Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch/Kinh Dịch, quẻ 2: Khôn, Khôn là Đất, Khôn trên Khôn dưới

Khôn: Nguyên hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái. Người quân tử có chỗ để đi; đi trước thì lạc đường, đi sau thì gặp chủ. Đi về tây nam thì được bạn, đi về đông bắc thì mất bạn. Yên ổn giữ chính bền thì cát.

Thoán truyện nói: Cái nguyên thủy của Khôn thật chí cực! Muôn vật nhờ đó mà sinh, Khôn thuận theo và tiếp nhận Trời. Khôn dày chở muôn vật, đức hợp với sự vô cương của Trời. Nó bao hàm, mở rộng, soi sáng và làm lớn, nên muôn vật đều hanh thông. Ngựa cái thuộc về Đất, đi trên mặt đất không giới hạn; mềm thuận và chính bền thì có lợi. Hành trình của người quân tử: đi trước thì lạc Đạo, đi sau thì thuận theo và được lẽ thường. Tây nam được bạn, cùng đồng loại mà đi; đông bắc mất bạn, nhưng cuối cùng vẫn có phúc mừng. Cái cát của yên ổn giữ chính bền tương ứng với sự vô cương của Đất.

Tượng truyện nói: Thế của Đất là mềm thuận và trải rộng; người quân tử noi theo đó, dùng đức dày để gánh vác trách nhiệm lớn.

Sơ đồ quẻ 2: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 2 — nguyên văn và tổng quan


Nguyên văn quẻ Khôn



Khôn. Nguyên, hanh, lợi về sự chính bền của ngựa cái. Người quân tử có chỗ để đi; đi trước thì lạc đường, đi sau thì gặp chủ. Tây nam được bạn, đông bắc mất bạn. Yên ổn giữ chính bền thì cát.

Tượng truyện nói: Thế của Đất là mềm thuận và trải rộng; người quân tử dùng đức dày để gánh vác muôn vật.

Giải thích bằng văn nói



Quẻ Khôn: Đại cát đại lợi. Hỏi về ngựa cái thì được điềm lành. Người quân tử đi xa, đi trước thì lạc đường, về sau tìm được chủ, là điều tốt. Đi tây nam được của, đi đông bắc mất của. Hỏi về định cư thì được điềm lành.

Tượng truyện nói: Thế đất trải rộng bằng phẳng, thuận theo và nâng đỡ thiên đạo. Người quân tử xét tượng quẻ này, noi theo Đất, dùng đức sâu dày để gánh vác trách nhiệm lớn.

Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch



Khôn trên Khôn dưới là quẻ bản vị của cung Khôn. Khôn biểu thị sự mềm thuận, tượng khí đất lan tỏa. Nó mang tính thuần âm: trước mất Đạo, sau được chủ. Nên đi về tây nam, nơi có thể được bạn bè.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống



Mềm thuận và yên tĩnh, có công gánh vác nặng nề; lặng lẽ giữ an thuận, hành động vọng động thì chuốc tổn.

Người được quẻ này nên thuận theo vận thế, lấy tĩnh chế động; không nên tự mình mưu việc, mà thuận theo người khác, cùng hợp tác thì có thể làm nên việc lớn.


Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan


Thời vận: Làm người chân hậu, danh tiếng truyền xa.

Tài vận: Trở về đầy tải.

Gia trạch: Gia đình ổn định; hôn nhân đại cát.

Sức khỏe: Vận động mềm dẻo.


Giải quẻ truyền thống


Quẻ này là hai quái giống nhau chồng lên nhau, Khôn dưới Khôn trên, mang tính âm. Nó tượng trưng cho Đất, đối lập với Càn; thuận theo Trời, chở muôn vật và mở rộng vô tận. Khôn lấy ngựa cái làm tượng, cho thấy đất sinh dưỡng muôn vật nhưng vẫn nương theo Trời, thuận thời, tính tình mềm thuận. Câu “trước mê sau được” chứng minh Khôn thuận theo và nương vào Càn; chỉ như vậy mới nắm đúng phương hướng, theo chính đạo và được cát lợi.

Đại tượng: Đất chở muôn vật, lấy đức thu phục lòng người; người nhân thì không ai địch nổi.

Vận thế: Mọi việc không nên tiến gấp; lấy tĩnh chế động là tốt.

Sự nghiệp: Các việc đều có thể thành công, đạt kết quả như dự tính, nhưng lúc đầu xuất quân bất lợi, bị hoàn cảnh khó khăn quấy nhiễu. Chớ mạo hiểm, nóng tiến; phải cẩn thận lời nói việc làm, nhất là không đơn thương độc mã, độc đoán chuyên quyền. Sự quan tâm và ủng hộ của bạn bè rất quan trọng; nên nhờ hợp tác với người khác để cùng hoàn thành sự nghiệp. Vì vậy cần chú trọng tu dưỡng nội tâm, tích lũy đức, noi theo đất, nhẫn nại gánh nặng, khoan hậu rộng lượng; lấy ngay thẳng, chính trực và kín đáo làm nguyên tắc, không tham công tự phụ, kiên trì mưu cầu thành công.

Kinh doanh: Cơ hội không tốt lắm, chớ mạo hiểm, lấy ổn định làm trọng. Gặp thất bại phải kịp thời tổng kết kinh nghiệm. Chú ý tích trữ hàng hóa, chờ giá bán; mọi nơi mọi việc đều nên cẩn thận.

Cầu danh: Khá thuận lợi, đã có điều kiện cơ bản; cứ thực tế, chúi đầu làm việc, không chạy theo vật ngoài thân thì được cát tường.

Hôn nhân tình cảm: Âm thịnh. Lấy nhu thắng cương, nữ phương nhu thuận, duyên hôn nhân tốt đẹp, cùng nhau đến bạc đầu.

Quyết sách: Trung hậu, ôn hòa, đối đãi chân thành, nhiệt tình giúp người nên cũng được người khác giúp đỡ. Tuy nhiên đôi khi vì không đề phòng tiểu nhân mà bị tổn hại, nhưng không đáng ngại. Tính cách linh hoạt, phương pháp làm việc đa dạng, có thể ứng xử thuận lợi mọi nơi và được khen ngợi.




Ý nghĩa triết học của quẻ thứ hai


Quẻ Khôn trong sáu mươi tư quẻ được tạo thành bởi hai quẻ Khôn chồng lên nhau, một ở trên và một ở dưới. Quẻ tượng trưng cho đất, thuận theo Trời. Đất nâng đỡ muôn vật, vươn trải vô cùng vô tận. Quẻ Khôn lấy ngựa cái làm biểu tượng, cho thấy đạo của đất sinh thành và nuôi dưỡng muôn vật, đồng thời thuận theo Trời, theo thời, có tính nết nhu thuận. Câu “trước mê, sau được” chứng minh rằng Khôn thuận theo Càn, nương theo Càn thì mới nắm được phương hướng đúng đắn, tuân theo chính đạo và đạt điều cát lợi.

Trong Tượng truyện phân tích quẻ Khôn như sau: “Thế của đất là Khôn; người quân tử dùng đức dày để nâng đỡ muôn vật.” Điều này chỉ ra rằng Khôn tượng trưng cho đại địa; người quân tử nên noi theo đất, có tấm lòng rộng mở và bao dung muôn vật.

Quẻ Khôn tượng trưng cho đất, thuộc loại thượng thượng quái. Tượng truyện luận quẻ này rằng: “Con dê béo rời đàn đi vào sườn núi, hổ đói gặp nó liền há miệng. Miệng được ăn no, bụng được lấp đầy, lòng vui mừng. Nếu gieo được quẻ này thì đại cát đại lợi.”

Quái tượng quẻ Khôn: Vì trong những gì âm đã thành hình, không gì lớn hơn đất, nên quái tượng của quẻ Khôn trước hết biểu thị đất. Người mẹ hiền từ và dịu dàng, bò cái thuận tính và chịu khó, vải vóc mềm mại, bản tính của đại chúng là thuận theo; vì vậy quẻ Khôn cũng tượng trưng cho mẹ, bò cái, vải, đại chúng, v.v. Tự nhiên, nhu thuận, âm nhu và thuận theo chính là quái đức của quẻ Khôn.

Quẻ 2 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Lục của quẻ thứ hai trong Chu Dịch


Hào từ Sơ Lục

Sơ Lục: Giẫm lên sương giá, băng cứng sẽ đến.

Tượng truyện nói: “Sương dưới chân, băng cứng sẽ đến” là vì khí âm bắt đầu ngưng kết. Cứ thuận theo đà ấy mà tiến triển, tất sẽ đến băng cứng.

Giải thích bằng văn nói

Sơ Lục: Giẫm lên lớp sương mỏng thì có thể suy ra rằng tầng băng dày và cứng sắp đóng lại.

Tượng truyện nói: “Giẫm lên sương mỏng thì có thể suy ra băng dày sắp đóng.” Điều này cho thấy khí âm lạnh bắt đầu tụ lại; theo sự vận hành của quy luật tự nhiên, tầng băng dày và cứng sắp hình thành.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống

Bình: Người được hào này nên thận trọng đề phòng tranh chấp do thù oán gây ra. Người có âm khí thịnh sẽ phát triển mạnh cơ nghiệp gia đình. Người làm quan cần đề phòng tai họa do lời gièm pha của kẻ tiểu nhân.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Từ thấp lên cao, không được nóng vội tiến bước.

Tài vận: Tích lũy dần dần có thể làm giàu.

Gia trạch: Âm thịnh thì không tốt; hôn nhân bất lợi.

Sức khỏe: Chứng bệnh do âm hàn, để lâu thì khó chữa.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第2卦的初九变卦卦的卦图


Khi hào Sơ Lục động, biến thành quẻ thứ 24 của Chu Dịch: quẻ Phục, Địa Lôi Phục. Đây là quẻ dị (Chấn ở dưới, Khôn ở trên) chồng lên nhau. Chấn là sấm, là động; Khôn là đất, là thuận. Động thì thuận, thuận theo tự nhiên. Sự động nằm trong sự thuận, dương ở trong âm ở ngoài, vận động tuần tự, tiến lui tự tại, có lợi cho việc tiến lên.


Ý nghĩa của hào từ này là: Khi chân giẫm lên sương giá thì phải biết rằng trời sắp đóng băng.

Tượng truyện giải thích hào này: “Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến” là âm bắt đầu ngưng kết; cứ phát triển theo đà ấy thì tất nhiên sẽ đón mùa băng tuyết. Điều này cho thấy khi chân giẫm lên sương phải biết rằng trời sắp đóng băng.

Người gieo được quẻ này, nếu muốn làm việc gì, nhất định phải thận trọng. Cần chú ý quan sát tình hình xung quanh, đặc biệt là những chi tiết. Bởi từ một số điềm báo có thể nhìn thấy xu thế phát triển trong tương lai; phải hiểu đạo lý thấy nhỏ biết lớn. Quẻ này mang hai tầng nghĩa: thiện và ác, thịnh và suy. Nhưng là thiện hay ác, thịnh hay suy, đều có thể dự đoán từ những việc nhỏ ngay hiện tại.

Văn Ngôn truyện nói: “Nhà tích thiện ắt có phúc thừa; nhà tích bất thiện ắt có họa thừa. Bề tôi giết vua, con giết cha, không phải do nguyên nhân trong một sớm một chiều; nguồn gốc của nó dần dần mà thành, vì đã không phân biệt và xử lý từ sớm. Kinh Dịch nói ‘Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến’, đại ý là nói về sự thuận theo.”

Sơ Lục: Giẫm lên sương, băng cứng sẽ đến. Gieo được quẻ này, nhất thiết phải ghi nhớ:

Âm khí mới dày đã thấy sương; chờ đúng thời cơ hành động, ắt thấy ánh dương.

Một sức mạnh giữa mây nâng đỡ giúp đứng lên; người đi đường bên bờ nước ở phương Bắc.

Việc thường do tiến triển dần dần mà thành; khi đã ngưng kết, hãy ghi nhớ lời răn giẫm lên sương.

Làm thiện ắt có phúc thừa; làm bất thiện ắt có họa thừa.


Ý nghĩa triết học của hào Sơ Lục


Người gieo được quẻ này tuy không cần tu tập đặc biệt mà đi đâu cũng không bất lợi, nhưng vận may ấy không tự nhiên mà có; nó có một điều kiện tiên quyết: phải giữ “đạo của đất”, tức là ngay thẳng, vuông vức và rộng lớn. Tượng truyện nói về sự động của Lục Nhị: “Lấy sự thẳng mà được vuông; không cần tập luyện mà không gì bất lợi, vì đạo đất sáng lớn.” Ý này nói rằng mọi hành động của Lục Nhị đều ngay thẳng, dám giữ nguyên tắc; dù không học tập hằng ngày cũng không làm điều bất lợi cho sự sinh trưởng của muôn vật. Đó chính là noi theo đạo đất mà hành sự, khiến đạo ấy được phát huy: học đức nhu thuận của đất, lòng dạ rộng mở, làm người chính trực, khoan hậu và quảng đại. Những nỗ lực thường ngày như vậy sẽ đạt mục tiêu mong muốn, từng bước mở rộng thế lực của mình, khiến mọi việc đều thuận lợi.
Người gieo được quẻ này nên chú ý tìm một phụ nữ xinh đẹp, có năng lực làm bạn hợp tác. Như vậy sự nghiệp định tiến hành có thể thành công mà không cần tốn nhiều công sức. Dù gặp sự kiện quan trọng hay biến cố lớn cũng không cần đến lúc lâm trận mới vội học. Dù gặp việc chưa từng làm hoặc đến nơi xa lạ, cũng không có gì bất thuận; gặp vấn đề khó thì sẽ giải quyết được dễ dàng.

Lục Nhị là hào âm được trung và đắc vị, ở vào chủ vị của quẻ Khôn, nên đương nhiên không có điều gì bất lợi. Ngay thẳng, chính trực và rộng rãi là phẩm chất của bề tôi. Bề tôi làm được ba điều ấy, lại không hành xử thay đổi thất thường, thì tự nhiên sẽ được nhà vua trọng dụng. Điều này răn người ta rằng khi ở vào vị trí có lợi, phải phát huy đầy đủ năng lực, phát huy ánh sáng và sức nóng của mình, như vậy mới có thể phát triển lớn hơn.



Giải thích chi tiết hào Lục Nhị của quẻ thứ hai trong Chu Dịch


Hào từ Lục Nhị

Lục Nhị: Thẳng, vuông, lớn; không cần tập luyện mà không gì bất lợi.

Tượng truyện nói: Sự động của Lục Nhị là lấy vuông mà được thẳng; không cần tập luyện mà không gì bất lợi, vì đạo đất sáng lớn.

Giải thích bằng văn nói

Lục Nhị: Bằng phẳng ngay thẳng, vuông vức chính trực và rộng lớn là đặc điểm của đất. Dù đi đến nơi xa lạ cũng không có gì bất lợi.

Tượng truyện nói: Quái tượng của Lục Nhị bằng phẳng, ngay thẳng và vuông vức. Dù đi đến nơi xa lạ cũng không bất lợi, vì đạo đất rộng lớn không bờ bến.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống

Cát: Người được hào này không lo thiếu ăn thiếu uống, áo cơm đầy đủ. Người làm quan sẽ được thăng chức, ở địa vị cao. Với nữ mệnh, đây là người vợ hiền đức, nhờ đó gia đình hưng thịnh.

Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Công thành, danh toại.

Tài vận: Có thể mong đợi lợi nhuận.

Gia trạch: Ở nhà được như ý; hôn nhân thuận lợi.

Sức khỏe: Khỏi bệnh mà không cần thuốc.

Quẻ biến của hào Lục Nhị

"周易第2卦的六二变卦卦的卦图


Khi hào Lục Nhị động, biến thành quẻ thứ 7 của Chu Dịch: quẻ Sư, Thủy Địa Sư. Đây là quẻ dị (Khảm ở dưới, Khôn ở trên) chồng lên nhau. “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, ví như giấu quân trong dân. Binh đao chiến tranh là điều hung hiểm; dùng binh là việc bậc thánh nhân chỉ làm khi bất đắc dĩ. Tuy vậy, mâu thuẫn có thể được giải quyết thuận lợi, không trở ngại, vì thuận theo tình thế và xuất quân có chính nghĩa, nên có thể biến hung thành cát.


Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị


Xét về quái tượng, Lục Nhị là hào âm ở vị trí nhu, đắc trung thủ chính, là một hào rất tiêu biểu trong quẻ Khôn. Hào này vừa trung vừa chính; suy rộng sang cách làm người, cũng cần ngay thẳng, chính trực, đại lượng và giữ sự trung hòa.

Người gieo được quẻ này tuy không cần tu tập đặc biệt mà đi đâu cũng không bất lợi, nhưng vận may ấy không tự nhiên mà có; nó có một điều kiện tiên quyết: phải giữ “đạo của đất”, tức là ngay thẳng, vuông vức và rộng lớn. Tượng truyện nói về sự động của Lục Nhị: “Lấy sự thẳng mà được vuông; không cần tập luyện mà không gì bất lợi, vì đạo đất sáng lớn.” Ý này nói rằng mọi hành động của Lục Nhị đều ngay thẳng, dám giữ nguyên tắc; dù không học tập hằng ngày cũng không làm điều bất lợi cho sự sinh trưởng của muôn vật. Đó chính là noi theo đạo đất mà hành sự, khiến đạo ấy được phát huy: học đức nhu thuận của đất, lòng dạ rộng mở, làm người chính trực, khoan hậu và quảng đại. Những nỗ lực thường ngày như vậy sẽ đạt mục tiêu mong muốn, từng bước mở rộng thế lực của mình, khiến mọi việc đều thuận lợi.
Người gieo được quẻ này nên chú ý tìm một phụ nữ xinh đẹp, có năng lực làm bạn hợp tác. Như vậy sự nghiệp định tiến hành có thể thành công mà không cần tốn nhiều công sức. Dù gặp sự kiện quan trọng hay biến cố lớn cũng không cần đến lúc lâm trận mới vội học. Dù gặp việc chưa từng làm hoặc đến nơi xa lạ, cũng không có gì bất thuận; gặp vấn đề khó thì sẽ giải quyết được dễ dàng.


Giải thích chi tiết hào Lục Tam của quẻ thứ hai trong Chu Dịch


Hào từ Lục Tam

Lục Tam: Hàm chứa vẻ đẹp bên trong thì có thể giữ vững chính đạo. Có khi theo việc của nhà vua, không lập thành công mà vẫn có kết cục tốt.

Tượng truyện nói: “Hàm chứa vẻ đẹp bên trong mà giữ chính” là biết phát lộ đúng thời; “có khi theo việc của nhà vua” là vì trí tuệ sáng rộng.

Giải thích bằng văn nói

Lục Tam: Đánh bại Ân Thương. Là điềm bói vừa ý. Có người phục vụ trong chiến tranh, không lập chiến công nhưng kết cục vẫn tốt.

Tượng truyện nói: Đánh bại Ân Thương, được lời bói vừa ý, cho thấy có thể nắm thời cơ mà hành động. Có người phục vụ trong chiến tranh, không lập chiến công mà kết cục tốt, vì trí tuệ của người ấy rộng lớn.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống

Bình: Người được hào này có thể thành công trong mưu cầu; chăm lo kinh doanh nghiêm túc sẽ có thu hoạch. Người làm quan có hy vọng được thăng tiến. Với nữ mệnh, là người vợ có đức.

Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Chờ đúng thời mà phát huy, có thể giữ được công danh.

Tài vận: Nắm bắt thời cơ, ắt có lợi ích.

Gia trạch: Tăng cường sự đoàn kết và đồng lòng.

Sức khỏe: Không thể cứu vãn, hung.

Quẻ biến của hào Lục Tam

"周易第2卦的六三变卦卦的卦图

Khi hào Lục Tam động, biến thành quẻ thứ 15 của Chu Dịch: quẻ Khiêm, Địa Sơn Khiêm. Đây là quẻ dị (Cấn ở dưới, Khôn ở trên) chồng lên nhau; Cấn là núi, Khôn là đất. Trên mặt đất có núi, đất thấp mà núi cao, bên trong cao bên ngoài thấp; ví như công cao không tự nhận, danh lớn không tự khoe, địa vị cao không tự kiêu. Đó chính là Khiêm.


Ý nghĩa triết học của hào Lục Tam


Xét về quái tượng, Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, nên thất vị. Hào Tam là vị trí cao nhất của hạ quái, phần nhiều nguy hiểm. Khi ở địa vị cao hoặc trong lúc hiểm nguy, không nên phô bày bản thân mà phải thuận theo người khác. Sự chuyển biến này tuy khó thực hiện nhưng vẫn phải cố gắng, nếu không sẽ gặp hung hiểm. Câu “hàm chương” trong hào từ nghĩa là giấu tài năng, có ý thức về họa hoạn, kín đáo và thu liễm. Vì vậy, lời gợi mở của Lục Tam là nên chứa đựng mà không phô lộ.

Văn Ngôn truyện nói: “Âm tuy có vẻ đẹp nhưng hãy chứa đựng nó. Khi ‘theo việc của nhà vua’ thì không dám nhận thành công. Đó là đạo của đất, đạo của người vợ, đạo của bề tôi. Đạo của đất không tự lập công mà thay người khác, rồi có kết cục tốt.”

Đối với cá nhân, dù có tài văn chương cũng phải giữ gìn cho vững, chờ thời cơ chín muồi. Khi cùng làm việc với người lãnh đạo, không nói về công lao của mình mà quy vinh dự cho người đứng đầu; như vậy mới có “kết cục tốt”.

Hào Lục Tam là hào âm ở vị trí dương, không đắc vị, lại không ở giữa, nên hoàn cảnh không mấy thuận lợi. Vì vậy chỉ có thể giấu tài và giữ chính đạo. Nếu làm việc cho vua thì không nên phô bày tài năng quá mức; phải quy công cho vua mới có kết quả tốt. Quẻ này tương ứng với quẻ Bĩ, là quẻ các phe âm tụ tập, quyền bính mất đi. Vì vậy khi xử sự nên ngoài mặt tỏ ra hồ đồ nhưng trong lòng sáng suốt; như thế mới tránh được nhục nhã và đạt kết cục tốt.

Giải thích chi tiết hào Lục Tứ của quẻ thứ hai trong Chu Dịch



Hào từ Lục Tứ

Hào sáu ở vị trí thứ tư. Buộc chặt miệng túi, không lỗi, không danh dự.

Tượng truyện nói: Thắt miệng túi thì không có lỗi; thận trọng thì không bị hại.

Giải thích bằng văn nói

Lục Tứ: Thắt chặt miệng túi, như ngậm miệng không nói; không bị trách cứ cũng không được khen ngợi.

Tượng truyện nói: Thắt miệng túi, như ngậm miệng không nói, nghĩa là thận trọng thì không gặp tai họa.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống

Bình: Người được hào này gặp trở ngại trong kinh doanh; nói chung, ai thận trọng và biết thu liễm thì không gặp họa bất ngờ. Người làm quan nên giữ cẩn thận chức trách thường nhật, có thể hy vọng được thăng tiến. Với nữ mệnh, là người hiền đức làm gia đình hưng thịnh.

Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Thu liễm là điều cốt yếu, chỉ cần không phạm sai lầm.

Tài vận: Cất tiền vào túi cho an toàn, không đầu tư thêm.

Gia trạch: Bình an là phúc.

Sức khỏe: Thận trọng bảo dưỡng cơ thể.

Quẻ biến của hào Lục Tứ

"周易第2卦的六四变卦卦的卦图

Khi hào Lục Tứ động, biến thành quẻ thứ 16 của Chu Dịch: quẻ Dự, Lôi Địa Dự. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Chấn ở trên) chồng lên nhau. Khôn là đất, là thuận; Chấn là sấm, là động. Sấm xuất hiện đúng thời, báo hiệu mùa xuân trở lại trên mặt đất. Nhờ thuận mà động, đó là nguồn gốc của hòa vui. Quẻ này và quẻ Khiêm là hai quẻ tổng hỗ tương, tác động lẫn nhau.


Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ


Hào thứ tư của quẻ Khôn, hào từ: Hào sáu ở vị trí thứ tư: Buộc chặt miệng túi, không lỗi, không danh dự.

Giải nghĩa hào từ của hào thứ tư quẻ Khôn: “Hào sáu ở vị trí thứ tư: Buộc chặt miệng túi, không lỗi, không danh dự.”

“Quát” vốn có nghĩa là buộc, trói, bó lại; cũng có nghĩa là chứa đựng, bao dung, thu gom, tìm kiếm, đồng thời còn chỉ phần đuôi của mũi tên.

Ý nghĩa của hào từ này là: Thắt miệng túi, không có tai họa cũng không có lời khen.

Bài học của Lục Tứ là: không cầu lập công, chỉ cầu không mắc lỗi. Xét về quái tượng, Lục Tứ là hào âm ở vị trí âm, nên đắc vị. Ta biết “hào Tứ thường nhiều sợ hãi”; hào này đã bắt đầu bước vào thượng quái, nhưng hoàn cảnh nguy nghi, bất an, tốt nhất là nên thu liễm. “Thắt miệng túi” nghĩa là dù tài năng thế nào cũng phải thu mình, không phô lộ, giữ kín lời nói, thận trọng trong lời nói và hành động. “Quát” còn chỉ đuôi mũi tên; “thắt túi” nghĩa là buộc chặt túi tên, chỉ để lộ đuôi tên, không giương cung bắn vào thời điểm then chốt. Như vậy tuy không được khen ngợi nhưng có thể bảo đảm không gặp tai họa. Qua các hào Lục Tam, Lục Tứ của Khôn và hào Tam, hào Tứ của Càn, có thể thấy quy luật: khi ở hào Tam, hào Tứ, không có lỗi đã là đủ.

Tượng truyện nói: “Thắt miệng túi, không lỗi” là thận trọng thì không bị hại.

Điều này chỉ ra rằng “thắt miệng túi, không tai họa cũng không lời khen” nghĩa là làm việc thận trọng thì không bị hại. Ví dụ tương ứng với hào này là sau khi vua Trụ giết hại người vô tội bừa bãi, không còn ai dâng lời can gián hay hiến kế cho Trụ; mọi người đều ngậm chặt miệng, không tự chuốc khổ vào thân, cuối cùng tránh được tai họa.

Sau khi được hào này, nếu muốn đầu tư thì tốt nhất nên tạm hoãn; tuy không có lợi nhuận nhưng cũng không bị tổn thất. Cũng đừng cho người khác vay tiền, hãy thắt chặt túi tiền. Phải giữ kín miệng, không nói này nói nọ, cũng không nên tốt bụng bày mưu tính kế cho người khác. Đừng vội tìm kiếm lợi nhuận hay lời khen; điều quan trọng trong thời kỳ này là không cầu lập công, chỉ cầu không mắc lỗi.

Lúc này dương khí suy yếu, âm khí thịnh vượng, là tượng trời đất sắp đóng lại. Vì vậy người hiền nên lui ẩn, dùng đại trí quan sát biến động thời cuộc, quy ẩn để bảo toàn bản thân và chờ thời cơ ra giúp đời. Xét về quẻ khí, lúc này tương đương với quẻ Quan của tháng tám.


Giải thích chi tiết hào Lục Ngũ của quẻ thứ hai trong Chu Dịch


Hào từ Lục Ngũ

Lục Ngũ: Xiêm vàng, đại cát.

Tượng truyện nói: Xiêm vàng đại cát vì đức ở bên trong.

Giải thích bằng văn nói

Lục Ngũ: Xiêm màu vàng, đại cát đại lợi.

Tượng truyện nói: Xiêm vàng đại cát, vì “xiêm vàng” tượng trưng cho đức hạnh bên trong của con người.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống


Cát: Người được hào này sẽ thu được tài lợi, mọi việc ổn định, không gặp tai họa. Người làm quan sẽ được thăng tiến, công danh hiển đạt. Với nữ mệnh, là người vợ có đức, hiền thục.

Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Công danh hiển hách.

Tài vận: Nhất định có lợi nhuận.

Gia trạch: Gia đình hòa vui, đầm ấm.

Sức khỏe: Bệnh ở đường tiêu hóa.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第2卦的初九变卦卦的卦图

Khi hào Lục Ngũ động, biến thành quẻ thứ 8 của Chu Dịch: quẻ Tỷ, Thủy Địa Tỷ. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Khảm ở trên) chồng lên nhau. Khôn là đất, Khảm là nước. Nước bám vào đất, đất tiếp nhận sông biển; đôi bên nương tựa, thân mật không cách ngăn. Quẻ này hoàn toàn đối lập với quẻ Sư, là quẻ tổng đối của nhau. Nó trình bày đạo lý thân ái tương trợ, khoan dung vô tư và chân thành đoàn kết.


Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ


Tượng truyện nói: “Thắt miệng túi, không lỗi” là thận trọng thì không bị hại.
Điều này chỉ ra rằng “thắt miệng túi, không tai họa cũng không lời khen” nghĩa là làm việc thận trọng thì không bị hại. Ví dụ tương ứng với hào này là sau khi vua Trụ giết hại người vô tội bừa bãi, không còn ai dâng lời can gián hay hiến kế cho Trụ; mọi người đều ngậm chặt miệng, không tự chuốc khổ vào thân, cuối cùng tránh được tai họa.
Sau khi được hào này, nếu muốn đầu tư thì tốt nhất nên tạm hoãn; tuy không có lợi nhuận nhưng cũng không bị tổn thất. Cũng đừng cho người khác vay tiền, hãy thắt chặt túi tiền. Phải giữ kín miệng, không nói này nói nọ, cũng không nên tốt bụng bày mưu tính kế cho người khác. Đừng vội tìm kiếm lợi nhuận hay lời khen; điều quan trọng trong thời kỳ này là không cầu lập công, chỉ cầu không mắc lỗi.

Lúc này dương khí suy yếu, âm khí thịnh vượng, là tượng trời đất sắp đóng lại. Vì vậy người hiền nên lui ẩn, dùng đại trí quan sát biến động thời cuộc, quy ẩn để bảo toàn bản thân và chờ thời cơ ra giúp đời. Xét về quẻ khí, lúc này tương đương với quẻ Quan của tháng tám.



Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ hai trong Chu Dịch



Hào từ Thượng Lục

Thượng Lục: Rồng giao chiến nơi đồng hoang, máu chúng màu vàng sẫm.

Tượng truyện nói: Rồng giao chiến nơi đồng hoang, vì đạo của chúng đã đến chỗ cùng quẫn.

Giải thích bằng văn nói

Thượng Lục: Rồng tranh đấu trên mặt đất, máu chảy khắp đồng hoang.

Tượng truyện nói: Rồng tranh đấu trên mặt đất là ví dụ cho con người đi đến cảnh cùng quẫn bế tắc.

Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống

Hung: Người được hào này gặp rắc rối vì cạnh tranh, có thể chịu tổn thất lớn. Người làm quan có thể gặp họa bị giáng chức.

Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan

Thời vận: Cùng đường bế tắc.

Tài vận: Mất sạch vốn liếng.

Gia trạch: Mất trật tự, bất hòa.

Sức khỏe: Can huyết mất điều hòa, nguy hiểm.

Quẻ biến của hào Thượng Lục

"周易第2卦的上六变卦卦的卦图

Khi hào Thượng Lục động, biến thành quẻ thứ 23 của Chu Dịch: quẻ Bác, Sơn Địa Bác. Đây là quẻ dị (Khôn ở dưới, Cấn ở trên) chồng lên nhau. Năm hào âm ở dưới, một hào dương ở trên; âm thịnh, dương cô độc. Núi cao bám vào đất. Cả hai đều là tượng bong tróc, nên gọi là quẻ Bác. Quẻ này âm thịnh dương suy, ví như kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử khốn đốn, sự nghiệp hư hỏng.



Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu


Xét về quái tượng, Thượng Lục là hào trên cùng của quẻ Khôn, đã tới địa vị cao nhất. Hơn nữa, hào âm ở vị trí trên, thuộc đắc vị. Vì thế có thể trở nên kiêu ngạo, trái với nguyên tắc ôn hòa, nhu thuận, lấy nhu thắng cương. Trong hành động có thể biểu hiện cứng rắn và nóng vội, khiến kế hoạch thất bại, thậm chí làm hại bản thân và người khác.

Văn Ngôn truyện giải thích: “Âm nghi ngờ dương thì tất phải giao chiến. Vì bị cho là không có dương nên gọi là ‘rồng’. Tuy vẫn chưa rời khỏi đồng loại của mình nên gọi là ‘máu’.”
Ý câu này là: Vì âm nghi ngờ dương nên kết quả tất nhiên xảy ra chiến tranh. Họ không cam chịu việc bản thân không có dương; Thượng Lục ở vị trí trên, rất đắc thế, nên trở nên kiêu ngạo, tự xưng là dương, tự xưng là rồng đại diện cho dương. Tuy vậy, vì vẫn là hào âm nên không thể rời khỏi loại âm; quan hệ huyết thống đã quyết định điều đó và không thể thay đổi.