Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 4, quẻ Mông, Sơn Thủy Mông, Cấn trên Khảm dưới

Mông: hanh thông. Không phải ta cầu nơi kẻ trẻ dại, mà kẻ trẻ dại cầu ta. Lần bói đầu ta báo cho biết; hỏi đi hỏi lại một cách khinh nhờn thì ta không báo nữa. Giữ chính bền thì có lợi.

Thoán truyện nói: Mông là dưới núi có hiểm, gặp hiểm mà dừng lại, đó là Mông. Mông hanh thông vì hành động hợp thời, hợp trung. Không phải ta cầu kẻ trẻ dại, mà kẻ trẻ dại cầu ta, vì chí hướng hai bên ứng với nhau. Lần bói đầu báo cho biết là nhờ hào Cương ở trung. Hỏi đi hỏi lại một cách khinh nhờn mà không báo là vì khinh Mông. Dùng Mông để nuôi dưỡng điều chính là công của bậc thánh.

Tượng truyện nói: Dưới núi tuôn ra dòng suối, đó là Mông. Người quân tử noi theo dòng suối tiến tới quyết liệt ấy để nuôi dưỡng đức hạnh.

Sơ đồ quẻ 4: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 4 — nguyên văn và tổng quan



Giải thích chi tiết quẻ thứ tư Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Mông
Mông: hanh thông. Không phải ta cầu nơi kẻ trẻ dại, mà kẻ trẻ dại cầu ta. Lần bói đầu ta báo cho biết; hỏi đi hỏi lại một cách khinh nhờn thì ta không báo nữa. Giữ chính bền thì có lợi.
Tượng truyện nói: Dưới núi tuôn ra dòng suối, đó là Mông. Người quân tử noi theo dòng suối tiến tới quyết liệt ấy để nuôi dưỡng đức hạnh.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Mông: hanh thông. Không phải ta cầu nơi người trẻ dại ngu muội, mà người trẻ dại ngu muội cầu nơi ta. Lần bói đầu, thần linh báo cho biết. Nếu khinh nhờn mà bói đi bói lại, thần linh sẽ không trả lời. Tuy vậy, hỏi điều chính đáng vẫn là cát.
Tượng truyện nói: Thượng quái là Cấn, tượng trưng cho núi; hạ quái là Khảm, tượng trưng cho suối. Dưới núi có suối tuôn trào, đó là tượng quẻ Mông. Người quân tử quan sát tượng ấy, noi theo dòng suối núi tiến mãi không ngừng, từ đó dùng hành động quả cảm và kiên nghị để nuôi dưỡng đức hạnh bản thân.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Mông, Cấn trên Khảm dưới, là quẻ đời thứ tư của Cung Ly. Mông nghĩa là mông muội, chủ về quanh quẩn tiến lui, nghi hoặc không tiến, lo buồn và sai lầm; là quẻ hung.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Trí tuệ chưa mở, mông muội bế tắc; do dự không quyết đoán, thiếu sự quả quyết.
Người được quẻ này có trí tuệ như trẻ thơ, không phân biệt đúng sai, mất phương hướng. Nếu biết thuận theo lời dạy của thầy hiền bạn tốt, khai mở sự sáng suốt thì sẽ hanh thông.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tích lũy đức hạnh, rồi xuất thế ra giúp đời.
Tài vận: Kinh doanh mỏ khoáng sản, quyết đoán thì cát.
Gia trạch: Quân tử ở thì cát; khởi đầu hôn nhân.
Sức khỏe: Xua đuổi tà nhiệt, có thể giữ bình an.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Cấn ở trên chồng lên nhau. Cấn là hình tượng núi, ví cho dừng; Khảm là hình tượng nước, ví cho hiểm. Hình quẻ là dưới núi có hiểm mà vẫn không dừng tiến lên, đó là mông muội nên gọi là quẻ Mông. Nhưng vì nắm được thời cơ, hành động hợp thời, nên quẻ cũng có tượng khai sáng và hanh thông.
Đại tượng: Mông là tối tăm không thấy gì, vì vậy nên “khai mở sự mông muội”.
Vận thế: Ban đầu mê muội, không biết phương hướng; phải nhẫn nại chờ thời rồi mới hành động. Việc gì cũng nên nghe thêm ý kiến người khác thì vận sẽ hanh thông.
Sự nghiệp: Lúc bắt đầu, sự nghiệp hỗn loạn, vô trật tự, nguy cơ bủa vây. Hành động dũng cảm, kiên nghị có thể xoay chuyển tình thế. Tuy nhiên phải tiếp nhận sự giáo dục nghiêm khắc, nuôi dưỡng tinh thần phấn đấu. Nhất thiết phải thiết thực, tối kỵ viển vông cao xa, nếu không sẽ rơi vào cảnh cô lập, không ai giúp đỡ.
Kinh doanh: Nhất thiết phải cẩn thận, không được nóng vội cầu thành công, ham lợi trước mắt. Đặc biệt phải xây dựng đạo đức kinh doanh cao thượng, nâng sức cạnh tranh bằng uy tín tốt để giành thắng lợi.
Cầu danh: Phải tiếp nhận nền giáo dục cơ bản tốt và tu dưỡng tình cảm. Hơn nữa, nếu động cơ chính đáng thì có thể đạt mục tiêu.
Hôn nhân tình cảm: Chú ý khảo sát phẩm đức của đối phương, không được lấy tiền bạc làm mồi nhử. Vợ chồng cần khoan dung và thấu hiểu lẫn nhau.
Quyết định: Có lúc sẽ rơi vào cảnh hoang mang, bế tắc; thêm vào đó lại nhút nhát, thiếu quyết đoán nên thường làm hỏng việc. Nếu có thể tiếp nhận lời dạy của bậc trưởng thượng, thậm chí cả những thử thách khắc nghiệt, gạt bỏ tâm lý nghi ngờ sợ hãi và chờ đợi thời cơ thích hợp, ắt sẽ thuận buồm xuôi gió.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ tư

Quẻ Mông là trí tuệ của giáo dục khai sáng. Cấn là núi, Khảm là suối, dưới núi có suối tuôn ra. Suối mới chảy ra khỏi núi rồi dần dần sẽ hội thành sông, cũng như trẻ thơ mông muội dần được khai sáng. Lại có hiểm dưới núi; vì gặp hiểm mà dừng bước nên mông muội không sáng tỏ. Giai đoạn đầu của sự phát triển sự vật tất nhiên là mông muội, vì vậy giáo dục là việc cấp thiết. Nuôi dưỡng phẩm chất thuần chính, không tà của học sinh là phương pháp trị Mông.
Quẻ Mông là hai quái dị chồng lên nhau, hạ quái là Khảm, thượng quái là Cấn. Cấn là hình tượng núi, ví cho dừng; Khảm là hình tượng nước, ví cho hiểm. Hình quẻ là dưới núi có hiểm mà vẫn không dừng tiến lên, đó là mông muội nên gọi là quẻ Mông. Nhưng vì nắm được thời cơ, hành động hợp thời, nên cũng có tượng khai sáng và hanh thông.
Quẻ Mông là quẻ thứ hai sau quẻ Truân, quẻ khởi sinh. Tự Quái truyện nói: “Vật sinh ra tất còn Mông, nên tiếp đó là Mông. Mông là mông muội, đặc biệt là sự non trẻ.” Giai đoạn non trẻ của sự vật giống trạng thái mông muội chưa khai mở; ở con người thì chỉ trẻ thơ còn ngu ngơ.
Tượng truyện giải thích quẻ Mông như sau: “Dưới núi tuôn ra dòng suối, đó là Mông. Người quân tử dùng hành động quả quyết để nuôi dưỡng đức hạnh.”

Quẻ 4 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Cửu Sơ của quẻ thứ tư Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Hào Sơ Lục: Khai mở sự mông muội. Dùng người bị hình phạt làm khuôn mẫu thì có lợi, tháo bỏ xiềng xích. Tiến tới sẽ hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Trừng phạt kẻ phạm tội là có lợi, nhờ đó chỉnh đốn pháp luật.
Giải thích bằng văn nói
Hào Sơ Lục: Khai mở sự mông muội, giáo dục học sinh phát triển năng lực sản xuất; thầy giáo dùng người bị hình phạt làm gương, tháo còng tay và cùm chân cho phạm nhân. Tiến lên sẽ khó khăn.
Tượng truyện nói: Trừng trị tội nhân là có lợi, có thể nhờ đó chỉnh đốn kỷ cương pháp luật.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này có nhiều kiện tụng, bất hòa với người thân bạn bè, nhiều tranh đấu, nhưng cuối cùng có thể thoát giải. Người làm quan làm công việc giáo dục hoặc thuộc hệ thống tư pháp.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cầu vinh lại chuốc nhục, nên thu liễm bản thân.
Tài vận: Tránh tranh tụng; được lẽ phải thì nên dừng.
Gia trạch: Cẩn thận quản lý gia đình; có thể hủy hôn.
Sức khỏe: E có chấn thương bên ngoài.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Sơ Lục biến thành quẻ thứ 41 của Chu Dịch: Sơn Trạch Tổn. Đây là quẻ dị, do Đoài ở dưới và Cấn ở trên chồng lên nhau. Cấn là núi; Đoài là đầm. Núi ở trên, đầm ở dưới; đầm lớn xâm thực chân núi. Tổn ích đan xen: trong tổn có ích, trong ích có tổn. Giữa hai mặt không thể không thận trọng. Tổn hạ ích thượng, như trị quốc, nếu quá mức sẽ làm tổn thương nền móng quốc gia. Nên tổn khi cần tổn, nhưng phải lượng sức và giữ chừng mực. Tổn ít mà ích nhiều là tốt nhất.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào thứ nhất của quẻ Mông, hào từ: Sơ Lục: Khai mở sự mông muội; dùng người bị hình phạt làm gương, tháo bỏ xiềng xích thì có lợi. Tiến tới sẽ hổ thẹn.
Sơ Lục: Khai mở sự mông muội; dùng người bị hình phạt làm gương, tháo bỏ xiềng xích thì có lợi. Tiến tới sẽ hổ thẹn. Giải thích hào từ.
Người bị hình phạt: “Hình” là chữ cổ của “khuôn”, chỉ khuôn đất dùng làm đồ gốm hoặc khuôn cát dùng đúc đồ vật thời xưa. Ở đây “hình” có thể hiểu là đặt ra khuôn phép, cưỡng chế dẫn về điều ngay chính, tức một hình thức giáo dục. Xiềng xích: dụng cụ hình phạt bằng gỗ. “Thuyết” đồng nghĩa với “thoát”, nghĩa là tháo ra.
Hào từ này có nghĩa là: Khai mở sự mông muội, thích hợp tuyên truyền các quy định hình phạt để quy phạm hành vi của mọi người, nhờ đó giáo dục họ không làm việc trái pháp luật, phạm tội và thoát khỏi nỗi khổ xiềng xích. Nếu ai không chuyên tâm học những điều này mà vẫn hành động, về sau sẽ rơi vào khó khăn.
Xét từ tượng quẻ, Sơ Lục là hào Âm ở vị trí Cương, nên thất vị; lại không ở trung, thuộc thất trung. Nó hành động hấp tấp, không giữ chính đạo, giống đứa trẻ chưa hiểu chuyện cứ xông xáo lung tung. Phía trên Sơ Lục là Cửu Nhị nâng đỡ; Cửu Nhị giống thầy hoặc trưởng bối, nghiêm khắc quản thúc, kịp thời răn phạt để dẫn nó về chính đạo. Lớn lên như vậy sẽ tuân thủ pháp luật, tránh tai họa lao tù. Ngược lại, nếu mặc cho phát triển, sau này sẽ phạm sai lầm lớn và hối hận không kịp.
Hào này gợi mở một phương pháp giáo dục con người: tác dụng của tấm gương, nhưng là mặt đối lập của tấm gương—tác dụng của điển hình xấu để cảnh tỉnh. Chẳng hạn, muốn giáo dục người ta không vi phạm pháp luật, hãy giảng giải luật lệ cho họ, lại cho họ xem kết cục của người phạm pháp, phạm tội và nói: “Một khi anh phạm pháp, anh sẽ giống họ, phải đeo còng tay và cùm chân.” Qua cách đó, khuyên răn mọi người giữ kỷ luật, tuân thủ pháp luật.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ tư Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Hào Cửu Nhị: Bao dung sự mông muội thì cát. Nạp vợ thì cát. Con trai có thể dựng nên gia đình.
Tượng truyện nói: Con trai có thể dựng nhà vì Cương và Nhu giao tiếp với nhau.
Giải thích bằng văn nói
Hào Cửu Nhị: Giáo dục bằng sự bao dung là điềm cát. Bói gặp hào này, cưới và đón vợ là tốt. Nam nữ có thể kết đôi lập gia đình.
Tượng truyện nói: Nam nữ kết đôi lập gia đình vì Cửu Nhị và Lục Tam ở gần nhau, biểu thị Âm Dương, Cương Nhu giao hội.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này nhân tình hòa hợp, trăm việc thành công; có thể kết hôn hoặc sinh con cháu, có tài có phúc. Người làm quan giữ được chức vị.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Có tài có phúc, con có thể kế nghiệp.
Tài vận: Thu nạp tài vật rộng rãi, bán hàng đến nơi xa.
Gia trạch: Vợ hiền con hiếu, có thể chấn hưng gia nghiệp.
Sức khỏe: Tập thể dục mềm dẻo.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Cửu Nhị biến thành quẻ thứ 23 của Chu Dịch: Sơn Địa Bác. Đây là quẻ dị, do Khôn ở dưới và Cấn ở trên chồng lên nhau. Năm hào Âm ở dưới, một hào Dương ở trên; Âm thịnh mà Dương cô độc. Núi cao gắn với mặt đất. Cả hai đều là tượng bong tróc, nên gọi là quẻ Bác. Quẻ này Âm thịnh Dương suy, ví kẻ tiểu nhân đắc thế, người quân tử khốn đốn, sự nghiệp bại hoại.


Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ tư Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Hào Lục Tam: Chớ cưới người phụ nữ này. Thấy người đàn ông giàu có thì không giữ được thân mình. Không có gì lợi.
Tượng truyện nói: Chớ cưới người phụ nữ này, vì hành vi của cô ta không thuận đạo.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tam: Không được cướp phụ nữ về làm vợ; sẽ gặp sự chống trả của người có vũ trang và mất mạng, chẳng có lợi ích gì.
Tượng truyện nói: Không thể cưới người phụ nữ này, vì Lục Tam ở trên Cửu Nhị là tượng Nhu cưỡi Cương, tượng trưng cho nữ áp chế nam, trái nghịch và không thuận lẽ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này sẽ sinh chuyện thị phi; nhẹ thì hao tài, nặng thì tổn thân. Người làm quan vì tham lam mà tự chuốc nhục.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thấy tiền quên nghĩa, danh tiếng suy bại.
Tài vận: Nhẹ thì mất tiền, nặng thì tổn thân.
Gia trạch: Vợ mạnh chồng yếu, e có bất an; không nên kết hôn.
Sức khỏe: Cẩn thận trong ăn uống.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Lục Tam biến thành quẻ thứ 18 của Chu Dịch: Sơn Phong Cổ. Đây là quẻ dị, là tổng quái của quẻ Tùy. Nghĩa gốc của Cổ là việc, mở rộng thành nhiều việc, rối loạn. Đồ đựng lâu ngày không dùng sinh sâu bọ gọi là Cổ, ví thiên hạ lâu ngày thái bình mà trở nên trì trệ, hủ bại; cần đổi mới sáng tạo, trị sửa chỉnh đốn, cứu vãn nguy cơ và chấn hưng sự nghiệp.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Lục Tam: Chớ cưới người phụ nữ này. Thấy người đàn ông giàu có thì không giữ được thân mình. Không có gì lợi. Giải thích hào từ.
“Thủ” nghĩa là cưới. “Không giữ thân” nghĩa là thất thân.
Hào từ này có nghĩa là: Không nên cưới người phụ nữ như vậy. Thấy người đàn ông giàu có, cô ta sẽ thất thân. Cưới cô ta không có bất cứ lợi ích nào.
Xét từ tượng quẻ, Lục Tam là hào Âm ở vị trí Dương nên thất vị, lại không ở trung. Lời đoán của hào này là “không có gì lợi”, nghĩa là hoàn toàn không có lợi ích. Cưới người phụ nữ sùng bái tiền bạc, gặp đàn ông giàu là tự thất thân, sẽ có hại chứ không có lợi cho hôn nhân. Người vợ ảnh hưởng rất lớn đến con cái; một người vợ không hiền đức sẽ làm gia đình rối ren, ảnh hưởng xấu đến sự trưởng thành của con, nên gọi là “không có gì lợi”.
Tượng truyện nói: “Chớ cưới người phụ nữ này” chủ yếu chỉ hành vi của cô ta không hợp lễ, tức cô ta chưa được giáo dục khai sáng tốt. Vì vậy khi cưới vợ, cần chú ý chọn người phụ nữ được học hành hoặc có gia giáo tốt.
Người được quẻ này, nếu là giáo viên hoặc cha mẹ làm công việc giáo dục, cần chú ý vấn đề yêu đương sớm của học sinh hoặc con cái.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ tư Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Hào sáu, vị trí thứ tư: Người non nớt lâm vào cảnh khốn khó, đáng tiếc.
Tượng truyện nói: Nỗi hổ thẹn của việc bị Mông vây khốn là vì sống đơn độc, xa rời thực tế.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Tứ: Thoát khỏi cảnh khốn của Mông, thật đáng tiếc.
Tượng truyện nói: Bị mông muội vô tri làm khốn khổ vì sống tách khỏi tập thể, xa rời đời sống.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này nhân tình lạnh nhạt, công việc bị cản trở. Tĩnh thì không tai họa, động thì có tổn thất. Người làm quan khó thăng tiến vì không được ai trọng dụng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nước xa không cứu được lửa gần, không giúp được gì.
Tài vận: Thiếu vốn, khó tránh nghèo khổ.
Gia trạch: Ở nơi hẻo lánh, cuộc sống khốn khó.
Sức khỏe: Thể chất suy nhược, có chứng âm hàn.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Lục Tứ biến thành quẻ thứ 64 của Chu Dịch: Hỏa Thủy Vị Tế. Đây là quẻ dị, do Khảm ở dưới và Ly ở trên chồng lên nhau. Ly là lửa, Khảm là nước. Lửa ở trên, nước ở dưới; thế lửa lấn át thế nước, công cuộc dập lửa lớn chưa hoàn thành, nên gọi là Vị Tế. Chu Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn Khôn, kết thúc bằng hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, phản ánh đầy đủ tư tưởng biến hóa phát triển.


Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Mông, hào từ: Lục Tứ: Bị sự mông muội khốn đốn, đáng tiếc.
Lục Tứ: Bị sự mông muội khốn đốn, đáng tiếc. Giải thích hào từ.
Hào từ này có nghĩa là: Bị giam hãm trong mông muội thì gặp khó khăn.
Gợi mở nhân sinh từ hào thứ tư quẻ Truân
Quẻ Mông bao gồm hai loại người: một loại là người khai sáng, một loại là người còn ngu muội. Hào dương tượng trưng cho người khai sáng, còn hào âm tượng trưng cho người ngu muội. Xét hào Lục Tứ: tuy là hào âm ở vị trí mềm, thuộc loại đắc vị, nhưng nhìn lên nhìn xuống đều là hào âm, lại cách xa hai hào dương là Cửu Nhị và Thượng Cửu. Vì bị kẹt trong sự ngu muội, không có nơi nào để cầu cứu, không thể hành động nên rơi vào cảnh khốn khó. Phía trên và phía dưới hào Tứ đều là hào âm; những thứ cùng tính chất đẩy nhau. Hơn nữa, hào này nằm bên dưới quái Cấn, tựa như bị một ngọn núi đè lên, đương nhiên khó thoát khỏi số phận bị giam hãm. Trong quẻ Mông, hào âm tượng trưng cho sự ngu muội. Hào Lục Tứ bị đồng loại vây khốn, không thể kết hợp hay tương ứng với hào dương nên bị hãm khốn. Tuy nhiên, vì Lục Tứ đắc vị nên sẽ không gặp nguy hiểm, chỉ có đôi phần lo buồn và hổ thẹn.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ tư Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Hào Lục Ngũ: Sự mông muội của trẻ thơ, cát.
Tượng truyện nói: Sự cát tường của trẻ thơ mông muội là vì biết thuận theo và nghe lời.
Giải thích bằng văn nói
Hào Lục Ngũ: Giáo dục trẻ em và thiếu niên, cát.
Tượng truyện nói: Người trẻ dại mông muội được cát vì biết nhu thuận nghe theo.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này nếu nương tựa quý nhân, thầy tốt thì trăm việc thuận lợi, mưu cầu có thể thành.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Công danh chưa thành, gặp được thầy tốt thì cát.
Tài vận: Không thể tự lập, phải nhờ người khác kinh doanh.
Gia trạch: Đính hôn từ thuở nhỏ.
Sức khỏe: Tập luyện theo sự hướng dẫn của người khác.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Lục Ngũ biến thành quẻ thứ 59 của Chu Dịch: Phong Thủy Hoán. Đây là quẻ dị, do Khảm ở dưới và Tốn ở trên chồng lên nhau. Gió đi trên mặt nước, đẩy sóng và lan tỏa bốn phương. Hoán nghĩa là nước chảy phân tán. Nó tượng trưng cho tổ chức và lòng người tan rã; phải dùng biện pháp, phương thức tích cực để khắc phục tệ hại, cứu vãn sự ly tán, chuyển nguy thành an.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Giải thích hào từ
Hào từ này có nghĩa là: Giáo dục khai sáng nên tiến hành sớm, nhằm vào khuyết điểm của trẻ còn mông muội để hành động trước. Đừng đợi đến khi vấn đề của trẻ bộc lộ hoàn toàn mới giáo dục, mà phải phòng bệnh từ trước và tiến hành giáo dục khai sáng sớm.
Tượng truyện nói: “Có lợi cho việc chống giặc”, nghĩa là trên dưới thuận theo nhau. Nói cách khác, đối với việc giáo dục trẻ em, giáo dục vỡ lòng cần được tiến hành từ sớm, phải nhắm vào khuyết điểm của trẻ nhỏ mà uốn nắn trước khi chúng gây hại cho người khác. Khi còn nhỏ, trẻ giống như một tờ giấy trắng; nếu không tô cho trẻ những màu sắc tốt đẹp, trẻ rất dễ bị những màu khác làm ô nhiễm. Nếu giáo dục không tốt, những tư tưởng giống như của kẻ cướp có thể ảnh hưởng và làm hư trẻ, khiến trẻ trở thành người gây hại cho xã hội như kẻ cướp. Nếu giáo dục đúng đắn và truyền đạt tư tưởng chính nghĩa, trẻ có thể trở thành người tốt chống lại kẻ cướp, có ích cho xã hội.

Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ 4 trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Hào Thượng cửu: Đánh thức kẻ ngu muội. Không lợi cho việc làm giặc, lợi cho việc chống giặc.
Tượng truyện nói: Có lợi cho việc chống giặc, vì trên dưới thuận theo nhau.
Giải thích bằng văn nói
Hào Thượng cửu: Đánh thức kẻ ngu muội; không nên làm giặc mà phải chống giặc.
Tượng từ nói: Có lợi cho việc phòng ngự trộm cướp, vì hào dương Thượng cửu ở đầu quẻ, cho thấy bề tôi thuận phục và ủng hộ. Việc phòng ngự trộm cướp được mọi người ủng hộ, ắt sẽ thắng lợi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nên giữ nếp cũ, cẩn thận đề phòng tranh tụng và sự quấy nhiễu của trộm cướp. Người làm quan có thể mang chức danh, chức vụ tư khấu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nên thủ, không nên công; hòa thuận với mọi người.
Tài vận: Thuận theo tình thế mà làm thì tốt; việc mua bán hòa hợp.
Gia trạch: Đức của người vợ quý ở sự thuận hòa; gia đạo bình yên.
Sức khỏe: Nên chú trọng bảo dưỡng.

Quẻ biến của hào Thượng Cửu
"周易第4卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Thượng cửu biến, được quẻ 7 trong Chu Dịch: Địa Thủy Sư. Đây là quẻ dị chồng lên nhau (Khảm dưới, Khôn trên). “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, ví việc giấu quân trong dân. Binh đao là điềm dữ, chiến tranh nguy hiểm; dùng quân là điều bậc thánh hiền chỉ làm khi bất đắc dĩ. Tuy vậy, việc ấy có thể giải quyết mâu thuẫn thuận lợi vì thuận theo tình thế, xuất quân có danh nghĩa chính đáng, nên biến dữ thành lành.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Mông; hào từ: Thượng cửu: Đánh thức kẻ ngu muội. Không lợi cho việc làm giặc, lợi cho việc chống giặc.
Thượng cửu: Đánh thức kẻ ngu muội. Không lợi cho việc làm giặc, lợi cho việc chống giặc. Giải nghĩa hào từ
Hào từ này có nghĩa là: Giáo dục khai sáng nên tiến hành sớm, nhằm vào khuyết điểm của trẻ còn mông muội để hành động trước. Đừng đợi đến khi vấn đề của trẻ bộc lộ hoàn toàn mới giáo dục, mà phải phòng bệnh từ trước và tiến hành giáo dục khai sáng sớm.
Tượng truyện nói: “Có lợi cho việc chống giặc”, nghĩa là trên dưới thuận theo nhau. Nói cách khác, đối với việc giáo dục trẻ em, giáo dục vỡ lòng cần được tiến hành từ sớm, phải nhắm vào khuyết điểm của trẻ nhỏ mà uốn nắn trước khi chúng gây hại cho người khác. Khi còn nhỏ, trẻ giống như một tờ giấy trắng; nếu không tô cho trẻ những màu sắc tốt đẹp, trẻ rất dễ bị những màu khác làm ô nhiễm. Nếu giáo dục không tốt, những tư tưởng giống như của kẻ cướp có thể ảnh hưởng và làm hư trẻ, khiến trẻ trở thành người gây hại cho xã hội như kẻ cướp. Nếu giáo dục đúng đắn và truyền đạt tư tưởng chính nghĩa, trẻ có thể trở thành người tốt chống lại kẻ cướp, có ích cho xã hội.