghén; thai nghén có thể nuôi dưỡng sự sống, nên dân chúng bên dưới đều nhận được sự nuôi dưỡng. Trong Ly, hào hai ở ngôi chủ, hào năm ở ngôi tôn; hai hào đều âm, trên dưới cùng một thể, đủ cho thấy vua tôi đồng lòng, triều đình và dân gian cùng chí hướng. “Ly là nương bám”; bám vào vật thì vật mới hiện rõ. “Trên trời rủ xuống các tượng, dưới đất thành các hình”, tất cả đều nhờ chỗ nương mà hiển lộ; dấu hiệu trị nước cũng vậy. Nương vào mệnh lệnh chính trị là treo văn thư ở lầu cửa thành; nương vào hình phạt là đọc pháp luật tại Hổ Môn. Chính trị nghĩa là chính đáng. Nếu chỗ nương không chính, hình phạt sẽ không đúng mức, dân chúng sinh nhiều oán trách và phỉ báng. Nếu nương mà được chính, chính trị và giáo hóa sẽ hanh thông, dân đều cảm hóa. Giáo hóa đi từ gần đến xa, lan đến thiên hạ; đó cũng là điều có thể ca ngợi từ đây. “Nuôi bò cái” là nuôi dưỡng cái mềm. Chăn nuôi gia súc và trị dân vốn cùng một đạo. Điều Mạnh Tử nói “nhận trâu dê của người khác rồi chăn dắt chúng” về đại ý là nói cho người trị dân. Hiểu điều này thì nắm được đạo trị nước.

Xét toàn quẻ, Ly được hai hào từ Khôn, còn Khảm được hai hào từ Càn. Trong công dụng của trời đất, không gì quan trọng hơn nước và lửa. Thứ tự quẻ của Văn Vương bắt đầu bằng Càn và Khôn, đặt Khảm và Ly ở giữa, lấy hai quẻ này làm trung khí của trời đất; bên trên tiếp nhận Càn Khôn, bên dưới mở sang Hàm và Hằng. Cái thực ở giữa của Khảm tượng cho sự thành tín; cái rỗng ở giữa của Ly tượng cho sự sáng suốt. Thành tín và sáng suốt là công dụng nhiệm mầu của đạo lý Kinh Dịch, cũng là tâm học của bậc thánh. Gốc của sự sáng nằm ở bản thân, còn công dụng của nó thể hiện ở quốc gia.

Ly là lửa. Thử lấy đom đóm bay mà nhìn ánh nến, thì nến sáng hơn; lấy ánh nến mà nhìn các vì sao, thì các vì sao sáng hơn; lấy các vì sao mà nhìn mặt trời mặt trăng, thì mặt trời mặt trăng sáng hơn. Vì vậy, học thuật thiên lệch một phía giống như ánh đom đóm; học vấn của người làm văn giống như ánh nến; học vấn của người hiền giống như ánh sao; học vấn của bậc thánh giống như ánh mặt trời mặt trăng. Ánh sáng của bậc thánh, khi tồn tại thì không tì vết, khi vận hành thì không gián đoạn; đó là ánh sáng đến mức tột cùng. Ánh sáng sinh từ chỗ rỗng; bên trong đầy đặc thì ắt tối và không có ánh sáng. Ánh sáng hiển lộ nhờ sự mềm; quá cứng thì ắt bùng lên rồi tắt.

Quẻ Ly ở giữa trống rỗng và mềm; cái mềm được chính, nên bậc thánh dùng lửa nấu ăn để giáo hóa thiên hạ, và thiên hạ theo đó mà biến đổi. Công dụng của Ly trở nên chính, đạo của Ly trở nên hanh thông. Xét sáu hào: hào đầu là lúc bắt đầu, như lửa mới bén; lúc đầu nên kính cẩn, nên nói “không lỗi”. Hào hai ở giữa, được đúng vị, như mặt trời chính ngọ. Màu của Ly là vàng, nên nói “Ly vàng, đại cát”. Hào ba ở cuối nội quái, ánh sáng sắp tắt, như mặt trời gần chiều; vui buồn mất mức thường, nên xấu. Đó là ba hào bên trong. Hào chín ở vị trí bốn nằm giữa hai ngọn lửa, thế lửa bốc lên; thượng quái phần nhiều là điềm dữ, hào chín ở vị trí bốn lại gặp đúng chỗ, nên có họa “đột nhiên kéo đến”. Các chữ “bị đốt”, “chết”, “bị bỏ” đều nói về cái xấu của nó. Hào sáu ở vị trí năm được trung, ở ngôi tôn, làm chủ ngoại quái. Khi Ly đến hào năm, xét theo mặt trời thì đó là lúc ánh sáng được nối tiếp, thời bậc đại nhân tiếp nối ánh sáng và soi lâu dài. Lo khi đang thịnh, đề phòng nguy hiểm, gắng sức trị nước, vì vậy được tốt. Hào chín trên cùng ở cuối sự sáng. Đạo Ly đã thành, giáo hóa đã tới thiên hạ. Những kẻ ngoan cố không chịu biến hóa thì không thể không dùng binh lực, nên chinh phạt bổ sung chỗ lễ nhạc không thể đạt tới. Diệt kẻ cầm đầu, tha cho bè đảng; đó là quân đội của bậc vương giả. Có lỗi gì đâu! Đó là ba hào bên ngoài. Gộp lại, toàn quẻ Ly có hai hào chẵn ở vị trí hai và năm, ứng với nhau cả trong lẫn ngoài. Hào hai được con đường bước qua lúc thịnh; hào năm giữ nỗi sợ hãi để bảo toàn thái bình. Cả hai đều đạt đến trung và chính tột bậc, cùng được tốt lành. Điều Tượng truyện nói, “bậc đại nhân nối tiếp ánh sáng, soi chiếu bốn phương”, chính là hai hào hai và năm đạt được.

Tượng truyện nói: Hai ánh sáng cùng phát sinh, đó là Ly. Bậc đại nhân nối tiếp ánh sáng, soi chiếu bốn phương.

“Hai ánh sáng phát sinh” chỉ tượng Ly ở trong và Ly ở ngoài. Ly là mặt trời, nhưng không nói là “mặt trời” mà nói “ánh sáng”, vì trên trời không có hai mặt trời. Ly gồm sáu hào, là tượng Ly chồng lên nhau. Ánh sáng của mặt trời mặt trăng từ xưa đến nay không sai lệch; ánh sáng của bậc đại nhân soi khắp bốn phương, phân biệt trung với tà, biết nỗi khổ, chiếu vào nơi u tối, và tồn tại lâu dài. “Bậc đại nhân” nói về đức, cũng là danh xưng của vương công; đó là người hợp đức với trời đất, hợp ánh sáng với mặt trời mặt trăng. “Nối tiếp ánh sáng” nghĩa là Ly của nội quái tiếp nối bằng Ly của ngoại quái, chính là ý “hai ánh sáng phát sinh, đó là Ly”. Nếu công dụng của ánh sáng không được tiếp nối, có lúc sẽ tối. Vì thế phải như lời “làm sáng đức sáng” trong Đại Học, và lời khắc trên chậu tắm của vua Thang, “mỗi ngày đổi mới”; khi ấy mới có thể hướng về ánh sáng mà trị nước, để ánh sáng phủ khắp bốn phương.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Muốn thắng địch nên dùng hỏa công; bên phòng thủ cũng nên đề phòng hỏa công. “Hai lần phát sinh” e rằng trước sau đều bị thiêu cháy cùng lúc.


○ Hỏi về kinh doanh: Nghĩ rằng việc kinh doanh chắc liên quan đến lửa, hoặc vận chuyển và buôn bán lưu huỳnh, hoặc lập cơ sở điện lực, hoặc sản xuất diêm, đều có lợi.

○ Hỏi về công danh: Ly là mắt, có điềm đứng thứ hai trong bảng vàng.

○ Hỏi về nhà cửa: Nhà này ắt là nhà mới xây, trước sau thông thoáng, cửa sổ sáng sủa, bốn phía ngoài nhà rộng rãi. Đây là nhà của đại gia đình hoặc quý nhân, tốt lành.

○ Hỏi về hôn nhân: Đây không phải vợ chính phối ban đầu, ắt là kế thất; nhà chồng nhất định thuộc gia đình quý tộc, không phải duyên đôi của dân thường.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

○ Hỏi về bệnh tật: Thế nhiệt rất nặng, e rằng trong một hai ngày phải đề phòng thần hồn ly tán.

Hào sơ cửu: Bước đi rối ren; kính cẩn thì không lỗi.

Hào sơ cửu: Bước đi [146] rối ren [147]; kính cẩn thì không lỗi.

Tượng truyện nói: Sự kính cẩn trong lúc bước đi rối ren là để tránh lỗi.

Hào đầu là lúc bắt đầu của nội quái, như mặt trời vừa mọc, bình minh mới hé, là thời điểm mưu tính việc khởi đầu. “Bước đi” là đặt chân; “rối ren” là sự giao tiếp ứng đối đan xen. Khi việc nối tiếp dồn dập mà không xử lý bằng lòng kính cẩn, ắt hễ làm gì cũng mắc lỗi. Quẻ Lý nói “giẫm đuôi hổ”; bước mà biết sợ nên nói “tốt lành”. Quẻ này nói “bước đi rối ren”; bước mà vẫn có thể kính cẩn nên “không lỗi”. Cái bước đi là một. Họa phúc thường manh nha từ những dấu hiệu rất nhỏ. Lúc đầu biết thận trọng thì cuối cùng ắt không có họa. Đó là ý của câu “người quân tử kính cẩn nên không sai lầm”. Tượng truyện nói “sự kính cẩn khi bước đi rối ren là để tránh lỗi”; con người dùng thân mình tiếp xúc với sự vật, không cần tranh công, điều cần nhất là tránh lỗi. Đạo tránh lỗi chỉ ở chỗ giữ lòng kính cẩn.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào đầu là lúc bắt đầu, khi ba quân mới xuất hành, cờ xí và vết bánh xe đan chéo rối ren. “Kính” là ý gặp việc thì sợ hãi và thận trọng. Chiến tranh là việc nguy hiểm; xử lý thận trọng thì có thể tránh lỗi. Có người nói “sai” nghĩa là đi đường tà, nên tiến quân theo đường ngang.


○ Hỏi về thương nghiệp: Ắt là việc kinh doanh mới lập. Chi của hào sơ cửu là Tý, thuộc phương bắc và hành thủy; vị của quẻ ở phương nam, thuộc hỏa. Có lẽ là việc buôn bán giữa nam và bắc. Trong một thời gian khó hứa có lợi lớn, nhưng có thể không lỗi.

○ Hỏi về công danh: Kinh Thi nói: “Đá núi khác có thể dùng để mài ngọc”, ý nói được trợ giúp mà thành tựu.

○ Hỏi về nhà cửa: Quẻ Lý nói, “Đường bước đi bằng phẳng rộng rãi, người ẩn dật giữ trinh thì tốt lành”, vậy nhà ắt ở bên đường lớn. Tốt lành.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Một người bạn đến xin đoán vận khí, gieo được quẻ Ly biến thành quẻ Lữ.

Lời đoán nói: Ly là lửa. Tính lửa bốc cháy lên trên; công dụng của nó là soi sáng, lại đủ để sưởi ấm và nấu nướng, nên trong cõi người không thể thiếu dù chỉ một ngày. Phối với thân người, lửa là tâm hồn. Có tâm hồn mới có tri giác; có tri giác mới có thể mưu tính và làm nên mọi việc. Nay ông được hào đầu, biết rằng ắt là việc vừa bắt đầu mưu tính. Nhưng công của lửa rất lớn, họa do lửa gây ra cũng rất dữ. Khi mới bén lửa, càng phải cẩn thận. Chỉ cần sơ suất một chút, hào đầu ứng với hào bốn, sự việc lan đến hào bốn thì “đột nhiên kéo đến”, không lỗi nào lớn hơn. Vì vậy lời răn là “kính cẩn thì không lỗi”. Ông được hào này, nên biết điều cần sợ. Trong tượng hào, một hào ứng với một năm. Ba năm sau đúng vào hào bốn, càng phải thận trọng; đến năm thứ tư thì tốt lành.

Hào sáu ở vị trí thứ hai: Ly vàng, đại cát.

Hào sáu ở vị trí thứ hai: Ly vàng, đại cát.

Tượng truyện nói: Ly vàng, đại cát, là vì đạt được đạo trung.

Hào thứ hai là hào âm ở vị âm, làm chủ hào khiến quẻ Khôn thành hình, lại đắc vị trung chính. Câu trong Thoán truyện “hào mềm nương nơi trung chính” chính là chỉ hào này. Quẻ Ly tượng màu vàng, nên nói “Ly vàng”; vàng là màu trung ương, Ly là văn minh. Ở giữa mà thuộc về văn minh, vì vậy được “đại cát”. Tượng truyện nói “đắc đạo trung”. Trong sáu hào quẻ Ly, chỉ hào thứ hai là một hào mềm nằm giữa hai hào cứng, vừa trung vừa chính. Tượng truyện chỉ nói “đắc trung” mà không nói “chính”, vì sự chính đáng đã tự hiện hữu ở đó.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Quẻ Ly biến ở hào hai thành quẻ Đại Hữu. Tượng truyện của quẻ Đại Hữu nói: “Xe lớn chở được, chứa ở giữa nên không bị thua.” “Xe lớn” chỉ xe chiến; màu vàng là màu trung ương. “Chứa ở giữa” nghĩa là quân lương trong trung doanh dồi dào; “không bị thua” nghĩa là binh sĩ dũng mãnh khỏe mạnh, nhờ đó giành được thắng lợi. Vì vậy là điềm cát.


○ Hỏi về kinh doanh: Quẻ Ly thuộc phương Nam, nên kinh doanh ở phương Nam có lợi. Màu vàng thuộc Thổ, Thổ sinh Mộc, vì vậy các việc về đất đai và gỗ cũng có lợi.

○ Hỏi về công danh: Quẻ Ly ở phương Ngọ, ứng với Văn Xương, có tượng văn minh; công danh ắt hiển đạt.

○ Hỏi về gia trạch: Quẻ Ly là Hỏa, màu của Thổ là vàng, mà Thổ là con của Hỏa. Điều đó ví rằng nhà này sẽ có con trai giỏi, có thể làm rạng danh gia đình. Cát.

○ Hỏi về hôn nhân: Hào hai là âm ở vị âm, đắc trung chính, chủ vợ chồng thuận hòa, là đôi lứa tốt đẹp. Cát.

○ Hỏi về bệnh tật: Ắt là chứng nội hỏa uất kết ở trung tiêu, nên dùng phép thanh lương để giải trừ. Không lỗi.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Có người đến xin bói về một nhân vật quý hiển nọ, được quẻ Ly biến thành quẻ Đại Hữu.

Đoán rằng: Quẻ Ly là lửa, cũng là mặt trời. Được khí mềm mại ấm áp ấy, tự nhiên có đủ sức làm cây khô hồi sinh, khiến sự sống trở lại, tượng cho việc sưởi ấm và nuôi dưỡng muôn vật. Nay gieo được hào sáu ở vị trí hai, hào hai ứng với hào năm; hào năm là ngôi tôn quý. Vậy biết nhân vật quý hiển kia phò tá bậc chí tôn, vua tôi đồng đức. Quẻ Ly có đức văn minh, màu vàng thuộc trung ương; ắt sẽ nắm giữ đạo trung, trị nước tốt đẹp và mở mang văn minh. Vì thế nói: “Ly vàng, đại cát.”

Cửu tam: Ánh Ly của mặt trời đã xế; nếu không gõ vò đất mà ca hát, ắt sẽ than thở vì tuổi già lớn. Hung.

Cửu tam: Ánh Ly của mặt trời đã xế; nếu không gõ vò đất mà ca hát, ắt sẽ than thở vì tuổi già lớn. Hung.

Tượng truyện nói: Ánh Ly của mặt trời đã xế, làm sao có thể lâu dài được!

Cửu tam là hào dương ở vị dương, tượng từ sáng bước vào tối, nên nói “mặt trời xế”. Xế nghĩa là mặt trời sắp lặn. “Phẫu” là vò đất bụng lớn miệng hẹp. Quẻ Ly có hào dương ở trên dưới, hào âm ở giữa, hình dáng giống cái vò, nên lấy tượng cái vò. Quẻ Khảm nói “dùng vò”; vì giữa Khảm đầy nên dùng để đựng rượu, còn giữa Ly rỗng nên gõ để giữ nhịp nhạc. “Không gõ vò mà hát” nghĩa là hát không có tiết tấu. Quẻ hỗ của Ly là Đoài, thuộc chính Tây; mặt trời mọc ở Đông, lặn ở Tây, sắp khuất sau núi phía Tây, tượng cho tuổi suy và cảnh đời xế chiều, nên lấy tượng “tuổi già lớn”. Tám mươi tuổi gọi là “điệt”. Hào ba ở giữa hai quẻ, giống như tuổi khoảng năm mươi, chưa thể gọi là đại điệt. “Than” là tiếng buồn, chỉ việc chưa già đã than mình già. Hát thì vui mà mất tiết độ; than thì buồn mà mất thường độ. Vui buồn không đúng lúc khiến thần hồn điên đảo, thọ mệnh chẳng dài. Vì vậy là hung. Tượng truyện nói “làm sao lâu dài được” nghĩa là người như thế, lúc hát lúc than, đã bị Trời đoạt mất hồn vía, làm sao có thể tồn tại lâu dài?

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: “Mặt trời xế” nghĩa là trời sắp tối. Trong quân ngũ mà hát dài, than thở lớn tiếng, đều là dấu hiệu mất kỷ luật, điềm không tốt; đặc biệt phải đề phòng quân địch tập kích ban đêm.


○ Hỏi về kinh doanh: Chu Lễ, thiên Địa quan, chức Tư thị, nói: “Chợ lớn đến lúc mặt trời xế mới họp chợ”, nghĩa là giao dịch ở chợ lớn rất nhiều, đến lúc mặt trời xế người ta mới tụ họp. Hào từ nói “Ly của mặt trời xế”, tức sau khi mặt trời xế thì chợ tan. Khu chợ sẽ rối ren, người hát kẻ than, vui buồn không chừng mực, ắt làm tổn hại chính nghiệp. Nên răn dè.

○ Hỏi về công danh: E rằng tuổi đã lớn mà chẳng thành tựu gì, chỉ tự mình buồn than.

○ Hỏi về hôn nhân: Tượng gõ vò mà hát, khó mong cùng nhau sống đến già. Hung.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái, khó nuôi lớn.

【Ví dụ】 Một người bạn đến nói: “Tôi sắp cưới một cô gái. Xin bói xem lành dữ.” Gieo được quẻ Ly biến thành quẻ Phệ Hạp.

Đoán rằng: Hào từ nói “Ly của mặt trời xế”. Ly là chia lìa; “Ly của mặt trời xế” nghĩa là sau khi cưới lại phải chia lìa. “Gõ vò mà hát” là sợ mất mát; hát mà không gõ không phải là sợ mất mát, mà ắt sẽ sinh chia lìa. “Tiếng than vì tuổi già lớn” là than rằng không thể cùng nhau sống đến già. Hôn nhân này trước hết khó thành; nếu thành thì cũng chắc chắn chia lìa. Là điềm không tốt.

Sau đó người bạn không tin lời bói, nhờ mai mối cưới thành hôn. Chẳng bao lâu, vì trong nhà bất hòa, họ lại chia lìa, quả nhiên đúng như lời đã đoán.

【Ví dụ】 Năm Minh Trị thứ ba mươi, bói về quan hệ giữa nước ta và nước Pháp, được quẻ Ly biến thành quẻ Phệ Hạp.

Đoán rằng: Quẻ Ly tượng giáp trụ, dao và tên, đều chủ các binh khí dùng trong chiến tranh. Ly cũng tượng lửa, đủ dùng cho hỏa pháo. Nay bói về quan hệ với nước Pháp mà được hào ba, đó là lời báo rằng nước ta phải gấp rút chuẩn bị giáp trụ và khí giới. Hào từ nói “Ly của mặt trời xế”; mặt trời sắp nghiêng về phương Tây, cho thấy vận thế của đất phương Tây đang thịnh. “Không gõ vò mà hát thì có tiếng than vì tuổi già lớn” nghĩa là hát khi không nên hát, than khi không nên than, tức hành động sai thời cơ. Người giỏi mưu tính việc nước phải kịp thời sửa sang chuẩn bị; không được tự đắm mình trong an nhàn, cũng không cần tự phô ra vẻ suy yếu. Hòa mục với láng giềng, vun đắp giao hảo để bảo toàn kế lâu dài, đó mới là điều tốt.

Cửu tứ: Đột nhiên mà đến, đột nhiên bùng cháy, chết, rồi bị bỏ rơi.

Cửu tứ: Đột nhiên mà đến, đột nhiên bùng cháy[150], chết, rồi bị bỏ rơi[151].

Tượng truyện nói: Đột nhiên mà đến, không có chỗ nào dung chứa.

“Đột nhiên mà đến” nghĩa là tai họa dữ dội, cứng bạo, không thể dò đoán. “Như bị đốt” là cảnh vạn vật bị lửa dữ thiêu cháy. “Chết, bị bỏ” nghĩa là thân bị diệt, danh cũng theo đó mà bị phế bỏ. Hào bốn nằm giữa thượng quái và hạ quái: lửa ở hạ quái sắp tắt, lửa ở thượng quái lại bùng lên. Lửa bốc lên trên, thế càng dữ dội. Chữ “đột” được Dương Tử giải thích trong Phương ngôn: “Người Giang, Tương gọi việc bất chợt gặp nhau là đột.” Vì vậy “đột nhiên mà đến” là đến quá nhanh, không kịp phòng bị. “Như bị đốt” là thiêu nhà; “như chết” là hủy thân; “như bị bỏ” là nhấc lên rồi ném xuống khe rãnh. Bị đốt, chết rồi bị bỏ, tai họa nối tiếp nhau, cực kỳ hung dữ. Hào Cửu tứ ở lúc ba ngọn lửa truyền lửa cho nhau, nên ngọn lửa tai họa mới dữ dội như vậy. Tượng truyện nói “không có chỗ dung thân”, nghĩa là lửa áp sát, không còn chỗ để tránh. Hào bốn ứng với hào đầu; lửa của hào đầu còn có thể tránh, nhưng lửa của hào bốn quá mạnh, nhà tan người chết, không còn nơi dung thân. Có thuyết nói “đột” chỉ ống khói bếp, cùng chữ “đột” trong câu của Hán thư: “Bếp của người ấy có ống khói thẳng.” “Đột nhiên mà đến” là cảnh tế thần như thể thần đang hiện diện, rồi ngây ngất thấy thần đến. “Như bị đốt, như bị bỏ” nghĩa là thần bếp xét thấy người ấy làm ác nên giáng tai họa này xuống. Đây là một cách giải thích khác.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Có tai họa doanh lũy bị thiêu đốt, súng ống và đại bác nổ dữ dội. Thế kéo đến cuồn cuộn, cần hết sức đề phòng.


○ Hỏi về kinh doanh: Có họa mất cả người lẫn của. Nên giấu mình lui tránh, may ra mới thoát được.

○ Hỏi về công danh: Có thế dễ dàng đạt được như lấy đồ trong tay, nhưng chức vị và danh tiếng càng nặng thì tai họa càng dữ. Chi bằng lui về ở ẩn.

○ Hỏi về gia trạch: Theo thuyết xưa, “đột” chỉ đứa con bất hiếu; nhà này ắt sinh đứa con ngỗ nghịch. “Đốt”, “chết”, “bỏ” đều nói về tội lỗi của đứa con ấy.

○ Hỏi về hôn nhân: Hào bốn động thì thể quẻ là Cấn; Cấn là cửa quỷ u minh. Quẻ hỗ của Ly lại là Đoài, Đoài tượng người bị hình phạt. Hôn nhân này cực kỳ bất lợi.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái, ắt không nuôi được.

【Ví dụ】 Mùa xuân năm Minh Trị thứ hai mươi ba, một người bạn đến xin bói vận khí trong năm.

Đoán rằng: Cửu tứ nằm giữa hai ngọn lửa của thượng và hạ quái; lửa dưới sắp tắt, lửa trên lại bùng cháy. Lửa bốc lên trên nên trong quẻ Ly, hào bốn là hung nhất. Nay bói vận khí trong năm mà được hào bốn. Hào bốn lấy dương ở vị âm, ngoài cứng trong mềm, vị không trung cũng không chính, chủ có kẻ âm hiểm tà vạy xen vào khuấy động. Ban đầu nếu không nhận ra, đến khi thế lửa bùng lên, “đột nhiên mà đến”, tai họa không chỉ lan đến gia đình mà thân thể, da tóc và xương thịt cũng đều chịu vạ. Như lửa đồng cháy lan, không thể dập tắt. Đó là “bị đốt, chết, bị bỏ”. Ngài nên cẩn thận đề phòng kẻ tiểu nhân, chớ nuôi chó để rồi bị nó cắn tay.

Người ấy vốn tính nhu nhược, không mấy để tâm, nên giao việc cho một người cháu trẻ. Không ngờ người này hành động bừa bãi, vừa hung vừa độc, khiến gia sản của ông ta vì thế mà suy sụp tan nát, tai họa vẫn chưa dừng. Đến khi ông ta tỉnh ngộ hối hận thì đã quá muộn.

Lục ngũ: Nước mắt tuôn rơi, buồn bã than thở. Cát.

Lục ngũ: Nước mắt[152] tuôn rơi[153], buồn bã[154] than thở. Cát.

Tượng truyện nói: Cái cát của Lục ngũ là ở chỗ nương tựa vào bậc vương công.

Lục ngũ là chủ của ngoại quái, đắc trung, ở ngôi tôn quý và ứng với hào hai. Câu trong Tượng truyện “bậc đại nhân tiếp nối ánh sáng, soi chiếu lâu dài” chính là chỉ hào năm. Quẻ Ly tượng con mắt; thứ từ mắt chảy ra gọi là nước mắt, nên nói “nước mắt tuôn rơi”. Quẻ hỗ Đoài của Ly tượng cái miệng; tiếng than là âm thanh trầm phát ra từ miệng, nên nói “buồn bã than thở”. Chữ “nhược” diễn tả trạng thái chưa đến lúc phải rơi lệ mà như đang rơi lệ, chưa đến lúc phải than mà như đang than, tức hình dung tình trạng ưu sầu. Cửu tam là lúc vui hết thì buồn đến, với “tiếng than vì tuổi già lớn”, nên là điềm hung. Hào năm lo lắng sâu sắc, suy nghĩ đến hiểm nguy, đúng với câu “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”, nên cát. Tượng truyện nói “hào năm của Ly là công”, vì hào năm là địa vị của vương công.

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Dựa vào các chữ “tuôn rơi” và “than thở” trong hào từ, có ý biết sợ khi đối diện sự việc. Chiến tranh là việc nguy hiểm; biết sợ thì biết mưu tính, biết mưu tính thì có thể nắm phần thắng. Vì vậy là cát.


○ Hỏi về kinh doanh: Việc kinh doanh này ắt là công việc thương mại của vương gia hoặc công nghiệp, không phải kế sinh nhai riêng của dân thường. Vì vậy nói “nương tựa vào vương công”. Sự nghiệp ấy cũng ắt thành tựu qua gian khổ khó khăn.

○ Hỏi về công danh: Có thể lên đến chức tể phụ, cực kỳ quý hiển, nhưng nỗi lo và sự nhọc nhằn của bản thân sẽ tăng lên gấp bội, như Vũ Hầu cúi mình tận tụy đến kiệt sức; như vậy là cát.

○ Hỏi về hôn nhân: Hôn nhân này cực kỳ cao quý, nhưng có tượng trước tiên khóc than, về sau mới cười.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái, đề phòng khó sinh; cuối cùng vẫn cát.

【Ví dụ】 Bói vận số của một hào thương nọ, được quẻ Ly biến thành quẻ Đồng Nhân.

Đoán rằng: Hào năm ở ngôi tôn quý. Trong nước là vua một nước; trong nhà là chủ một nhà; trong làng là niềm trông cậy và danh vọng của cả làng. Hào từ “nước mắt tuôn rơi, buồn bã than thở” chỉ người biết lo liệu trước việc, phòng nguy, xét hiểm trong lúc đang thịnh, dùng trăm phương nghìn kế để cầu toàn. Chỉ người già dặn, từng trải mới làm được như vậy. Ngài gieo được hào này, đủ biết đã từng trải qua nhiều gian khổ; lúc thường cảnh khóc than của ngài hẳn vô cùng đau xót. Nhưng nhờ đức nối tiếp ánh sáng ấy, ngài đủ sức nhận biết cơ hội và then chốt của sự việc, giữ gìn gia nghiệp, không để những người trẻ trong họ hàng lừa dối. Vì vậy là cát.

Thượng cửu: Vua dùng để xuất chinh; có công chém đầu kẻ đầu sỏ, bắt được đồng bọn nhưng không trị tội. Không lỗi.

Thượng cửu: Vua dùng để xuất chinh; có công chém đầu kẻ đầu sỏ, bắt được đồng bọn nhưng không trị tội. Không lỗi.

Tượng truyện nói: Vua xuất chinh là để chỉnh đốn đất nước.

“Vua” chỉ Lục ngũ; “dùng” chỉ Thượng cửu. Quẻ Ly tượng binh khí, nên dùng để “xuất chinh”. “Đầu” là kẻ đầu sỏ; “đồng bọn” là hạng cùng phe. “Có công” là thưởng công. Điều đáng khen là chém đầu kẻ cầm đầu mà không trị đến đám đồng bọn, như Thư kinh nói: “Diệt tên đầu sỏ, kẻ bị cưỡng bức đi theo thì không trị tội.” Cửu tam ở trên cùng hạ quái, đối địch với Thượng cửu, không thuận vương hóa, làm hại sinh kế dân chúng. Vì thế Thượng cửu phụng mệnh xuất quân, trừ mối hại trong thiên hạ, bắt tên đầu sỏ và giết đi; những kẻ theo còn lại đều được tha. Đây thật là đạo quân thương dân phạt tội, quân của bậc vương giả, còn có lỗi gì nữa? Tượng truyện nói “để chỉnh đốn đất nước”, nghĩa là như Thang vương đánh Cát Bá, Văn vương đánh Côn Di, chỉ nhằm dẹp loạn và làm yên đất nước, há phải vì ham dùng binh đến cùng đâu!

  【Dự đoán】
○ Hỏi về chiến tranh: Hào từ đã chỉ rõ rồi. Quân của bậc vương giả không giết người bừa bãi; đó mới là đạo đúng.


○ Hỏi về kinh doanh: Buôn bán hàng hóa nên chọn hàng thượng hạng tốt đẹp, không lấy thứ kém phẩm chất, như vậy mới có lợi.

○ Hỏi về công danh: Ắt được tuyển chọn hàng đầu. Cát.

○ Hỏi về bệnh tật: “Chiết” nghĩa là chết yểu, không lợi.

○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.

【Ví dụ】 Tháng ba năm Minh Trị thứ bảy, loạn Saga nổi lên, triều đình sắp phát binh đi chinh phạt. Có một đại tá và một trung tá lục quân cùng đến nói: “Nay sắp xuất quân, xin hãy bói một quẻ.” Gieo được quẻ Ly biến thành quẻ Phong.

Đoán rằng: Hào từ “Vua dùng để xuất chinh” hoàn toàn phù hợp với việc hôm nay. Trong đám loạn đảng Saga ắt có kẻ chủ mưu, tức “đầu sỏ”, là kẻ đứng đầu cuộc loạn và đầu tội, tội ấy không thể tha. Những kẻ nhất thời hưởng ứng nổi dậy đều là hạng bị cưỡng bức đi theo. Nay loạn khởi ở Saga, triều đình truyền lệnh đưa quân đi đánh; đức Hoàng thượng của ta vốn có thần cơ diệu toán, lại luôn lấy việc không thích giết người làm lòng, ắt sẽ truyền cáo thiên hạ rằng: “Tội khởi binh xướng loạn chỉ ở một người. Trẫm thề sẽ bắt và giết hắn; ngoài ra không hỏi tội ai. Ai bắt được tên đầu sỏ sẽ được trọng thưởng.” Điều ấy hoàn toàn giống hào từ: “Có công chém đầu kẻ đầu sỏ, bắt đồng bọn nhưng không trị tội.” Theo quan hệ ứng giữa Thượng cửu và Cửu tam, Thượng cửu là quân vua, còn địch ắt thuộc Cửu tam. Cửu tam nói: “Ly của mặt trời xế, làm sao lâu dài được?” Biết rằng chuyến hành quân này nhất định sẽ thành công ngay khi quân đến nơi, và chỉ trong vài tuần sẽ dẹp yên được cuộc loạn.

Chưa đầy một tháng sau, Cù Sửu bị xử tử, và Saga cuối cùng được bình định.