☯
Cao Đảo Dịch Đoán · giải từng quẻ
Cao Đảo Dịch Đoán · Quẻ 45 Đầm trên Đất, Tụ: Vua đến tông miếu, lợi về gặp bậc đại nhân. Han thông, lợi về giữ chính. Dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi.
䷬
Đầm trên Đất, Tụ: Vua đến tông miếu, lợi về gặp bậc đại nhân. Han thông, lợi về giữ chính. Dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi.
Tụ: Vua đến tông miếu, lợi về gặp bậc đại nhân. Han thông, lợi về giữ chính. Dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi.
45 Đầm trên Đất, Tụ
Thể quẻ là đầm ở trên, đất ở dưới. Đầm có thể chứa nước, đất có thể chứa đầm. Quẻ thông với quẻ Đại Súc, có tượng tích chứa và tụ tập; đảo ngược thì thành quẻ Thăng, Tượng truyện của Thăng nói “tích lũy cái nhỏ để thành cao lớn”, có nghĩa tích tụ. Quẻ này đến từ quẻ Cấu. Tự quái truyện nói: “Cấu là gặp. Vạn vật gặp nhau rồi mới tụ lại, nên quẻ tiếp theo là Tụ. Tụ là tụ tập.” Vì vậy quẻ này được gọi là Tụ.
Tụ [40]: Han thông. Vua đến tông miếu [41], lợi về gặp bậc đại nhân. Han thông, lợi về giữ chính. Dùng lễ vật lớn [42] là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi.
▲ Triện thư của chữ “Tụ”
Tụ và Hoán có tên trái nhau, nhưng ý nghĩa lại cần đến nhau. Sự hanh thông của Hoán lấy ở nước chảy gió đi; sự hanh thông của Tụ lấy ở niềm vui của Đoài và sự thuận theo của Khôn. Hoán cũng có ý đến miếu; Hoán đến miếu biểu thị thần khí phát huy, còn Tụ đến miếu biểu thị lòng thành dồn tụ xuyên suốt. Một bên tan, một bên tụ, nghĩa tuy khác nhau nhưng đạo làm cho lòng thành đạt đến thì chỉ một. Bậc vương giả hợp niềm vui của muôn nước để phụng sự tổ tiên; chư hầu giúp sức, quân hộ vệ bảo vệ, ngựa tốt phi nhanh đến miếu—đó là sự thịnh vượng của Tụ. “Bậc đại nhân” chỉ hào Cửu Ngũ. Hào năm có vị trí của Tụ, có thể chế ngự quần chúng và trị loạn, nên nói “lợi về gặp”. “Hanh thông, lợi về giữ chính” đến từ lời của Đoài “hanh thông, lợi về giữ chính” và lời của Khôn “mềm thuận, giữ chính thì lợi”. Khôn tượng trâu, cũng tượng việc dùng, nên nói “dùng lễ vật lớn”. Nghĩa là bậc đại nhân có cuộc hội họp tốt đẹp thì nhất định phải giết trâu và kết minh. Đã kết minh thì có thể tiến hành, nên nói “lợi về có chỗ mà đi”.
Thoán truyện nói: “Tụ là tụ tập. Thuận theo mà vui, cứng ở giữa mà ứng nhau, nên có tụ. ‘Vua đến tông miếu’ là làm trọn việc dâng lễ hiếu kính. ‘Lợi về gặp bậc đại nhân, hanh thông’ là tụ bằng sự chính đáng. ‘Dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi’ là thuận theo mệnh trời. Xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể thấy được tình ý của trời đất và muôn vật.”
Khôn tượng sự tụ họp, còn đầm là nơi nước quy tụ; hợp lại gọi là Tụ. Tụ nghĩa là tụ tập. Trong quẻ này, trên vui, dưới thuận, trên dưới đồng lòng. Hào hai đắc trung, hào năm cương, hai và năm ứng nhau, nên có thể tụ. Về câu “Vua đến tông miếu”, Lục Tích nói: “Vua chỉ hào năm, miếu chỉ hào trên. Bậc vương giả tụ tập muôn vật để tế tổ tiên, chư hầu giúp việc tế trong miếu; đó gọi là đem lòng hiếu kính đến với quỷ thần.” Hào năm cương trung, hào hai ứng với nó, nên gọi là “đại nhân”. Hào hai nhận khí của Ly; Ly tượng con mắt, nên nói “lợi về thấy”. Tụ và Thăng trái nhau. Thăng nói “dùng việc gặp đại nhân”, không nói “lợi”, nên không nói “hanh”. Tụ nói “lợi về thấy”; đã lợi thì tất hanh, mà sở dĩ hanh là vì tụ được chính. “Lễ vật lớn” là con trâu. Tả truyện chú câu “dùng trâu bói ngày thì gọi là sinh” rằng: Đã được ngày tốt thì đổi tên con trâu thành sinh. Khôn tượng việc giết, bắt trâu của Khôn giết đi để dâng làm lễ vật, nên nói “lễ vật lớn tốt lành”. Dùng nó để tế thần thì có thể thu phục lòng thần; đi trợ tế thì có thể tập hợp sức mình. Sự tụ ấy không thể làm nên bằng thế lực cưỡng bức, chỉ có thể thuận theo mệnh trời. Xưa kia vua Thang nhà Ân dùng bò đực đen để cáo rõ với Hoàng Thiên và thề trước muôn phương. Sau mười một lần chinh phạt, ông không còn đối thủ nào dưới trời. Đó chính là minh chứng rõ ràng cho câu “dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi”, tức thuận theo mệnh trời.
Đem quẻ này áp vào việc người đời: bên trong thu tụ tinh thần, bên ngoài thu tụ tài lực, đều là Tụ. Nhưng không thuận thì tan, không vui thì lìa, không cương thì không có cách khiến quần chúng kính sợ, không trung thì không có cách khiến người ta phục tùng; tuy tụ rồi cuối cùng tất cũng thành Hoán. Chỉ có thuận mà vui, cương ở giữa để ứng, thì sự tụ tập mới đạt được chính đạo. “Miếu” là tông miếu, tế lễ theo nghi lễ để làm trọn lòng hiếu. “Đại nhân” là người chủ tế, trưởng một nhà. Đại nhân dẫn con cháu trong nhà làm việc ở tông miếu; con cháu vào miếu tất phải trước tiên gặp vị trưởng chủ tế, nên nói “lợi về gặp đại nhân”, mong sao lòng được thông đạt và đạo lý cũng chính đáng. “Lễ vật lớn” là lễ tế. Lễ lớn dùng trâu dê, lễ nhỏ dùng gà lợn, đều gọi là sinh. Lễ vật không phong phú thì không đủ để tế, không đầy đủ thì không thể tế, nên nói “dùng lễ vật lớn là tốt lành”. “Lợi về có chỗ mà đi” nối với việc phụng sự tế lễ và sai khiến dân; đạo lý vốn chỉ một. Người có thể vào trong lo việc tế lễ thì mới có thể ra ngoài cai trị dân, nên nói đi thì lợi. Việc của bản thân lấy tế lễ làm trọng, lấy hiếu làm đầu. Ở cõi u minh, lòng thành cảm đến tổ tiên; ở cõi hữu hình, hòa vui làm yên nhà cửa. Tuy gọi là việc người, há chẳng phải cũng là mệnh trời sao! Từ một nhà đến một nước, từ một nước đến thiên hạ, xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể biết tình ý của trời đất và muôn vật. Ý của Thoán truyện là bên trên tụ thần linh tông miếu, bên dưới tụ lòng vui thuận của bốn biển. Bậc thánh nhân dùng đạo hiếu trị thiên hạ, đức của dân trở về với sự chất phác đôn hậu, muôn nước đến cùng hòa hợp; đó là toàn tượng của Tụ. Như trời không gì không che, như đất không gì không chở, muôn vật đều hội tụ, phát sinh và nuôi dưỡng trong trời đất. Vì thế nói: “Xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể thấy tình ý của trời đất và muôn vật.”
Đem quẻ này áp vào quốc gia: Cốt yếu của quốc gia nằm ở đất rộng, dân đông. Đoài tượng niềm vui, Khôn tượng đất đai và quần chúng, có tượng dân vui vẻ quy phục và tụ họp. Thuận thì dân theo, vui thì dân phục, cương thì không khuất, trung thì không thiên lệch. Tất cả đều đủ để sai khiến quần chúng; giữ được chính đạo thì dân tụ. Bậc vương giả kế thừa thân thể và dòng thống trị, trước khi đối diện với dân, trước hết đến tông miếu để tiếp nhận trọng trách của tổ tiên. Hiếu kinh nói vua hợp lòng vui của muôn nước để phụng sự các tiên vương: bên trên làm trọn lòng thành hiếu kính và dâng lễ, bên dưới mở rộng đạo trị nước bằng hiếu, khiến lòng hiếu hưng thịnh trong thiên hạ. “Đại nhân” chính là vua. Lợi về thấy, lợi về đi, nghĩa là đông đảo hiền tài nối nhau chạy đến miếu, cùng chiêm bái vị tổ tiên sáng hiển, tận hiếu và dâng lễ. Khi ấy, lúc dâng lễ vật lớn là con đực và cùng nhau hành lễ, mọi người đều hướng về mệnh sáng của trời, không ai không cung kính, nghiêm trang. Sự thịnh vượng của Tụ không gì hơn thế. Vua noi theo trời, lấy đất làm phép; dùng việc trời đất cùng nuôi dưỡng muôn vật để liên kết muôn nước, thì tình ý của vua có thể sánh cùng trời đất. Cả sáu hào đều nhiều lần nói về Tụ: hào đầu dùng Tụ mà gây loạn, hào ba vì Tụ mà than thở, hào trên vì Tụ mà rơi lệ. Tất cả đều không đạt được sự tụ đúng đạo, thật đáng sợ. Hào năm được vị của Tụ, hào bốn được cái tốt của Tụ, hào hai được lòng thành của Tụ; đó chính là điều Thoán truyện nói: “Thuận theo mà vui, cương ở giữa mà ứng nhau, nên có tụ.” Dân quy về vua như nước chảy xuống chỗ thấp, qua đó có thể thấy công năng của Đầm trên Đất.
Xét toàn quẻ, điều này ứng với lời rằng: “Việc lớn của quốc gia nằm ở tế tự và quân sự.” Vì vậy Thoán truyện nói “dựng miếu”, còn Tượng truyện nói “đề phòng điều bất ngờ”; cốt yếu trước hết là được lòng dân. Đó là lý do quẻ này mang tên Tụ. Thể quẻ dưới thuận, trên vui; thuận mà vui nên muôn dân quy phục. Nhờ vậy, cầm biên đậu giúp việc tế lễ thì không sai lễ nghi; cầm giáo mác theo việc của vua thì hăng hái tiến lên, biết rõ phương hướng. Bề trên làm hưng thịnh lòng hiếu, bề dưới làm hưng thịnh lòng nhân; phong tục đồng nhất, đạo lý quy về một mối, muôn nước hòa hợp. Không gì tụ hội hơn thế. Tụ đổi vị trí thành Lâm; Tượng truyện của Lâm nói: “Bao dung và bảo hộ dân chúng không có giới hạn”—đó chính là tượng của Tụ. Hai quẻ đều do đầm và đất tạo thành: đầm đủ sức ban lợi cho dân, đất đủ sức dung chứa quần chúng. Vì vậy đầm ở dưới đất là Lâm, đất ở dưới đầm là Tụ. Trong sáu hào, hào năm là chủ của Tụ, là bậc đại nhân cương trung. Hào hai tụ về với hào năm; hào đầu và hào bốn cũng tụ về đó. Địa vị của hào năm đủ để gây nên sự tụ hội, nên nói “tụ ở địa vị”. Hào trên không có địa vị, khó tránh khỏi rơi lệ và bất an. Hào ba ứng với hào trên; hào trên buồn thì hào ba cũng than thở. Ba hào bên trong là Khôn. Đất tiếp nhận mọi vật quy về mà không kén đất; Tụ tuy đông người nhưng lòng chưa đồng nhất, nên hào đầu “kêu gọi”, hào ba “than thở”, còn hào hai tuy cát vẫn phải chờ được dẫn dắt. Ba hào bên ngoài là Đoài; vật tụ nơi đầm thì tự nhiên vui vẻ. Sự tụ hội của hào năm được “vĩnh viễn chính bền”; sự tụ hội của hào bốn tự nhiên “không lỗi”. Hào trên ở tận cùng của đầm; đầm đầy thì nước tràn, nên có tượng rơi lệ khổ sở. Người trong thiên hạ đều có ham muốn; không có người chủ thì sẽ loạn. Muôn nước đến hội với vua Vũ, vua Vũ trở thành đế; muôn dân vui lòng quy phục, nhà Chu của Vũ vương hưng khởi. Nơi lòng người hướng tới chính là nơi thiên mệnh quy về. Vì vậy, sự tụ hội không thể dùng sức mà giành được, chỉ có thể đạt bằng đức hóa.
Đại Tượng truyện nói: Đầm ở trên đất là quẻ Tụ. Bậc quân tử theo đó mà sửa sang vũ khí, đề phòng điều bất ngờ.
Đoài tượng cho kim loại, Khôn tượng cho đồ dùng, nên có tượng vũ khí. “Trừ” nghĩa là sửa sang, tu chỉnh. Sửa sang vũ khí để phòng điều bất ngờ chính là ý “có chuẩn bị thì không lo họa”. Tượng quẻ là đầm ở trên đất. Nước đầy thì tràn, phá bờ rồi cuồn cuộn lao đi, thế không gì chống nổi; vì vậy phải phòng bị từ trước. Nước cũng giống như quân đội, nên có thể lấy đó làm gương. Theo Mục Thiên Tử truyện, có bảy nhóm “quân Tụ”, tên gọi bắt nguồn từ các vệ sĩ cùng nghỉ và tụ tập thành vòng. Như vậy, Tụ chỉ những chiến sĩ phòng vệ dùng để ngăn loạn. Câu “sửa sang vũ khí” trong Tượng của Tụ hẳn lấy nghĩa ấy.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận khí bình thuận; chỉ cần ở yên mà không quên nguy cơ, tự nhiên sẽ được vui vẻ, không lo buồn.
○ Hỏi việc chinh chiến: Binh khí là vật dữ, chiến tranh là việc nguy hiểm. Chỉ cần biết lo sợ khi lâm sự, mưu tính kỹ rồi thành công thì có thể không gặp họa ngoài ý muốn.
○ Hỏi việc kinh doanh: Tụ có tượng tiền của quy tụ, nhưng tụ ắt có lúc tan, đầy ắt có lúc vơi; đó cũng là vòng tuần hoàn của sự vật, cần luôn phòng bị từ trước.
○ Hỏi công danh: Nên lập danh nhờ võ công.
○ Hỏi hôn nhân: “Không phải giặc cướp mà là người kết hôn.” Kinh Dịch thường đặt giặc cướp và hôn nhân đối nhau; phòng họa binh đao cũng như phòng nữ họa. Chỉ cần đề phòng từ trước thì tự nhiên không lỗi.
○ Hỏi nhà cửa: Đầm ở trên nước, có tượng phải đề phòng nước lớn tràn vào nhà.
○ Hỏi bệnh tật: Đề phòng chứng trướng nước ở ngực và bụng, nên điều trị điều dưỡng từ sớm.
○ Hỏi người đi xa: Bị quân binh cản trở giữa đường, một thời gian khó trở về.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
45 Đầm trên Đất, Tụ
Thể quẻ là đầm ở trên, đất ở dưới. Đầm có thể chứa nước, đất có thể chứa đầm. Quẻ thông với quẻ Đại Súc, có tượng tích chứa và tụ tập; đảo ngược thì thành quẻ Thăng, Tượng truyện của Thăng nói “tích lũy cái nhỏ để thành cao lớn”, có nghĩa tích tụ. Quẻ này đến từ quẻ Cấu. Tự quái truyện nói: “Cấu là gặp. Vạn vật gặp nhau rồi mới tụ lại, nên quẻ tiếp theo là Tụ. Tụ là tụ tập.” Vì vậy quẻ này được gọi là Tụ.
Tụ [40]: Han thông. Vua đến tông miếu [41], lợi về gặp bậc đại nhân. Han thông, lợi về giữ chính. Dùng lễ vật lớn [42] là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi.
▲ Triện thư của chữ “Tụ”
Tụ và Hoán có tên trái nhau, nhưng ý nghĩa lại cần đến nhau. Sự hanh thông của Hoán lấy ở nước chảy gió đi; sự hanh thông của Tụ lấy ở niềm vui của Đoài và sự thuận theo của Khôn. Hoán cũng có ý đến miếu; Hoán đến miếu biểu thị thần khí phát huy, còn Tụ đến miếu biểu thị lòng thành dồn tụ xuyên suốt. Một bên tan, một bên tụ, nghĩa tuy khác nhau nhưng đạo làm cho lòng thành đạt đến thì chỉ một. Bậc vương giả hợp niềm vui của muôn nước để phụng sự tổ tiên; chư hầu giúp sức, quân hộ vệ bảo vệ, ngựa tốt phi nhanh đến miếu—đó là sự thịnh vượng của Tụ. “Bậc đại nhân” chỉ hào Cửu Ngũ. Hào năm có vị trí của Tụ, có thể chế ngự quần chúng và trị loạn, nên nói “lợi về gặp”. “Hanh thông, lợi về giữ chính” đến từ lời của Đoài “hanh thông, lợi về giữ chính” và lời của Khôn “mềm thuận, giữ chính thì lợi”. Khôn tượng trâu, cũng tượng việc dùng, nên nói “dùng lễ vật lớn”. Nghĩa là bậc đại nhân có cuộc hội họp tốt đẹp thì nhất định phải giết trâu và kết minh. Đã kết minh thì có thể tiến hành, nên nói “lợi về có chỗ mà đi”.
Thoán truyện nói: “Tụ là tụ tập. Thuận theo mà vui, cứng ở giữa mà ứng nhau, nên có tụ. ‘Vua đến tông miếu’ là làm trọn việc dâng lễ hiếu kính. ‘Lợi về gặp bậc đại nhân, hanh thông’ là tụ bằng sự chính đáng. ‘Dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi’ là thuận theo mệnh trời. Xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể thấy được tình ý của trời đất và muôn vật.”
Khôn tượng sự tụ họp, còn đầm là nơi nước quy tụ; hợp lại gọi là Tụ. Tụ nghĩa là tụ tập. Trong quẻ này, trên vui, dưới thuận, trên dưới đồng lòng. Hào hai đắc trung, hào năm cương, hai và năm ứng nhau, nên có thể tụ. Về câu “Vua đến tông miếu”, Lục Tích nói: “Vua chỉ hào năm, miếu chỉ hào trên. Bậc vương giả tụ tập muôn vật để tế tổ tiên, chư hầu giúp việc tế trong miếu; đó gọi là đem lòng hiếu kính đến với quỷ thần.” Hào năm cương trung, hào hai ứng với nó, nên gọi là “đại nhân”. Hào hai nhận khí của Ly; Ly tượng con mắt, nên nói “lợi về thấy”. Tụ và Thăng trái nhau. Thăng nói “dùng việc gặp đại nhân”, không nói “lợi”, nên không nói “hanh”. Tụ nói “lợi về thấy”; đã lợi thì tất hanh, mà sở dĩ hanh là vì tụ được chính. “Lễ vật lớn” là con trâu. Tả truyện chú câu “dùng trâu bói ngày thì gọi là sinh” rằng: Đã được ngày tốt thì đổi tên con trâu thành sinh. Khôn tượng việc giết, bắt trâu của Khôn giết đi để dâng làm lễ vật, nên nói “lễ vật lớn tốt lành”. Dùng nó để tế thần thì có thể thu phục lòng thần; đi trợ tế thì có thể tập hợp sức mình. Sự tụ ấy không thể làm nên bằng thế lực cưỡng bức, chỉ có thể thuận theo mệnh trời. Xưa kia vua Thang nhà Ân dùng bò đực đen để cáo rõ với Hoàng Thiên và thề trước muôn phương. Sau mười một lần chinh phạt, ông không còn đối thủ nào dưới trời. Đó chính là minh chứng rõ ràng cho câu “dùng lễ vật lớn là tốt lành, lợi về có chỗ mà đi”, tức thuận theo mệnh trời.
Đem quẻ này áp vào việc người đời: bên trong thu tụ tinh thần, bên ngoài thu tụ tài lực, đều là Tụ. Nhưng không thuận thì tan, không vui thì lìa, không cương thì không có cách khiến quần chúng kính sợ, không trung thì không có cách khiến người ta phục tùng; tuy tụ rồi cuối cùng tất cũng thành Hoán. Chỉ có thuận mà vui, cương ở giữa để ứng, thì sự tụ tập mới đạt được chính đạo. “Miếu” là tông miếu, tế lễ theo nghi lễ để làm trọn lòng hiếu. “Đại nhân” là người chủ tế, trưởng một nhà. Đại nhân dẫn con cháu trong nhà làm việc ở tông miếu; con cháu vào miếu tất phải trước tiên gặp vị trưởng chủ tế, nên nói “lợi về gặp đại nhân”, mong sao lòng được thông đạt và đạo lý cũng chính đáng. “Lễ vật lớn” là lễ tế. Lễ lớn dùng trâu dê, lễ nhỏ dùng gà lợn, đều gọi là sinh. Lễ vật không phong phú thì không đủ để tế, không đầy đủ thì không thể tế, nên nói “dùng lễ vật lớn là tốt lành”. “Lợi về có chỗ mà đi” nối với việc phụng sự tế lễ và sai khiến dân; đạo lý vốn chỉ một. Người có thể vào trong lo việc tế lễ thì mới có thể ra ngoài cai trị dân, nên nói đi thì lợi. Việc của bản thân lấy tế lễ làm trọng, lấy hiếu làm đầu. Ở cõi u minh, lòng thành cảm đến tổ tiên; ở cõi hữu hình, hòa vui làm yên nhà cửa. Tuy gọi là việc người, há chẳng phải cũng là mệnh trời sao! Từ một nhà đến một nước, từ một nước đến thiên hạ, xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể biết tình ý của trời đất và muôn vật. Ý của Thoán truyện là bên trên tụ thần linh tông miếu, bên dưới tụ lòng vui thuận của bốn biển. Bậc thánh nhân dùng đạo hiếu trị thiên hạ, đức của dân trở về với sự chất phác đôn hậu, muôn nước đến cùng hòa hợp; đó là toàn tượng của Tụ. Như trời không gì không che, như đất không gì không chở, muôn vật đều hội tụ, phát sinh và nuôi dưỡng trong trời đất. Vì thế nói: “Xem họ tụ tập quanh điều gì thì có thể thấy tình ý của trời đất và muôn vật.”
Đem quẻ này áp vào quốc gia: Cốt yếu của quốc gia nằm ở đất rộng, dân đông. Đoài tượng niềm vui, Khôn tượng đất đai và quần chúng, có tượng dân vui vẻ quy phục và tụ họp. Thuận thì dân theo, vui thì dân phục, cương thì không khuất, trung thì không thiên lệch. Tất cả đều đủ để sai khiến quần chúng; giữ được chính đạo thì dân tụ. Bậc vương giả kế thừa thân thể và dòng thống trị, trước khi đối diện với dân, trước hết đến tông miếu để tiếp nhận trọng trách của tổ tiên. Hiếu kinh nói vua hợp lòng vui của muôn nước để phụng sự các tiên vương: bên trên làm trọn lòng thành hiếu kính và dâng lễ, bên dưới mở rộng đạo trị nước bằng hiếu, khiến lòng hiếu hưng thịnh trong thiên hạ. “Đại nhân” chính là vua. Lợi về thấy, lợi về đi, nghĩa là đông đảo hiền tài nối nhau chạy đến miếu, cùng chiêm bái vị tổ tiên sáng hiển, tận hiếu và dâng lễ. Khi ấy, lúc dâng lễ vật lớn là con đực và cùng nhau hành lễ, mọi người đều hướng về mệnh sáng của trời, không ai không cung kính, nghiêm trang. Sự thịnh vượng của Tụ không gì hơn thế. Vua noi theo trời, lấy đất làm phép; dùng việc trời đất cùng nuôi dưỡng muôn vật để liên kết muôn nước, thì tình ý của vua có thể sánh cùng trời đất. Cả sáu hào đều nhiều lần nói về Tụ: hào đầu dùng Tụ mà gây loạn, hào ba vì Tụ mà than thở, hào trên vì Tụ mà rơi lệ. Tất cả đều không đạt được sự tụ đúng đạo, thật đáng sợ. Hào năm được vị của Tụ, hào bốn được cái tốt của Tụ, hào hai được lòng thành của Tụ; đó chính là điều Thoán truyện nói: “Thuận theo mà vui, cương ở giữa mà ứng nhau, nên có tụ.” Dân quy về vua như nước chảy xuống chỗ thấp, qua đó có thể thấy công năng của Đầm trên Đất.
Xét toàn quẻ, điều này ứng với lời rằng: “Việc lớn của quốc gia nằm ở tế tự và quân sự.” Vì vậy Thoán truyện nói “dựng miếu”, còn Tượng truyện nói “đề phòng điều bất ngờ”; cốt yếu trước hết là được lòng dân. Đó là lý do quẻ này mang tên Tụ. Thể quẻ dưới thuận, trên vui; thuận mà vui nên muôn dân quy phục. Nhờ vậy, cầm biên đậu giúp việc tế lễ thì không sai lễ nghi; cầm giáo mác theo việc của vua thì hăng hái tiến lên, biết rõ phương hướng. Bề trên làm hưng thịnh lòng hiếu, bề dưới làm hưng thịnh lòng nhân; phong tục đồng nhất, đạo lý quy về một mối, muôn nước hòa hợp. Không gì tụ hội hơn thế. Tụ đổi vị trí thành Lâm; Tượng truyện của Lâm nói: “Bao dung và bảo hộ dân chúng không có giới hạn”—đó chính là tượng của Tụ. Hai quẻ đều do đầm và đất tạo thành: đầm đủ sức ban lợi cho dân, đất đủ sức dung chứa quần chúng. Vì vậy đầm ở dưới đất là Lâm, đất ở dưới đầm là Tụ. Trong sáu hào, hào năm là chủ của Tụ, là bậc đại nhân cương trung. Hào hai tụ về với hào năm; hào đầu và hào bốn cũng tụ về đó. Địa vị của hào năm đủ để gây nên sự tụ hội, nên nói “tụ ở địa vị”. Hào trên không có địa vị, khó tránh khỏi rơi lệ và bất an. Hào ba ứng với hào trên; hào trên buồn thì hào ba cũng than thở. Ba hào bên trong là Khôn. Đất tiếp nhận mọi vật quy về mà không kén đất; Tụ tuy đông người nhưng lòng chưa đồng nhất, nên hào đầu “kêu gọi”, hào ba “than thở”, còn hào hai tuy cát vẫn phải chờ được dẫn dắt. Ba hào bên ngoài là Đoài; vật tụ nơi đầm thì tự nhiên vui vẻ. Sự tụ hội của hào năm được “vĩnh viễn chính bền”; sự tụ hội của hào bốn tự nhiên “không lỗi”. Hào trên ở tận cùng của đầm; đầm đầy thì nước tràn, nên có tượng rơi lệ khổ sở. Người trong thiên hạ đều có ham muốn; không có người chủ thì sẽ loạn. Muôn nước đến hội với vua Vũ, vua Vũ trở thành đế; muôn dân vui lòng quy phục, nhà Chu của Vũ vương hưng khởi. Nơi lòng người hướng tới chính là nơi thiên mệnh quy về. Vì vậy, sự tụ hội không thể dùng sức mà giành được, chỉ có thể đạt bằng đức hóa.
Đại Tượng truyện nói: Đầm ở trên đất là quẻ Tụ. Bậc quân tử theo đó mà sửa sang vũ khí, đề phòng điều bất ngờ.
Đoài tượng cho kim loại, Khôn tượng cho đồ dùng, nên có tượng vũ khí. “Trừ” nghĩa là sửa sang, tu chỉnh. Sửa sang vũ khí để phòng điều bất ngờ chính là ý “có chuẩn bị thì không lo họa”. Tượng quẻ là đầm ở trên đất. Nước đầy thì tràn, phá bờ rồi cuồn cuộn lao đi, thế không gì chống nổi; vì vậy phải phòng bị từ trước. Nước cũng giống như quân đội, nên có thể lấy đó làm gương. Theo Mục Thiên Tử truyện, có bảy nhóm “quân Tụ”, tên gọi bắt nguồn từ các vệ sĩ cùng nghỉ và tụ tập thành vòng. Như vậy, Tụ chỉ những chiến sĩ phòng vệ dùng để ngăn loạn. Câu “sửa sang vũ khí” trong Tượng của Tụ hẳn lấy nghĩa ấy.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận khí bình thuận; chỉ cần ở yên mà không quên nguy cơ, tự nhiên sẽ được vui vẻ, không lo buồn.
○ Hỏi việc chinh chiến: Binh khí là vật dữ, chiến tranh là việc nguy hiểm. Chỉ cần biết lo sợ khi lâm sự, mưu tính kỹ rồi thành công thì có thể không gặp họa ngoài ý muốn.
○ Hỏi việc kinh doanh: Tụ có tượng tiền của quy tụ, nhưng tụ ắt có lúc tan, đầy ắt có lúc vơi; đó cũng là vòng tuần hoàn của sự vật, cần luôn phòng bị từ trước.
○ Hỏi công danh: Nên lập danh nhờ võ công.
○ Hỏi hôn nhân: “Không phải giặc cướp mà là người kết hôn.” Kinh Dịch thường đặt giặc cướp và hôn nhân đối nhau; phòng họa binh đao cũng như phòng nữ họa. Chỉ cần đề phòng từ trước thì tự nhiên không lỗi.
○ Hỏi nhà cửa: Đầm ở trên nước, có tượng phải đề phòng nước lớn tràn vào nhà.
○ Hỏi bệnh tật: Đề phòng chứng trướng nước ở ngực và bụng, nên điều trị điều dưỡng từ sớm.
○ Hỏi người đi xa: Bị quân binh cản trở giữa đường, một thời gian khó trở về.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
Sơ lục: Có lòng tin nhưng không đến cùng, rồi loạn rồi tụ. Nếu kêu gọi, một cái nắm tay sẽ trở thành tiếng cười. Chớ buồn lo; tiến tới thì không lỗi.
Sơ lục: Có lòng tin nhưng không đến cùng, rồi loạn rồi tụ. Nếu kêu gọi, một cái nắm tay sẽ trở thành tiếng cười. Chớ buồn lo; tiến tới thì không lỗi.
Tượng truyện nói: Rồi loạn rồi tụ, ấy là vì chí hướng của họ rối loạn.
Đoài tượng cho lòng tin, nên nói “có lòng tin”. Khôn tượng cho sự kết thúc; hào đầu mất vị, nên nói “không đến cùng”. Khôn vừa tượng cho tụ tập vừa tượng cho rối loạn, nên nói “rồi loạn rồi tụ”. Hào đầu ở thời điểm khởi đầu của Tụ, lòng tin lẫn nhau còn nông cạn, vì vậy có đầu mà ít có cuối. Không đạt được kết thúc thì một niệm tụ ở đây dễ đổi sang một niệm tụ ở kia; chí hướng đã rối loạn từ trước, sự tụ tập chỉ làm loạn kéo dài thêm. Tượng truyện giải thích là “chí hướng rối loạn”. Chữ “nãi” ở đây gần như nói “ngươi”: chính ngươi tụ họp, chính ngươi làm rối loạn. Hào đầu âm nhu ở dưới, dù được lòng người cũng chưa đủ sức thống lĩnh họ. Hào đầu chính ứng với hào bốn, nên quyền chế ngự sự tụ hội phải ở hào bốn. “Nếu” nghĩa là thuận theo; “kêu” nghĩa là ra lệnh, tức thuận theo hiệu lệnh của hào bốn. “Một nắm tay thành tiếng cười” nghĩa là đối đãi với nhau bằng lòng thành, khiến mọi người đều vui; đó là điều Thoán truyện gọi là “thuận mà vui”. Quẻ hỗ trên là Tốn, tượng cho lời kêu gọi; quẻ hỗ dưới là Cấn, tượng cho sự nắm giữ. Nắm tay cũng như bắt tay, giống câu của Thoái Chi: “Nắm tay nhau, bộc lộ cả tâm phế cho nhau thấy.” Đoài tượng cho miệng, nên nói “cười”. Đã được tiếng cười thì “chớ buồn lo”. “Đi” là đi đến hào bốn. Hào bốn có thể cùng thi hành ân huệ và uy quyền, nên hào đầu không biến thành đám đông ô hợp gây loạn; vì vậy nói “không lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận đang ở buổi đầu, lúc thuận lúc nghịch, biến đổi thất thường. Được người cứu giúp thì không lỗi.
○ Hỏi công danh: Khi thì vinh, khi thì nhục, là vì trong lòng không có chủ định.
○ Hỏi việc kinh doanh: Có đầu mà không có cuối, tụ tán bất định, không thể thu lợi, chỉ miễn được lỗi mà thôi.
○ Hỏi việc chinh chiến: Thống lĩnh quân đội xuất chinh, phải đề phòng nỗi lo binh biến.
○ Hỏi hôn nhân: Có tượng ban đầu rối ren, cuối cùng vẫn thành hôn.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh này lúc kêu khóc lúc cười, do tâm thần hôn loạn. Đi tìm thầy thuốc thì chắc chắn không lỗi; có thể không phải lo.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng mười năm Minh Trị thứ mười lăm, một trận đại hồng thủy bất ngờ xảy ra, cuốn sập cây cầu tạm ở cửa sông Toda thuộc tuyến đường sắt giữa Ueno và Takasaki. Trước đây tôi từng phụ trách công trình này, nên đến gặp ông Inoue, cục trưởng Cục Đường sắt. Ông Inoue nói: “Cầu tạm ở cửa sông bị nước phá hỏng, đường sắt bị tắc, không thể không khẩn cấp bàn việc sửa dựng. Bờ đê cửa sông cao hơn mặt đất bằng hơn ba mét. Nếu xây một cầu sắt kiên cố thì công trình lớn, kinh phí cũng rất cao; nếu lại dựng cầu tạm thì hễ lũ về sẽ bị cuốn trôi, cũng không phải kế hay. Vậy nên làm thế nào? Xin ông trù tính giúp.” Tôi nói: “Chi bằng hỏi thần linh qua Kinh Dịch.” Bèn gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Tùy.
Lời đoán nói: Quẻ này có đầm ở trên đất, rõ ràng biểu thị tượng lũ lụt tràn lan. Gieo được hào đầu, biết rằng cây cầu tạm này không bền, vừa dựng đã đổ, dựng lại rồi lại đổ; vì vậy nói: “Có lòng tin nhưng không đến cùng, rồi loạn rồi tụ.” Hào đầu chính ứng với hào bốn, nên phải nghe lệnh hào bốn. “Nếu kêu gọi” là hiệu lệnh của hào bốn; “nắm” cũng như cầm giữ. Được hiệu lệnh của hào bốn, mọi người đều vui mừng, sẵn lòng đảm nhận công việc. Đoài tượng cho niềm vui; đó là ý “làm cho dân vui khi lao động, dân sẽ quên nhọc nhằn”, nên nói “một cái nắm tay thành tiếng cười”. Nhưng hào bốn không ở đúng vị, ắt vị trí cây cầu cũng không thích hợp. Hào năm nói “tụ ở địa vị”, vậy vị trí nên theo hào năm. Hào năm biến thành quẻ Dự; Dự có nghĩa chuẩn bị trước. Quẻ Dự trên là Chấn, dưới là Khôn; quẻ Tụ trên là Đoài. Đoài thuộc phương tây, Chấn thuộc phương đông; đổi Đoài thành Chấn nghĩa là chuyển cầu từ phía tây sang phía đông, để được đúng vị. Khôn ở dưới là đất, tượng cho bề dày và nền móng. Nên đắp đất từ mặt bằng làm nền, dựng cầu trên đó, rồi đặt dây cáp sắt buộc vào hai bờ đê. Nước dâng thì cầu nâng theo mực nước, nước rút thì hạ theo mặt bằng, tránh được họa bị nước cuốn phá. Vì vậy đạt được “không lỗi”.
Nghe xong, ông Inoue cũng cho là phải. Sau đó mọi người quyết định và xây cầu theo cách này. Năm sau nước lại dâng rất lớn, nhưng cầu vẫn không hề hấn gì, càng khiến người ta thán phục sự thần diệu của tượng Dịch.
Tượng truyện nói: Rồi loạn rồi tụ, ấy là vì chí hướng của họ rối loạn.
Đoài tượng cho lòng tin, nên nói “có lòng tin”. Khôn tượng cho sự kết thúc; hào đầu mất vị, nên nói “không đến cùng”. Khôn vừa tượng cho tụ tập vừa tượng cho rối loạn, nên nói “rồi loạn rồi tụ”. Hào đầu ở thời điểm khởi đầu của Tụ, lòng tin lẫn nhau còn nông cạn, vì vậy có đầu mà ít có cuối. Không đạt được kết thúc thì một niệm tụ ở đây dễ đổi sang một niệm tụ ở kia; chí hướng đã rối loạn từ trước, sự tụ tập chỉ làm loạn kéo dài thêm. Tượng truyện giải thích là “chí hướng rối loạn”. Chữ “nãi” ở đây gần như nói “ngươi”: chính ngươi tụ họp, chính ngươi làm rối loạn. Hào đầu âm nhu ở dưới, dù được lòng người cũng chưa đủ sức thống lĩnh họ. Hào đầu chính ứng với hào bốn, nên quyền chế ngự sự tụ hội phải ở hào bốn. “Nếu” nghĩa là thuận theo; “kêu” nghĩa là ra lệnh, tức thuận theo hiệu lệnh của hào bốn. “Một nắm tay thành tiếng cười” nghĩa là đối đãi với nhau bằng lòng thành, khiến mọi người đều vui; đó là điều Thoán truyện gọi là “thuận mà vui”. Quẻ hỗ trên là Tốn, tượng cho lời kêu gọi; quẻ hỗ dưới là Cấn, tượng cho sự nắm giữ. Nắm tay cũng như bắt tay, giống câu của Thoái Chi: “Nắm tay nhau, bộc lộ cả tâm phế cho nhau thấy.” Đoài tượng cho miệng, nên nói “cười”. Đã được tiếng cười thì “chớ buồn lo”. “Đi” là đi đến hào bốn. Hào bốn có thể cùng thi hành ân huệ và uy quyền, nên hào đầu không biến thành đám đông ô hợp gây loạn; vì vậy nói “không lỗi”.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận đang ở buổi đầu, lúc thuận lúc nghịch, biến đổi thất thường. Được người cứu giúp thì không lỗi.
○ Hỏi công danh: Khi thì vinh, khi thì nhục, là vì trong lòng không có chủ định.
○ Hỏi việc kinh doanh: Có đầu mà không có cuối, tụ tán bất định, không thể thu lợi, chỉ miễn được lỗi mà thôi.
○ Hỏi việc chinh chiến: Thống lĩnh quân đội xuất chinh, phải đề phòng nỗi lo binh biến.
○ Hỏi hôn nhân: Có tượng ban đầu rối ren, cuối cùng vẫn thành hôn.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh này lúc kêu khóc lúc cười, do tâm thần hôn loạn. Đi tìm thầy thuốc thì chắc chắn không lỗi; có thể không phải lo.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng mười năm Minh Trị thứ mười lăm, một trận đại hồng thủy bất ngờ xảy ra, cuốn sập cây cầu tạm ở cửa sông Toda thuộc tuyến đường sắt giữa Ueno và Takasaki. Trước đây tôi từng phụ trách công trình này, nên đến gặp ông Inoue, cục trưởng Cục Đường sắt. Ông Inoue nói: “Cầu tạm ở cửa sông bị nước phá hỏng, đường sắt bị tắc, không thể không khẩn cấp bàn việc sửa dựng. Bờ đê cửa sông cao hơn mặt đất bằng hơn ba mét. Nếu xây một cầu sắt kiên cố thì công trình lớn, kinh phí cũng rất cao; nếu lại dựng cầu tạm thì hễ lũ về sẽ bị cuốn trôi, cũng không phải kế hay. Vậy nên làm thế nào? Xin ông trù tính giúp.” Tôi nói: “Chi bằng hỏi thần linh qua Kinh Dịch.” Bèn gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Tùy.
Lời đoán nói: Quẻ này có đầm ở trên đất, rõ ràng biểu thị tượng lũ lụt tràn lan. Gieo được hào đầu, biết rằng cây cầu tạm này không bền, vừa dựng đã đổ, dựng lại rồi lại đổ; vì vậy nói: “Có lòng tin nhưng không đến cùng, rồi loạn rồi tụ.” Hào đầu chính ứng với hào bốn, nên phải nghe lệnh hào bốn. “Nếu kêu gọi” là hiệu lệnh của hào bốn; “nắm” cũng như cầm giữ. Được hiệu lệnh của hào bốn, mọi người đều vui mừng, sẵn lòng đảm nhận công việc. Đoài tượng cho niềm vui; đó là ý “làm cho dân vui khi lao động, dân sẽ quên nhọc nhằn”, nên nói “một cái nắm tay thành tiếng cười”. Nhưng hào bốn không ở đúng vị, ắt vị trí cây cầu cũng không thích hợp. Hào năm nói “tụ ở địa vị”, vậy vị trí nên theo hào năm. Hào năm biến thành quẻ Dự; Dự có nghĩa chuẩn bị trước. Quẻ Dự trên là Chấn, dưới là Khôn; quẻ Tụ trên là Đoài. Đoài thuộc phương tây, Chấn thuộc phương đông; đổi Đoài thành Chấn nghĩa là chuyển cầu từ phía tây sang phía đông, để được đúng vị. Khôn ở dưới là đất, tượng cho bề dày và nền móng. Nên đắp đất từ mặt bằng làm nền, dựng cầu trên đó, rồi đặt dây cáp sắt buộc vào hai bờ đê. Nước dâng thì cầu nâng theo mực nước, nước rút thì hạ theo mặt bằng, tránh được họa bị nước cuốn phá. Vì vậy đạt được “không lỗi”.
Nghe xong, ông Inoue cũng cho là phải. Sau đó mọi người quyết định và xây cầu theo cách này. Năm sau nước lại dâng rất lớn, nhưng cầu vẫn không hề hấn gì, càng khiến người ta thán phục sự thần diệu của tượng Dịch.
Lục nhị: Được dẫn dắt thì cát, không lỗi. Có lòng thành thì lễ tế mùa hạ đơn sơ cũng có lợi.
Lục nhị: Được dẫn dắt thì cát, không lỗi. Có lòng thành thì lễ tế mùa hạ đơn sơ cũng có lợi.
Tượng truyện nói: Được dẫn dắt thì cát, không lỗi, vì trung chính chưa thay đổi.
Hào hai ở giữa quẻ dưới, phía trên ứng với hào năm, biết rằng sự tụ hội của Tụ rốt cuộc phải quy về hào năm. Hào hai cùng thể với hào đầu và hào ba; chữ “loạn” của hào đầu và chữ “than” của hào ba cho thấy họ tụ sai chỗ. Hào hai có thể dẫn họ cùng tụ với hào năm, nên nói “được dẫn dắt thì cát, không lỗi”. Quẻ hỗ trên là Tốn, tượng dây thừng; quẻ hỗ dưới là Cấn, tượng bàn tay, nên có tượng dẫn dắt. “Dược” là tên lễ tế mùa hạ. Hào sáu hai thuộc Ly; Ly ở phương nam, tượng mùa hạ, nên nói “dùng lễ tế mùa hạ thì có lợi”. Hào hai động, thể biến thành Khốn. Hào hai của Khốn nói “có lợi về việc hưởng tế”; Tụ đảo lại thành Thăng, hào hai của Thăng cũng nói “dùng lễ tế mùa hạ thì có lợi”. Vì hào hai được trung, nên tượng giống nhau. Thoán truyện nói đến việc vào miếu và dùng vật hiến tế; hào hai là người phụ lễ, nên dâng sản vật địa phương. Khôn tượng sự tiết kiệm, nên lễ vật đơn sơ. Tuy vậy, nếu đem lòng thành đến tụ hội thì dù lễ mỏng vẫn có tín; lòng thành vốn không ở chỗ nghi lễ nhiều hay ít.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận được chính trung. Cát.
○ Hỏi công danh: Có thể trông mong được người tiến dẫn mà tiến lên.
○ Hỏi việc kinh doanh: “Dẫn” nghĩa là kéo dẫn. Có lẽ là việc làm ăn hợp tác với nhiều người, ắt được cát, nhưng phải thực hiện lời nguyện và tạ ơn thần linh.
○ Hỏi việc chinh chiến: Thời xưa xuất quân ắt phải tế lễ; trong nước gọi là lễ Loại, ngoài đồng gọi là lễ Phùng, tức tế thần để thề trước quân. Cát.
○ Hỏi hôn nhân: Hào hai ứng với hào năm, là tượng hai bên đính ước, nên nói “được dẫn dắt thì cát”.
○ Hỏi bệnh tật: Phép nhịn ngũ cốc của các tiên nhân gọi là đạo dẫn, tức dẫn dắt và vận hành nguyên khí khiến nó đầy đủ không hao tổn, nhờ đó có thể trừ bệnh.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Khốn.
Lời đoán nói: Quẻ này có đầm ở trên đất, có thể chứa nước, nên cũng có thể tụ tài; vì vậy quẻ mang tên Tụ. Nay được hào hai, lời hào nói “được dẫn dắt thì cát”, biết rằng việc ông đang mưu tính phải chờ có người dẫn dắt, nâng đỡ thì mới có thể thành công và được cát. Hào hai ứng với hào năm; người có thể chỉ dẫn ông ắt thuộc về hào năm. Đáng tiếc giữa họ có hào ba và hào bốn ngăn cách. Nên chuẩn bị lễ vật cầu nguyện, xin thần linh phù hộ, khiến hào ba và hào bốn không thể cản trở; khi ấy việc mưu tính sẽ thành, tự nhiên cát và không lỗi.
Tượng truyện nói: Được dẫn dắt thì cát, không lỗi, vì trung chính chưa thay đổi.
Hào hai ở giữa quẻ dưới, phía trên ứng với hào năm, biết rằng sự tụ hội của Tụ rốt cuộc phải quy về hào năm. Hào hai cùng thể với hào đầu và hào ba; chữ “loạn” của hào đầu và chữ “than” của hào ba cho thấy họ tụ sai chỗ. Hào hai có thể dẫn họ cùng tụ với hào năm, nên nói “được dẫn dắt thì cát, không lỗi”. Quẻ hỗ trên là Tốn, tượng dây thừng; quẻ hỗ dưới là Cấn, tượng bàn tay, nên có tượng dẫn dắt. “Dược” là tên lễ tế mùa hạ. Hào sáu hai thuộc Ly; Ly ở phương nam, tượng mùa hạ, nên nói “dùng lễ tế mùa hạ thì có lợi”. Hào hai động, thể biến thành Khốn. Hào hai của Khốn nói “có lợi về việc hưởng tế”; Tụ đảo lại thành Thăng, hào hai của Thăng cũng nói “dùng lễ tế mùa hạ thì có lợi”. Vì hào hai được trung, nên tượng giống nhau. Thoán truyện nói đến việc vào miếu và dùng vật hiến tế; hào hai là người phụ lễ, nên dâng sản vật địa phương. Khôn tượng sự tiết kiệm, nên lễ vật đơn sơ. Tuy vậy, nếu đem lòng thành đến tụ hội thì dù lễ mỏng vẫn có tín; lòng thành vốn không ở chỗ nghi lễ nhiều hay ít.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận được chính trung. Cát.
○ Hỏi công danh: Có thể trông mong được người tiến dẫn mà tiến lên.
○ Hỏi việc kinh doanh: “Dẫn” nghĩa là kéo dẫn. Có lẽ là việc làm ăn hợp tác với nhiều người, ắt được cát, nhưng phải thực hiện lời nguyện và tạ ơn thần linh.
○ Hỏi việc chinh chiến: Thời xưa xuất quân ắt phải tế lễ; trong nước gọi là lễ Loại, ngoài đồng gọi là lễ Phùng, tức tế thần để thề trước quân. Cát.
○ Hỏi hôn nhân: Hào hai ứng với hào năm, là tượng hai bên đính ước, nên nói “được dẫn dắt thì cát”.
○ Hỏi bệnh tật: Phép nhịn ngũ cốc của các tiên nhân gọi là đạo dẫn, tức dẫn dắt và vận hành nguyên khí khiến nó đầy đủ không hao tổn, nhờ đó có thể trừ bệnh.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Khốn.
Lời đoán nói: Quẻ này có đầm ở trên đất, có thể chứa nước, nên cũng có thể tụ tài; vì vậy quẻ mang tên Tụ. Nay được hào hai, lời hào nói “được dẫn dắt thì cát”, biết rằng việc ông đang mưu tính phải chờ có người dẫn dắt, nâng đỡ thì mới có thể thành công và được cát. Hào hai ứng với hào năm; người có thể chỉ dẫn ông ắt thuộc về hào năm. Đáng tiếc giữa họ có hào ba và hào bốn ngăn cách. Nên chuẩn bị lễ vật cầu nguyện, xin thần linh phù hộ, khiến hào ba và hào bốn không thể cản trở; khi ấy việc mưu tính sẽ thành, tự nhiên cát và không lỗi.
Lục tam: Tụ họp mà than thở, không có gì lợi. Tiến tới thì không lỗi, nhưng có chút hổ thẹn.
Lục tam: Tụ họp mà than thở, không có gì lợi. Tiến tới thì không lỗi, nhưng có chút hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Tiến tới thì không lỗi, vì phía trên là Tốn.
Hào ba ở trên Khôn; Khôn tượng quần chúng, nên có tượng Tụ. Nhưng Tụ chỉ hữu dụng khi lòng nhiều người cùng vui. Hào ba là âm ở vị dương, không thể thống lĩnh quần chúng của Khôn. Người ta tụ vì lợi; tụ mà không có lợi thì người tụ sẽ than, nên nói “tụ mà than thở”. Hào năm là tông chủ của Tụ, là bậc đại nhân mà Thoán truyện nói “lợi về việc gặp”. Tiến đến quy phục hào ấy thì có lợi. “Có chút hổ thẹn” nghĩa là hào ba không có tài chế ngự sự tụ hội, khiến miệng đời chê bai, trở nên đáng khinh. Tượng truyện nói “phía trên là Tốn” vì quẻ hỗ trên của Tụ là Tốn; hào năm của Tốn nói “không gì là không lợi”, nghĩa là tiến tới sẽ được cái lợi của Tốn.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận trình bình thường, không thu được lợi ích gì.
○ Hỏi công danh: Công danh bất lợi, trái lại còn bị người ta khinh thường.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hàng hóa tuy nhiều nhưng không bán được thì thật đáng than, còn thu được lợi gì? Chỉ chuyển vận sang nơi khác mới có thể không lỗi.
○ Hỏi việc chinh chiến: Có quân mà không dùng được, trái lại chuốc oán than; đó là vì chủ tướng không có tài chế ngự quân chúng.
○ Hỏi hôn nhân: Khó tránh cảnh vợ chồng oán hờn mà than thở.
○ Hỏi nhà cửa: Người ở chung không hòa thuận, nhiều lời qua tiếng lại; chuyển đi nơi khác thì có thể không lỗi.
○ Hỏi bệnh tật: Ngực và vùng hoành bị tích trệ gây đau, kêu khổ từng tiếng, do cả đại tiện lẫn tiểu tiện không thông; thông được thì không lỗi.
○ Hỏi việc kiện tụng: Không lợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Hàm.
Lời đoán nói: Thể quẻ trên vui dưới thuận, là tượng mọi người quy phục; được tượng này có thể xem là tốt. Nay được hào ba. Hào ba là âm ở vị dương, vốn không có tài thống lĩnh quần chúng, không thể đem lợi ích cho họ, khiến họ oán hận; vì vậy nói “tụ mà than thở, không có gì lợi”. Biết ông đang giữ chức phó cục trưởng nhưng chưa được lòng người; lời hào như viết riêng cho ông vậy. Ông nên để họ đi quy thuộc cục trưởng. Khi ấy dân chúng được lợi từ cục trưởng, và có thể không lỗi. Tượng truyện nói “phía trên là Tốn”; Tốn nghĩa là thuận theo, nên đường vận của ông cũng thuận lợi.
Tượng truyện nói: Tiến tới thì không lỗi, vì phía trên là Tốn.
Hào ba ở trên Khôn; Khôn tượng quần chúng, nên có tượng Tụ. Nhưng Tụ chỉ hữu dụng khi lòng nhiều người cùng vui. Hào ba là âm ở vị dương, không thể thống lĩnh quần chúng của Khôn. Người ta tụ vì lợi; tụ mà không có lợi thì người tụ sẽ than, nên nói “tụ mà than thở”. Hào năm là tông chủ của Tụ, là bậc đại nhân mà Thoán truyện nói “lợi về việc gặp”. Tiến đến quy phục hào ấy thì có lợi. “Có chút hổ thẹn” nghĩa là hào ba không có tài chế ngự sự tụ hội, khiến miệng đời chê bai, trở nên đáng khinh. Tượng truyện nói “phía trên là Tốn” vì quẻ hỗ trên của Tụ là Tốn; hào năm của Tốn nói “không gì là không lợi”, nghĩa là tiến tới sẽ được cái lợi của Tốn.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận trình bình thường, không thu được lợi ích gì.
○ Hỏi công danh: Công danh bất lợi, trái lại còn bị người ta khinh thường.
○ Hỏi việc kinh doanh: Hàng hóa tuy nhiều nhưng không bán được thì thật đáng than, còn thu được lợi gì? Chỉ chuyển vận sang nơi khác mới có thể không lỗi.
○ Hỏi việc chinh chiến: Có quân mà không dùng được, trái lại chuốc oán than; đó là vì chủ tướng không có tài chế ngự quân chúng.
○ Hỏi hôn nhân: Khó tránh cảnh vợ chồng oán hờn mà than thở.
○ Hỏi nhà cửa: Người ở chung không hòa thuận, nhiều lời qua tiếng lại; chuyển đi nơi khác thì có thể không lỗi.
○ Hỏi bệnh tật: Ngực và vùng hoành bị tích trệ gây đau, kêu khổ từng tiếng, do cả đại tiện lẫn tiểu tiện không thông; thông được thì không lỗi.
○ Hỏi việc kiện tụng: Không lợi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người bạn đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Hàm.
Lời đoán nói: Thể quẻ trên vui dưới thuận, là tượng mọi người quy phục; được tượng này có thể xem là tốt. Nay được hào ba. Hào ba là âm ở vị dương, vốn không có tài thống lĩnh quần chúng, không thể đem lợi ích cho họ, khiến họ oán hận; vì vậy nói “tụ mà than thở, không có gì lợi”. Biết ông đang giữ chức phó cục trưởng nhưng chưa được lòng người; lời hào như viết riêng cho ông vậy. Ông nên để họ đi quy thuộc cục trưởng. Khi ấy dân chúng được lợi từ cục trưởng, và có thể không lỗi. Tượng truyện nói “phía trên là Tốn”; Tốn nghĩa là thuận theo, nên đường vận của ông cũng thuận lợi.
Cửu tứ: Đại cát, không lỗi.
Cửu tứ: Đại cát, không lỗi.
Tượng truyện nói: Đại cát, không lỗi, vì địa vị không đúng.
Hào bốn rời Khôn, vào Đoài, ở chỗ giao nhau giữa quẻ trong và quẻ ngoài, là nơi nhiều sợ hãi. Hào đầu ứng với nó, hào ba kề bên nó. Nếu mở phủ đón khách, chiêu hiền đãi sĩ, khiêm nhường trước người có học như Vương Mãng hay Tào Tháo đời Hán, thì kẻ làm bề tôi mà được lòng người sẽ gặp cái họa lớn nhất. Lời hào nói “đại cát, không lỗi” nghĩa là phải tận hết đạo đại cát mới được không lỗi; phải dựng được nền tảng không lỗi mới đạt đại cát. Như Văn vương có hai phần ba thiên hạ mà vẫn phụng sự nhà Ân, ông có thể được người tụ về nhưng không tự xem mình là người tụ họ; phải dẫn những người đã tụ về quy về với quân chủ. Chỉ như vậy mới gọi là đại cát và không lỗi. Tượng truyện đối với câu “đại cát, không lỗi” còn giải thích là “địa vị không đúng”; dụng ý thật nghiêm khắc.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận khí rất tốt, làm gì cũng cát, nhưng địa vị không thích đáng, nên thận trọng.
○ Hỏi công danh: Đại cát, nhưng e rằng đức không xứng với vị.
○ Hỏi việc kinh doanh: Được tiền được lợi, đại cát; nên nghĩ đến việc lùi một bước, như vậy mới có đầu có cuối.
○ Hỏi việc chinh chiến: Đánh thắng, công phá thành công, đại cát đại lợi; phải đề phòng công lao quá cao làm chấn động quân chủ, rồi lời gièm pha sẽ theo sau.
○ Hỏi hôn nhân: Hào bốn và hào đầu chính ứng, là tượng chính phối, cát; nhưng e rằng môn đăng hộ đối không thật tương xứng.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà này nhân khẩu hưng vượng, gia đình bình an, đại cát; nhưng địa thế hoặc vị thế hơi thấp kém.
○ Hỏi bệnh tật: Đây là chứng bệnh ngoài mạnh mà trong yếu; trước mắt có thể bảo toàn, không lỗi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người quản lý việc nhà nọ đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Tỷ.
Lời đoán nói: Phàm khi gieo quẻ, lấy lời hào, cũng nên xét cả tượng hào. Nhiều khi lời hào thì cát mà tượng hào thì hung; cũng có khi tượng hào thì hung mà lời hào lại cát. Nay lời hào này nói “đại cát, không lỗi”, còn Tượng truyện nói “ngôi vị không thích đáng”, nên khó tránh khỏi trong cái cát có cái hung. Ngài xem vận khí được hào này, cho biết ngài đang ở cương vị nắm quyền chi phối; mọi quyền lợi trong việc chủ trì gia đình đều do ngài gánh vác. Nhất thời, những kẻ chạy theo quyền thế không cần hướng về gia chủ mà tất sẽ hướng về ngài; đó cũng là điều tất nhiên do thế lực quy định. Vì vậy danh tiếng ngài sẽ vang dội, vận thế ngài sẽ cực thịnh, sao có thể không gọi là “đại cát”! Nhưng thực ra những quyền thế ấy đều thuộc về gia chủ, không phải thứ ngài có thể tự xem là của mình. Tượng truyện dùng câu “ngôi vị không thích đáng” để răn bảo; ngài càng phải hết sức kính sợ và thận trọng.
Tượng truyện nói: Đại cát, không lỗi, vì địa vị không đúng.
Hào bốn rời Khôn, vào Đoài, ở chỗ giao nhau giữa quẻ trong và quẻ ngoài, là nơi nhiều sợ hãi. Hào đầu ứng với nó, hào ba kề bên nó. Nếu mở phủ đón khách, chiêu hiền đãi sĩ, khiêm nhường trước người có học như Vương Mãng hay Tào Tháo đời Hán, thì kẻ làm bề tôi mà được lòng người sẽ gặp cái họa lớn nhất. Lời hào nói “đại cát, không lỗi” nghĩa là phải tận hết đạo đại cát mới được không lỗi; phải dựng được nền tảng không lỗi mới đạt đại cát. Như Văn vương có hai phần ba thiên hạ mà vẫn phụng sự nhà Ân, ông có thể được người tụ về nhưng không tự xem mình là người tụ họ; phải dẫn những người đã tụ về quy về với quân chủ. Chỉ như vậy mới gọi là đại cát và không lỗi. Tượng truyện đối với câu “đại cát, không lỗi” còn giải thích là “địa vị không đúng”; dụng ý thật nghiêm khắc.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thế: Vận khí rất tốt, làm gì cũng cát, nhưng địa vị không thích đáng, nên thận trọng.
○ Hỏi công danh: Đại cát, nhưng e rằng đức không xứng với vị.
○ Hỏi việc kinh doanh: Được tiền được lợi, đại cát; nên nghĩ đến việc lùi một bước, như vậy mới có đầu có cuối.
○ Hỏi việc chinh chiến: Đánh thắng, công phá thành công, đại cát đại lợi; phải đề phòng công lao quá cao làm chấn động quân chủ, rồi lời gièm pha sẽ theo sau.
○ Hỏi hôn nhân: Hào bốn và hào đầu chính ứng, là tượng chính phối, cát; nhưng e rằng môn đăng hộ đối không thật tương xứng.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà này nhân khẩu hưng vượng, gia đình bình an, đại cát; nhưng địa thế hoặc vị thế hơi thấp kém.
○ Hỏi bệnh tật: Đây là chứng bệnh ngoài mạnh mà trong yếu; trước mắt có thể bảo toàn, không lỗi.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Một người quản lý việc nhà nọ đến nhờ đoán vận khí, gieo được quẻ Tụ biến thành quẻ Tỷ.
Lời đoán nói: Phàm khi gieo quẻ, lấy lời hào, cũng nên xét cả tượng hào. Nhiều khi lời hào thì cát mà tượng hào thì hung; cũng có khi tượng hào thì hung mà lời hào lại cát. Nay lời hào này nói “đại cát, không lỗi”, còn Tượng truyện nói “ngôi vị không thích đáng”, nên khó tránh khỏi trong cái cát có cái hung. Ngài xem vận khí được hào này, cho biết ngài đang ở cương vị nắm quyền chi phối; mọi quyền lợi trong việc chủ trì gia đình đều do ngài gánh vác. Nhất thời, những kẻ chạy theo quyền thế không cần hướng về gia chủ mà tất sẽ hướng về ngài; đó cũng là điều tất nhiên do thế lực quy định. Vì vậy danh tiếng ngài sẽ vang dội, vận thế ngài sẽ cực thịnh, sao có thể không gọi là “đại cát”! Nhưng thực ra những quyền thế ấy đều thuộc về gia chủ, không phải thứ ngài có thể tự xem là của mình. Tượng truyện dùng câu “ngôi vị không thích đáng” để răn bảo; ngài càng phải hết sức kính sợ và thận trọng.
Hào Cửu Ngũ: Tụ họp mà có ngôi vị, không lỗi. Nếu chưa được tin phục, giữ vững chính đạo lâu dài từ đầu đến cuối thì hối tiếc tiêu tan.
Hào Cửu Ngũ: Tụ họp mà có ngôi vị, không lỗi. Nếu chưa được tin phục, giữ vững chính đạo lâu dài từ đầu đến cuối thì hối tiếc tiêu tan.
Tượng truyện nói: Tụ họp mà có ngôi vị, ấy là chí hướng chưa được sáng tỏ.
Hào năm ở ngôi vị tôn quý, làm chủ quẻ Tụ, nên nói “tụ họp mà có ngôi vị”; ở ngôi vị ấy để cai quản quần chúng, nên “không lỗi”. Tuy nhiên, việc muôn dân quy phục không chỉ cốt ở có địa vị. Nhất thiết phải có điều đủ sức khiến mọi người phục tùng, khi ấy họ mới thành tâm quy phục. Vì thế, quẻ Tụ tuy nhờ địa vị mà tụ, nhưng thực ra là nhờ đức mà tụ; lấy đức phục người, đó gọi là “phu”, tức lòng tin. Nếu chỉ nói “tụ họp mà có ngôi vị”, dùng quyền thế và địa vị để cưỡng ép người khác, thì không phải tâm phục; làm sao có lòng tin? Tụ mà không có lòng tin thì về sau sẽ hối tiếc. “Nguyên vĩnh trinh” là đức của Càn và Khôn. “Nguyên” là đức của Càn trong việc đứng đầu và nuôi dưỡng con người; “vĩnh trinh” là đức của Khôn trong việc chuyên chở và nâng đỡ vạn vật. Đã có đủ đức ấy thì đức và vị đều đầy đủ, dân chúng không ai là không hưởng ứng, hối tiếc tự nhiên tiêu tan. Tượng truyện nói “chí chưa sáng tỏ”, chỉ là nói người ấy có địa vị mà thôi. Xét rằng: Thoán truyện của quẻ Tỷ cũng nói “nguyên vĩnh trinh”. Quẻ Tỷ lấy một hào dương thống lĩnh nhiều hào âm, nên “nguyên vĩnh trinh” được nói ở cấp quẻ; quẻ Tụ tuy có hai hào dương, nhưng hào thống lĩnh các hào âm là hào năm, làm chủ quẻ, nên “nguyên vĩnh trinh” được nói ở hào năm. Ý nghĩa mỗi nơi đều thích đáng.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Có địa vị, có quyền lực, vận đang lúc cực thịnh, tự nhiên không lỗi.
○ Hỏi kinh doanh: Tài lộc đã tụ, nhưng lòng tin vẫn chưa có. Có thể giữ chính đạo thì sự nghiệp tự nhiên lâu bền.
○ Hỏi công danh: Địa vị đã cao, kỳ vọng cũng lớn; càng nên tu đức, giữ chính đạo.
○ Hỏi chiến tranh: Ba quân đã tập hợp, đại nghiệp có thể thành; càng nên lấy lòng thành đối đãi nhau, ắt bảo toàn được lâu dài.
○ Hỏi hôn nhân: Địa vị cao, tiền của nhiều, có thể gọi là quý tế.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà này có địa thế tốt, núi bao quanh, nước tụ lại; thích hợp cho cả họ tụ cư, cát.
○ Hỏi bệnh tật: Tâm thần bất định, nên tĩnh dưỡng.
○ Hỏi kiện tụng: Người đi kiện có tước vị cao, thế lực mạnh; dù bị oan trái, vẫn có thể được xử cho thành phải.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
○ Hỏi đồ thất lạc: Về sau lâu ngày có thể tìm lại được, không lỗi.
【Ví dụ】Một hôm, người bạn đến nhờ xem vận khí. Gieo được quẻ Tụ biến sang quẻ Dự.
Lời đoán nói: Hào năm là chủ quẻ Tụ, vừa có ngôi vị vừa có quần chúng, nên vận không lỗi. Ngài xem vận khí được tượng hào này, biết rằng ngài không thuộc hạng thấp kém; có địa vị, có tài sản, không phải là người được cả một vùng trông mong thì cũng là chủ một gia đình. Chỉ có điều nhất thời tín nghĩa chưa được mọi người tin phục, nên trong đám đông có người còn nghi ngờ. Ngài nên giữ đạo, thủ chính; lâu dài không đánh mất điều ấy, thì lời nói ít bị trách, việc làm ít hối, và muôn việc đều hanh thông.
Tượng truyện nói: Tụ họp mà có ngôi vị, ấy là chí hướng chưa được sáng tỏ.
Hào năm ở ngôi vị tôn quý, làm chủ quẻ Tụ, nên nói “tụ họp mà có ngôi vị”; ở ngôi vị ấy để cai quản quần chúng, nên “không lỗi”. Tuy nhiên, việc muôn dân quy phục không chỉ cốt ở có địa vị. Nhất thiết phải có điều đủ sức khiến mọi người phục tùng, khi ấy họ mới thành tâm quy phục. Vì thế, quẻ Tụ tuy nhờ địa vị mà tụ, nhưng thực ra là nhờ đức mà tụ; lấy đức phục người, đó gọi là “phu”, tức lòng tin. Nếu chỉ nói “tụ họp mà có ngôi vị”, dùng quyền thế và địa vị để cưỡng ép người khác, thì không phải tâm phục; làm sao có lòng tin? Tụ mà không có lòng tin thì về sau sẽ hối tiếc. “Nguyên vĩnh trinh” là đức của Càn và Khôn. “Nguyên” là đức của Càn trong việc đứng đầu và nuôi dưỡng con người; “vĩnh trinh” là đức của Khôn trong việc chuyên chở và nâng đỡ vạn vật. Đã có đủ đức ấy thì đức và vị đều đầy đủ, dân chúng không ai là không hưởng ứng, hối tiếc tự nhiên tiêu tan. Tượng truyện nói “chí chưa sáng tỏ”, chỉ là nói người ấy có địa vị mà thôi. Xét rằng: Thoán truyện của quẻ Tỷ cũng nói “nguyên vĩnh trinh”. Quẻ Tỷ lấy một hào dương thống lĩnh nhiều hào âm, nên “nguyên vĩnh trinh” được nói ở cấp quẻ; quẻ Tụ tuy có hai hào dương, nhưng hào thống lĩnh các hào âm là hào năm, làm chủ quẻ, nên “nguyên vĩnh trinh” được nói ở hào năm. Ý nghĩa mỗi nơi đều thích đáng.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Có địa vị, có quyền lực, vận đang lúc cực thịnh, tự nhiên không lỗi.
○ Hỏi kinh doanh: Tài lộc đã tụ, nhưng lòng tin vẫn chưa có. Có thể giữ chính đạo thì sự nghiệp tự nhiên lâu bền.
○ Hỏi công danh: Địa vị đã cao, kỳ vọng cũng lớn; càng nên tu đức, giữ chính đạo.
○ Hỏi chiến tranh: Ba quân đã tập hợp, đại nghiệp có thể thành; càng nên lấy lòng thành đối đãi nhau, ắt bảo toàn được lâu dài.
○ Hỏi hôn nhân: Địa vị cao, tiền của nhiều, có thể gọi là quý tế.
○ Hỏi nhà cửa: Nhà này có địa thế tốt, núi bao quanh, nước tụ lại; thích hợp cho cả họ tụ cư, cát.
○ Hỏi bệnh tật: Tâm thần bất định, nên tĩnh dưỡng.
○ Hỏi kiện tụng: Người đi kiện có tước vị cao, thế lực mạnh; dù bị oan trái, vẫn có thể được xử cho thành phải.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
○ Hỏi đồ thất lạc: Về sau lâu ngày có thể tìm lại được, không lỗi.
【Ví dụ】Một hôm, người bạn đến nhờ xem vận khí. Gieo được quẻ Tụ biến sang quẻ Dự.
Lời đoán nói: Hào năm là chủ quẻ Tụ, vừa có ngôi vị vừa có quần chúng, nên vận không lỗi. Ngài xem vận khí được tượng hào này, biết rằng ngài không thuộc hạng thấp kém; có địa vị, có tài sản, không phải là người được cả một vùng trông mong thì cũng là chủ một gia đình. Chỉ có điều nhất thời tín nghĩa chưa được mọi người tin phục, nên trong đám đông có người còn nghi ngờ. Ngài nên giữ đạo, thủ chính; lâu dài không đánh mất điều ấy, thì lời nói ít bị trách, việc làm ít hối, và muôn việc đều hanh thông.
Hào Thượng Lục: Thở than, nước mắt nước mũi tuôn rơi, không lỗi.
Hào Thượng Lục: Thở than, nước mắt nước mũi tuôn rơi, không lỗi.
Tượng truyện nói: Thở than, nước mắt nước mũi tuôn rơi, là vì ở ngôi trên mà vẫn chưa được yên ổn.
“Tư ta” là lời than thở. Thứ chảy ra từ mắt gọi là lệ, thứ chảy ra từ mũi gọi là dịch mũi; “tư ta, lệ dịch” là dáng vẻ khóc lóc bi thương. Hào trên cùng thuộc âm nhu, không đắc trung, lại ở cực điểm của quẻ Tụ. Hào ba và hào trên cùng ứng với nhau theo thế đối địch; đã là địch ứng thì không thể tụ. Cô lập ở trên, làm sao được yên? Biết mình không yên ổn, nên lo lắng sâu sắc, ưu tư khôn cùng, đến mức than thở, khóc chảy cả nước mắt nước mũi, sầu bi kết lại trăm mối. Người đời cũng nên cảm thông nỗi ai oán của nó mà đến tụ hợp cùng nó, vì vậy được “không lỗi”. Trần thị ở Hoãn Giang giải “tư” là tài vật, “tư” là cầm giữ, cho rằng tài vật tụ mà dân chúng tan; có của cải nhưng không có được lòng người, thì ngồi ôm tài sản dồi dào chỉ càng khiến mình lâm nguy, như các kho Lộc Đài và Cự Kiều, cuối cùng lại cung cấp phần thưởng ân huệ cho vị khai sáng triều đại mới. Đó quả là điều đáng đau khóc rơi lệ. Thuyết này cũng rất xác đáng.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Người ấy ắt đã già, vận suy, cùng cực nghèo khổ bi ai, thật đáng thương. Nhưng nhất định sẽ có người thương tình cứu giúp, nhờ đó không lỗi.
○ Hỏi kinh doanh: Khách buôn cô độc không bạn đồng hành, đường cùng ngày xế, thật đáng buồn lo; may mà được cứu giúp, không lỗi.
○ Hỏi công danh: Thời vận suy, vận thế cùng cực, khó mong thành danh.
○ Hỏi chiến tranh: Có tượng quân lính phản ly, chủ tướng bị cô lập.
○ Hỏi hôn nhân: Có nỗi buồn sinh ly tử biệt.
○ Hỏi nhà cửa: Chia lìa, sụt sùi khóc lóc, gia đình bất an.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh phát sinh do quá đau buồn khóc lóc, nên khoan khoái tinh thần và điều dưỡng.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng sáu năm Minh Trị thứ hai mươi mốt, tôi đang mưu tính lập xưởng chế tạo sợi bông, nên đến cư trú ở Atsuta, Aichi. Tình cờ đi ngang qua Thần cung Atsuta, tôi gặp một vị thần chức nọ và cùng ông bàn về Kinh Dịch. Khi ấy hạn hán dữ dội; mấy trăm nông dân trong vùng đang làm lễ cầu mưa. Tôi nói với vị thần chức: “Dân làng thành tâm cầu khẩn, chẳng lẽ thần linh không ân cần truyền lệnh cho mưa xuống hay sao?” Vị thần chức đáp: “Thần linh nói gì được?” Tôi nói: “Thần linh quả thật không nói, nhưng thứ có lời có thể thông với thần linh, chẳng phải Kinh Dịch đó sao? Sao không gieo quẻ thử?” Gieo được quẻ Tụ biến sang quẻ Bĩ.
Lời đoán nói: Đoài ở thượng quái là nơi tiếp nhận nước. Đầm ở trên đất, có tượng đầm đầy nước tràn. Lời hào nói “than thở”: ở người là tình trạng buồn tủi oán hờn; ở trời là tiếng chấn nộ, tức tiếng sấm dữ dội. Nói “nước mắt nước mũi”: ở người là dáng vẻ khóc lóc; ở trời là nước đổ xuống ào ào, tức mưa lớn. Gặp lúc sấm dữ mưa to như vậy, lũ lụt sẽ bất ngờ phát sinh, dân chúng gặp tai họa, thần linh cũng vì thế mà không yên. Bởi vậy Tượng truyện nói “ở trên chưa yên”. Tính theo ngày tháng, từ hào đầu đến hào trên cùng là sáu ngày, ắt sẽ có nghiệm.
Khi ấy là ngày mười sáu tháng bảy; nhiều người nghe chuyện vẫn chưa tin. Đến kỳ hạn, trời quang mây tạnh. Đại tư ty Kakuda nói với tôi: “Quẻ đoán mưa lớn vào hôm nay, e rằng không nghiệm”. Tôi đáp: “Tôi chỉ luận việc bói theo quẻ bói; có nghiệm hay không, tôi không biết. Nhưng từ trước đến nay, những điều tôi đã bói chưa từng có lần nào không nghiệm”. Đến chiều, mây ùn lên, gió nổi. Tới ba giờ, lôi công, điện mẫu, phong bá, vũ sư cùng kéo đến mấy lượt; chỉ trong chốc lát, mương rãnh đã đầy, đồng bằng ngập toàn nước. Quan chức kinh hãi, khâm phục, bèn đến tạ ơn tôi. Năm sau, Chủ tịch Ito và Cố vấn Sano đến dự lễ tại Thần cung Atsuta, hỏi các quan chức về sự linh nghiệm của quẻ tôi đoán mưa. Các quan chức liền trình lời đoán lên. Hai vị rất cảm phục sự linh ứng của thần đức, hỏi kỹ về nguồn gốc việc thờ phụng đầu tiên tại thần xã Atsuta. Sau đó Bộ Nội vụ Hoàng gia cấp tiền tế tự một trăm nghìn yên, phẩm trật thần xã được xếp ngay sau Đại thần cung Ise.
Tượng truyện nói: Thở than, nước mắt nước mũi tuôn rơi, là vì ở ngôi trên mà vẫn chưa được yên ổn.
“Tư ta” là lời than thở. Thứ chảy ra từ mắt gọi là lệ, thứ chảy ra từ mũi gọi là dịch mũi; “tư ta, lệ dịch” là dáng vẻ khóc lóc bi thương. Hào trên cùng thuộc âm nhu, không đắc trung, lại ở cực điểm của quẻ Tụ. Hào ba và hào trên cùng ứng với nhau theo thế đối địch; đã là địch ứng thì không thể tụ. Cô lập ở trên, làm sao được yên? Biết mình không yên ổn, nên lo lắng sâu sắc, ưu tư khôn cùng, đến mức than thở, khóc chảy cả nước mắt nước mũi, sầu bi kết lại trăm mối. Người đời cũng nên cảm thông nỗi ai oán của nó mà đến tụ hợp cùng nó, vì vậy được “không lỗi”. Trần thị ở Hoãn Giang giải “tư” là tài vật, “tư” là cầm giữ, cho rằng tài vật tụ mà dân chúng tan; có của cải nhưng không có được lòng người, thì ngồi ôm tài sản dồi dào chỉ càng khiến mình lâm nguy, như các kho Lộc Đài và Cự Kiều, cuối cùng lại cung cấp phần thưởng ân huệ cho vị khai sáng triều đại mới. Đó quả là điều đáng đau khóc rơi lệ. Thuyết này cũng rất xác đáng.
【Dự đoán】
○ Hỏi vận thời: Người ấy ắt đã già, vận suy, cùng cực nghèo khổ bi ai, thật đáng thương. Nhưng nhất định sẽ có người thương tình cứu giúp, nhờ đó không lỗi.
○ Hỏi kinh doanh: Khách buôn cô độc không bạn đồng hành, đường cùng ngày xế, thật đáng buồn lo; may mà được cứu giúp, không lỗi.
○ Hỏi công danh: Thời vận suy, vận thế cùng cực, khó mong thành danh.
○ Hỏi chiến tranh: Có tượng quân lính phản ly, chủ tướng bị cô lập.
○ Hỏi hôn nhân: Có nỗi buồn sinh ly tử biệt.
○ Hỏi nhà cửa: Chia lìa, sụt sùi khóc lóc, gia đình bất an.
○ Hỏi bệnh tật: Bệnh phát sinh do quá đau buồn khóc lóc, nên khoan khoái tinh thần và điều dưỡng.
○ Hỏi về thai sản: Sinh con gái.
【Ví dụ】Tháng sáu năm Minh Trị thứ hai mươi mốt, tôi đang mưu tính lập xưởng chế tạo sợi bông, nên đến cư trú ở Atsuta, Aichi. Tình cờ đi ngang qua Thần cung Atsuta, tôi gặp một vị thần chức nọ và cùng ông bàn về Kinh Dịch. Khi ấy hạn hán dữ dội; mấy trăm nông dân trong vùng đang làm lễ cầu mưa. Tôi nói với vị thần chức: “Dân làng thành tâm cầu khẩn, chẳng lẽ thần linh không ân cần truyền lệnh cho mưa xuống hay sao?” Vị thần chức đáp: “Thần linh nói gì được?” Tôi nói: “Thần linh quả thật không nói, nhưng thứ có lời có thể thông với thần linh, chẳng phải Kinh Dịch đó sao? Sao không gieo quẻ thử?” Gieo được quẻ Tụ biến sang quẻ Bĩ.
Lời đoán nói: Đoài ở thượng quái là nơi tiếp nhận nước. Đầm ở trên đất, có tượng đầm đầy nước tràn. Lời hào nói “than thở”: ở người là tình trạng buồn tủi oán hờn; ở trời là tiếng chấn nộ, tức tiếng sấm dữ dội. Nói “nước mắt nước mũi”: ở người là dáng vẻ khóc lóc; ở trời là nước đổ xuống ào ào, tức mưa lớn. Gặp lúc sấm dữ mưa to như vậy, lũ lụt sẽ bất ngờ phát sinh, dân chúng gặp tai họa, thần linh cũng vì thế mà không yên. Bởi vậy Tượng truyện nói “ở trên chưa yên”. Tính theo ngày tháng, từ hào đầu đến hào trên cùng là sáu ngày, ắt sẽ có nghiệm.
Khi ấy là ngày mười sáu tháng bảy; nhiều người nghe chuyện vẫn chưa tin. Đến kỳ hạn, trời quang mây tạnh. Đại tư ty Kakuda nói với tôi: “Quẻ đoán mưa lớn vào hôm nay, e rằng không nghiệm”. Tôi đáp: “Tôi chỉ luận việc bói theo quẻ bói; có nghiệm hay không, tôi không biết. Nhưng từ trước đến nay, những điều tôi đã bói chưa từng có lần nào không nghiệm”. Đến chiều, mây ùn lên, gió nổi. Tới ba giờ, lôi công, điện mẫu, phong bá, vũ sư cùng kéo đến mấy lượt; chỉ trong chốc lát, mương rãnh đã đầy, đồng bằng ngập toàn nước. Quan chức kinh hãi, khâm phục, bèn đến tạ ơn tôi. Năm sau, Chủ tịch Ito và Cố vấn Sano đến dự lễ tại Thần cung Atsuta, hỏi các quan chức về sự linh nghiệm của quẻ tôi đoán mưa. Các quan chức liền trình lời đoán lên. Hai vị rất cảm phục sự linh ứng của thần đức, hỏi kỹ về nguồn gốc việc thờ phụng đầu tiên tại thần xã Atsuta. Sau đó Bộ Nội vụ Hoàng gia cấp tiền tế tự một trăm nghìn yên, phẩm trật thần xã được xếp ngay sau Đại thần cung Ise.