Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 7, quẻ Sư, Địa Thủy Sư, Khôn trên Khảm dưới

Sư: Giữ chính thì bậc trưởng thượng được cát, không lỗi.

Thoán truyện nói: Sư là đám đông, Trinh là chính trực. Có thể dùng sự chính trực để dẫn dắt đám đông thì có thể làm vua. Cứng ở giữa mà có ứng, đi qua hiểm nguy nhưng thuận theo chính đạo. Dùng điều này để chỉnh lý thiên hạ mà dân chúng theo về, đã cát thì còn lỗi gì nữa?

Tượng truyện nói: Trong đất có nước, đó là quẻ Sư. Bậc quân tử noi theo đó mà dung nạp dân chúng và nuôi dưỡng tập thể.

Sơ đồ quẻ 7: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 7 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ bảy trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Sư
Sư: Giữ chính; bậc trưởng thượng cát, không lỗi.
Tượng truyện nói: Trong đất có nước, đó là quẻ Sư. Bậc quân tử noi theo đó mà dung nạp dân chúng và nuôi dưỡng số đông.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Sư: Bói hỏi tình hình quân sự của tổng chỉ huy thì không có tai họa.
Tượng từ nói: Hạ quái là Khảm, tượng nước; thượng quái là Khôn, tượng đất, giống như “trong đất có nước”; đó là quẻ tượng của Sư. Bậc quân tử xem quẻ tượng này, noi theo đất dung chứa sông ngòi, thu nhận và nuôi dưỡng đại chúng.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Sư có Khôn trên, Khảm dưới, là quẻ Quy Hồn của cung Khảm. Sư nghĩa là quân chúng. Chỉ khi chọn bậc trưởng thượng đức cao vọng trọng để thống lĩnh quân đội thì mới cát, không lỗi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Lo việc huy động dân chúng và quân đội, biến hóa vô cùng; phải công chính vô tư, vượt qua muôn vàn khó khăn.
Người được quẻ này gặp hết khó khăn này đến khó khăn khác, lo lắng làm dân chúng mệt mỏi. Nên bao dung người khác, nỗ lực gian khổ và loại bỏ mọi trở ngại.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bao dung người khác, tu dưỡng bản thân, chờ thời.
Tài vận: Có tiền của trong kho, nên biết trân trọng giữ gìn.
Nhà cửa: Kết hôn với người có duyên cũ, đáng vui mừng.
Sức khỏe: Bụng trướng; điều hòa khí thì không đáng lo.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ khác loại chồng lên nhau, Khảm ở dưới, Khôn ở trên. “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, ví việc giấu quân trong dân. Binh đao chiến tranh là hung hiểm; dùng binh là điều thánh nhân bất đắc dĩ mới làm, nhưng có thể giải quyết mâu thuẫn thuận lợi vì thuận theo tình thế, xuất quân có danh nghĩa chính đáng, nên hóa hung thành cát.
Đại tượng: Tượng nuôi quân, tụ chúng, xuất quân chinh phạt; đôi bên đều bị tổn thương, khó được yên ổn.
Vận thế: Khó khăn chồng chất. Việc gì cũng làm theo lối chính quy, tránh độc đoán và đầu cơ thủ lợi, đề phòng kẻ địch tiềm ẩn.
Sự nghiệp: Trở lực rất lớn, khó khăn nhiều, đang ở trong tình trạng cạnh tranh gay gắt. Phải hợp tác chặt chẽ với người khác, cẩn thận từng li từng tí, hành động quyết đoán, tuyệt đối không manh động mù quáng; vừa phải là đủ, chú ý bảo toàn bản thân. Cơ động linh hoạt, nghiêm khắc với mình. Bình tĩnh, điềm đạm đối phó mọi việc thì ắt thành công.
Kinh doanh: Đã có một khoản tích lũy nhất định, có thể tiến hành hoạt động tiếp thị lớn, nhưng tất nhiên sẽ bị cuốn vào cuộc chiến thương mại gay gắt. Cần tinh thần cương nghị, bền bỉ và đạo đức kinh doanh cao, kết hợp phương pháp linh hoạt; đừng ham lợi nhỏ, đừng coi thường, tăng cường giao tiếp với người khác, ắt có thể thoát khốn, hóa nguy thành an.
Cầu danh: Có điều kiện rất tốt nhưng cần sự dẫn dắt đúng đắn. Phải nghiêm khắc với bản thân, khắc phục sự quấy nhiễu của các yếu tố bất lợi; qua nỗ lực vững chắc ắt được cả danh lẫn lợi.
Hôn nhân, tình yêu: Phải thận trọng và chuyên nhất, nếu không sẽ rơi vào tranh chấp “tay ba”. Theo đuổi si tình thì có thể đạt mục đích.
Quyết định: Bẩm sinh thông minh, tính tình linh hoạt, ý chí kiên cường, theo đuổi sự nghiệp chuyên tâm, tiến lên vượt khó. Có thể làm nên đại nghiệp. Thích cạnh tranh, giỏi tranh biện, giàu tinh thần mạo hiểm nên khó tránh phiền phức. Cần chín chắn thận trọng, không tham công, lấy trung chính làm trọng.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ bảy

Quẻ Sư là quẻ khác loại chồng lên nhau, Khảm ở dưới, Khôn ở trên. “Sư” chỉ quân đội. Khảm là nước, là hiểm; Khôn là đất, là thuận, ví việc giấu quân trong dân. Binh đao chiến tranh là hung hiểm; dùng binh là việc thánh nhân bất đắc dĩ mới làm, nhưng thuận theo tình thế và xuất quân có danh nghĩa chính đáng thì có thể giải quyết mâu thuẫn thông suốt, hóa hung thành cát. Được quẻ này rất có lợi cho việc thống lĩnh quân đội xuất chinh, ắt không có tai họa. Quẻ Sư là quẻ thiên mã ra khỏi đàn, tượng ít thắng nhiều.
Quẻ Sư đứng sau quẻ Tụng. Tự quái giải thích: “Tranh tụng ắt có nhiều người nổi lên, nên tiếp đến là Sư. Sư là đám đông.” Người tranh tụng ngày càng đông, cuối cùng hình thành quân đội.
Tượng truyện giải thích quẻ Sư như sau: Hạ quái Khảm là hiểm và nước; thượng quái Khôn là đất và thuận. Toàn quẻ là hình tượng dưới đất có nước. Nước ẩn dưới đất lấy mãi không hết, cũng như binh lính xuất thân từ nông dân. Vì vậy quẻ này tượng trưng cho Sư. Bậc quân tử xem tượng ấy, noi theo tinh thần đó, thường ngày dung nạp và nuôi dân như đất chứa nước, tích lũy sức mạnh quân đội trong nhân dân để khi có chiến tranh dùng mãi không cạn.
Tượng quẻ Sư có hổ, ngựa và trâu, chỉ các địa chi Dần, Ngọ, Mùi; tướng quân đứng trên đài, nắm quyền binh; người cầm ấn bái lạy dưới đất, chỉ việc được ban thưởng. Đây là quẻ thiên mã ra khỏi đàn, tượng ít chế ngự nhiều.

Quẻ 7 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ bảy trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ Lục: Xuất quân phải theo kỷ luật; không giữ kỷ luật thì hung.
Tượng truyện nói: Xuất quân phải theo kỷ luật; mất kỷ luật thì hung.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Lục: Chỉnh đốn quân đội ra trận hoàn toàn phải dựa vào kỷ luật; không tuân thủ kỷ luật sẽ gặp nguy.
Tượng từ nói: Chỉnh đốn quân đội ra trận hoàn toàn phải dựa vào kỷ luật; mất sự ràng buộc của kỷ luật sẽ mang đến nguy hiểm.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này, nếu kinh doanh đúng đắn, hàng hóa và tiền của sẽ tăng từng ngày. Nhưng người manh động thì thành ít bại nhiều. Người bất lương gặp nhiều hiểm nguy, hình phạt và thương tích. Người làm quan nên thận trọng giữ chính đạo, ắt được cấp trên coi trọng.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Vận thời: Bỏ đạo nghĩa để cầu lợi thì cuối cùng sẽ chuốc lấy nhục nhã.
Tài vận: Kinh doanh vận tải biển, hợp với nghĩa thì cát.
Nhà cửa: Cai quản gia đình bằng phép tắc, nếu không ắt hung.
Sức khỏe: Hàn nhiều hơn nhiệt, nên chữa trị sớm.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Sơ Lục động, được quẻ 19: Địa Trạch Lâm. Đây là quẻ dị, gồm Đoài ở dưới và Khôn ở trên. Khôn tượng Đất, Đoài tượng Đầm; đất cao hơn đầm, đầm được đất chứa đựng. Quẻ ví việc quân chủ đích thân đến với thiên hạ, trị quốc an bang, trên dưới hòa hợp.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Giải nghĩa hào từ của hào thứ nhất trong quẻ Sư
Luật nghĩa là quân kỷ, kỷ luật. Phủ tàng nghĩa là không tốt; ở đây chỉ việc không giữ quân kỷ.
Ý nghĩa hào từ này là: Xuất quân chinh chiến phải có kỷ luật nghiêm minh; nếu quân kỷ hỗn loạn thì tất nhiên gặp hung.
Xét theo quái tượng, Sơ Lục là hào âm ở ngôi dương, lại nằm trong hạ quái Khảm, giống như một binh sĩ cấp thấp có tư chất yếu, năng lực kém mà không chịu trở về chính đạo. Với người lính như vậy, phải nghiêm minh quân kỷ và quản thúc chặt chẽ; nếu không, toàn quân sẽ như cát rời, không có sức chiến đấu.
Người được quẻ này, nếu là chủ doanh nghiệp hay lãnh đạo, nhất định phải chú ý giữ kỷ luật nghiêm minh. Người tốt không bằng chế độ tốt; nếu đặt ra chuẩn mực cho mọi hành vi hoạt động và nghiêm túc thi hành thì công việc của cấp dưới sẽ đâu ra đó. Phải quản thúc nghiêm người bên dưới, nếu không công ty hay đơn vị sẽ gặp nguy hiểm.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ bảy trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Ở giữa quân đội thì cát, không lỗi; vua ba lần ban mệnh.
Tượng truyện nói: Ở giữa quân đội mà cát vì được trời sủng ái. Vua ba lần ban mệnh vì có thể quy phục và vỗ về muôn nước.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Chủ soái ở trong quân chỉ huy, cát lợi, không tai họa. Vua ba lần ban lệnh khen thưởng.
Tượng từ nói: Chủ soái ở trong quân chỉ huy là cát vì được trời sủng ái. Vua ba lần ban lệnh khen thưởng vì chủ soái có thể thu phục muôn nước.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này gặp quý nhân, mưu việc có thể thành. Người làm quan được cấp trên trọng vọng, có cơ hội thăng tiến. Người học hành đạt thành tích tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nhân tài xuất chúng, được trọng vọng lớn.
Tài vận: Mưu lược xuất chúng, người lãnh đạo được lợi.
Nhà cửa: Được láng giềng kính trọng; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Làm khí huyết lưu thông thì bệnh sẽ thuyên giảm.

Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Cửu Nhị động, được quẻ 2: Khôn vi Địa. Đây là quẻ đồng, gồm Khôn chồng lên Khôn ở dưới và ở trên, mang tính âm. Quẻ tượng trưng cho Đất, đối lập với quẻ Càn; thuận theo Trời, nâng đỡ muôn vật, mở rộng vô cùng vô tận. Quẻ Khôn lấy ngựa cái làm biểu tượng, cho thấy đạo của Đất sinh thành, nuôi dưỡng muôn vật, đồng thời nương theo Trời, thuận thời, tính tình nhu thuận. “Trước mê sau được” chứng minh rằng Khôn phải thuận theo và đi theo Càn thì mới nắm được phương hướng đúng, theo chính đạo và đạt cát lợi.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Vương là vua. Ban mệnh nghĩa là ban lệnh, ở đây là hạ lệnh khen thưởng.
Ý nghĩa hào này là: Làm thống soái trong quân, giữ trung không thiên lệch thì được cát, không có tai họa; vua nhiều lần ban lệnh khen thưởng.
Xét theo quái tượng, Cửu Nhị ở ngôi giữa của hạ quái. Cửu Nhị và Lục Ngũ chính ứng với nhau. Lục Ngũ là ngôi Trời, hay ngôi thiên tử, hết sức ủng hộ Cửu Nhị, nên sẽ ban thưởng và giao cho Cửu Nhị trọng trách.
Tượng truyện nói: “Ở giữa quân đội thì cát” là được trời sủng ái; “vua ba lần ban mệnh” là có thể vỗ về, quy phục muôn nước.
Người được quẻ này nên học theo Thiệu Công Hổ: đi cho ngay, hành xử đoan chính thì không có tai họa, lại được khen thưởng và thăng tiến.
Cửu Nhị là chủ soái ba quân, nắm trọng quyền trong tay nên tự nhiên cát lợi, không có tai họa. Được giao trọng trách như vậy cho thấy thiên tử tin cậy và sủng ái người này. Quân vương ba lần ban mệnh, chứng tỏ đặt kỳ vọng lớn vào việc an bang định quốc. Cửu Nhị ứng với Lục Ngũ ở ngôi quân vương nên có thể nhận mệnh lệnh của quân vương. Trong Chu Lễ nói: “Một lần nhận mệnh thì nhận chức, hai lần nhận mệnh thì nhận phục sức, ba lần nhận mệnh thì nhận địa vị.” Có thể thấy ba lần ban mệnh này trao quyền lực cực lớn. Người xưa cho rằng hào này chỉ việc Vũ Vương lập công khi dẫn quân và được Văn Vương ban thưởng. Vì khi đó Vũ Vương chưa lên ngôi nên chưa thể gọi là “quân”.

Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ bảy trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Quân đội có thể chở xác chết về, hung.
Tượng truyện nói: Quân đội chở xác chết về, đó là thất bại lớn, không có công lao.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Quân đội xuất chinh, có người chở xác chết trở về; đây là điềm hung.
Tượng từ nói: Quân đội xuất chinh, có người chở xác chết về, cho thấy tiền tuyến đã thất trận.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này gặp nhiều buồn phiền, hoặc người thân trong nhà mắc bệnh qua đời. Người làm quan sẽ được bổ nhiệm nhưng phải chờ khuyết chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không có đức mà ở ngôi vị thì khó tránh hung.
Tài vận: Hao tổn hàng hóa, mất tiền của, hung hiểm vô cùng.
Nhà cửa: Không được yên ổn, phải hết sức thận trọng.
Sức khỏe: Có thể qua đời.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục tam động, được quẻ thứ 46 của Chu Dịch: Thăng, Địa Phong Thăng. Đây là quẻ dị, gồm Tốn ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Khôn tượng đất, thuận; Tốn tượng cây, nhún nhường. Cây cối sinh trưởng từ mặt đất, dần dần lớn lên, ngày càng cao to thành gỗ hữu dụng, ví như sự nghiệp từng bước thăng tiến, tiền đồ rộng lớn, nên gọi là “Thăng”.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Giải nghĩa hào từ hào thứ ba của quẻ Sư
“Dư” chỉ xe cộ. “Chở xác bằng xe” là dùng xe vận chuyển thi thể, tượng trưng cho cảnh quân đội bại trận.
Ý nghĩa của hào này là: thỉnh thoảng binh lính chở thi thể những người tử trận từ chiến trường trở về, rất hung hiểm.
Xét về tượng quẻ, Lục tam là hào âm ở vị trí dương, tư chất mềm yếu nhưng lại nóng vội, hấp tấp tiến lên. Hào này ở đầu trên của quái Khảm bên dưới; Khảm tượng nguy hiểm, nên Lục tam lâm vào tình thế cực kỳ nguy hiểm, phải hết sức phòng thủ, thận trọng, không thể mù quáng tiến công. Thế nhưng Lục tam lại cưỡi lên Cửu nhị, biểu thị không nghe sự sắp đặt của chủ soái, chống lệnh quân, khinh địch và tiến bừa. Vì vậy tất nhiên sẽ đại bại trở về.
Tượng truyện nói: “Quân đội có khi chở xác bằng xe” là không lập được công lớn nào. Câu này cho thấy việc binh lính thường xuyên chở thi thể người tử trận trở về chứng tỏ không biết mình biết người; trong lúc địch mạnh ta yếu mà không tự lượng sức vẫn phát động tiến công, kết quả là thất bại, hoàn toàn không có công trạng.
Xuất quân trở về mà trên xe không phải chiến lợi phẩm, toàn là thi thể các tướng sĩ trận vong, sao có thể không hung hiểm? Một mặt, chắc chắn đó là cảnh bại trận trở về, vừa trải qua hiểm nguy nơi chiến trường; mặt khác, chủ soái hẳn cũng không tha cho viên tướng chỉ huy cuộc xuất chinh này. Đó là hiểm nguy sau khi trở về.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ bảy Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ: Quân đội đóng trại ở bên trái, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Đóng trại bên trái không lỗi” vì chưa làm mất lẽ thường.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Quân đội đóng trại bên trái, không có nguy hiểm.
Tượng từ nói: “Quân đội đóng trại bên trái, không có nguy hiểm”, bởi việc đóng quân bên trái hay bên phải đều tùy vào địa hình và tình thế giữa địch với ta, không trái với lẽ thường của hành quân.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thể an cư lạc nghiệp, không gặp tai họa do hành động vọng động. Người làm quan vận quan chức không thuận, không nên mơ tưởng viển vông.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Quan vận không thuận, không nên mơ tưởng.
Tài vận: Hàng hóa hạng thứ vẫn có thể thu lợi.
Nhà cửa: Gần phía đông, hướng tây nam thì tốt; ở rể không lỗi.
Sức khỏe: Khi sinh khí mùa xuân trở lại, bệnh có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục tứ động, được quẻ thứ 40 của Chu Dịch: Giải, Lôi Thủy Giải. Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Chấn ở trên. Chấn tượng sấm, động; Khảm tượng nước, hiểm. Hiểm ở bên trong, động ở bên ngoài. Mùa đông khắc nghiệt khiến trời đất bế tắc, tĩnh đến cực điểm rồi chuyển động. Muôn vật đổi mới, đông qua xuân tới, mọi thứ được tháo gỡ; đó là Giải.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Giải nghĩa hào thứ tư của quẻ Sư
“Tả”: trong quân đội thời cổ trọng bên phải; bên phải là tiến lên, còn bên trái là rút lui. “Thứ” chỉ việc đóng quân từ hai ngày trở lên. Tả truyện có câu: “Phàm quân đội, nghỉ một đêm gọi là xá, hai đêm gọi là tín, quá tín gọi là thứ.” Đây là lời giải thích cho chữ “thứ”.
Ý nghĩa của hào từ này là: tạm thời rút quân để tránh chịu tổn thất.
Xét hào Lục tứ, đây là hào âm ở vị trí mềm, nên có tượng lui tránh.
Tượng truyện giải thích hào này: “Đóng trại bên trái không lỗi”, cho thấy chưa đánh mất lẽ thường.
Người được quẻ này nên căn cứ tình hình khách quan mà kịp thời điều chỉnh bố trí của mình; tốt nhất là tạm thời lui lại, nhằm thực hiện mục tiêu của bản thân tốt hơn.
Điều này muốn nói rằng đánh trận không nhất thiết lúc nào cũng phải cầu thắng. Khi không thể giành thắng lợi, phải biết lui để giữ thực lực; chỉ như vậy mới tránh được tai họa lớn. Chiến tranh du kích do Mao Trạch Đông đề xướng thể hiện ý nghĩa này. Phương châm “địch tiến ta lui, địch lui ta quấy” vừa bảo toàn sức chiến đấu, vừa tiêu diệt địch có hiệu quả. Người xưa nói, thắng bại là chuyện thường của nhà binh. Nhưng trong thất bại, phải biết giữ thực lực và giảm tổn thất. Chẳng hạn, Gia Cát Lượng sáu lần xuất quân đến Kỳ Sơn đều thất bại, nhưng khi rút lui đã bố trí khéo léo, không gây thương vong lớn và vẫn bảo toàn sức chiến đấu. Vì thế, dù sáu lần xuất quân đến Kỳ Sơn đều thua, hình tượng sáng chói về tài dùng binh như thần của Gia Cát Lượng vẫn không hề suy giảm.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ bảy Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục ngũ: Ngoài đồng có thú; có lợi khi nêu rõ lý do mà bắt giữ, không lỗi. Trưởng tử thống lĩnh quân đội, các con thứ chở xác; giữ nguyên như vậy là điềm hung.
Tượng truyện nói: “Trưởng tử thống lĩnh quân đội” là hành động theo đạo trung; “các con thứ chở xác” là do sai phái không đúng.
Giải thích bằng văn nói
Lục ngũ: Đi săn thì bắt được thú, ra trận thì bắt được tù binh, không có tai họa. Trưởng tử chỉ huy quân đội, con thứ hai thất trận và tử trận; đó là điềm hung.
Tượng từ nói: “Trưởng tử chỉ huy quân đội” là hành động theo trung đạo chính đáng. “Con thứ hai thất trận và tử trận” là vì sai dùng người.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này tài lộc tăng dần mỗi ngày; nếu dùng người đúng, mưu cầu có thể thành, nhưng phải đề phòng nguy cơ từ kẻ tiểu nhân. Người làm quan hoặc nắm thực quyền, hoặc được địa vị hiển đạt nhờ lời can gián. Người học sẽ đạt thành tích tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đức phải thắng tài, nếu không sẽ hung hiểm.
Tài vận: Lão luyện, từng trải, có lợi nhuận để thu.
Nhà cửa: Có lợi cho trưởng tử; hôn nhân thành nhờ mai mối.
Sức khỏe: Chạy bộ rèn luyện thân thể.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục ngũ động, được quẻ thứ 29 của Chu Dịch: Khảm vi Thủy. Đây là quẻ đồng, Khảm ở dưới và Khảm ở trên. Khảm tượng nước, hiểm; hai Khảm chồng lên nhau là hiểm chồng hiểm, trở ngại trùng trùng. Một hào dương sa vào giữa hai hào âm. May thay âm hư, dương thực, lòng thành có thể khai thông. Dù hiểm nguy chồng chất, chính trong hoàn cảnh ấy ánh sáng nhân tính mới được bộc lộ.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Giải nghĩa hào từ hào thứ năm của quẻ Sư
“Có lợi khi nêu rõ lý do”: đây là cách nói liên quan đến việc săn bắt. Ngoài đồng có thú dữ, cũng dùng để chỉ những kẻ phản loạn gây chuyện trong nước; đó là lý do xuất quân. Vì vậy, nói rõ những lý do ấy với mọi người là xuất quân có chính nghĩa, như thế sẽ không có tai họa.
Xét về tượng quẻ, Lục ngũ là hào âm ở ngôi quân chủ, ở giữa nhưng không đúng vị. Hào âm ở ngôi vua thường thiếu khí dương cương nhưng có đức âm nhu; không chủ động phát động tiến công, chủ trương hòa bình và chính nghĩa, đối xử khiêm nhường với bề tôi, trọng người hiền và hạ mình đối đãi kẻ dưới. Trong quẻ này chắc chắn có kẻ địch xâm phạm, nên đó là cuộc chiến chính nghĩa. Bề tôi hết sức ủng hộ Lục ngũ, tinh thần chiến đấu rất cao. Điều then chốt là Lục ngũ có biết người và dùng người đúng chỗ hay không.
Về hào từ của Lục ngũ, Tượng truyện giải thích như sau: “Trưởng tử thống lĩnh quân đội” là hành động theo trung đạo; “các con thứ chở xác” là do sai phái không đúng. Xét toàn bộ hào từ, phần trước nói rằng xuất quân có chính nghĩa và không có tai họa.
Giải thích chi tiết hào Thượng lục của quẻ thứ bảy Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục: Đại quân ban mệnh, khai lập các nước và nối tiếp dòng họ; không dùng kẻ tiểu nhân.
Tượng truyện nói: “Đại quân ban mệnh” là để xét công ban thưởng cho đúng; “không dùng kẻ tiểu nhân” vì kẻ tiểu nhân ắt làm loạn đất nước.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Quốc quân ban lệnh; có người được phong làm chư hầu, hưởng đất phong, có người được phong làm đại phu, hưởng thái ấp. Nhưng không được trọng dụng kẻ tiểu nhân không tài không đức.
Tượng từ nói: “Quốc quân ban lệnh phong thưởng công thần” là luận công ban thưởng. Không được trọng dụng kẻ tiểu nhân không tài không đức, vì kẻ tiểu nhân tất sẽ làm nghiêng đổ đất nước, khiến quốc gia rối loạn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thể gây dựng gia kế hoặc kế thừa cơ nghiệp, nhưng phải đề phòng kẻ tiểu nhân cản trở. Người làm quan sẽ nắm quyền và lập công. Nhân tài chuyên môn sẽ nổi danh nhờ kỹ nghệ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Luận công ban thưởng, chớ làm kẻ tiểu nhân.
Tài vận: Nhờ giàu mà được sang, nhưng phải đề phòng kẻ tiểu nhân.
Nhà cửa: Gia đạo hưng vượng; người quý phái làm mai mối.
Sức khỏe: Vận động bình thường.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第7卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Thượng lục động, được quẻ thứ 4 của Chu Dịch: Mông, Sơn Thủy Mông. Đây là quẻ dị, Khảm ở dưới và Cấn ở trên. Cấn tượng núi, chủ dừng; Khảm tượng nước, chủ hiểm. Hình quẻ là dưới núi có hiểm mà vẫn không dừng bước tiến lên, đó là sự mông muội, nên gọi là quẻ Mông. Nhưng vì biết nắm thời cơ, hành động hợp thời, quẻ cũng có tượng khai mở và thông đạt.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Giải nghĩa hào từ hào thứ sáu của quẻ Sư
“Đại quân” là vua, thiên tử. “Nước” chỉ lãnh địa của chư hầu, tức phong người có công làm chư hầu.
Ban đất phong; “nhà” là lãnh địa của đại phu, tức phong công thần làm đại phu và ban đất cho họ.
Ý nghĩa của hào này là: khải hoàn trở về, thiên tử ban chiếu phong thưởng công thần, hoặc phong làm chư hầu, hoặc thượng khanh, hoặc đại phu; nhưng tuyệt đối không được trọng dụng kẻ tiểu nhân.
Hào Thượng lục chỉ thời điểm chiến tranh kết thúc, quân trở về triều, bắt đầu luận công ban thưởng. Hào này chủ yếu chỉ ra nên phong thưởng các tướng sĩ đã chiến đấu như thế nào.
Người được quẻ này, nếu là chủ doanh nghiệp hay lãnh đạo, khi nhân viên hoặc cấp dưới lập thành tích hay có đóng góp thì nhất định phải luận công ban thưởng. Tuy nhiên, khi khen thưởng kẻ tiểu nhân cần chú ý cách thức.
Điều này nói về cảnh Vũ Vương diệt Trụ rồi phân phong chư hầu. Khi ấy Vũ Vương đã lên ngôi thiên tử, trở thành minh chủ của các chư hầu, nên được gọi là “Đại quân”. “Khai quốc thừa gia” là phân phong các tướng lĩnh và mưu sĩ có công. Mưu sĩ đầu tiên được Vũ Vương ban thưởng là Khương Tử Nha, được gọi là Chu sư, Tề tổ, vì ông là người lãnh đạo khai quốc của nước Tề, nên được xem là “Tề tổ”. Sau khi dựng chính quyền mới, điều cần chú ý nhất là “không dùng kẻ tiểu nhân”.