Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 11, quẻ Thái, Địa Thiên Thái, Khôn trên Càn dưới

Thái: Cái nhỏ đi, cái lớn đến; cát, hanh thông.

Thoán truyện nói: Thái là cái nhỏ đi, cái lớn đến, nên tốt lành và hanh thông. Điều đó có nghĩa là trời đất giao hòa, vạn vật thông suốt; trên dưới giao cảm, chí hướng đồng nhất. Bên trong là dương, bên ngoài là âm; bên trong cương kiện, bên ngoài thuận theo; bên trong là người quân tử, bên ngoài là kẻ tiểu nhân. Đạo của người quân tử ngày càng lớn mạnh, còn đạo của kẻ tiểu nhân ngày càng suy giảm.

Tượng truyện nói: Trời đất giao cảm là Thái. Bậc quân chủ theo đó mà điều chỉnh, hoàn thành đạo trời đất, trợ giúp sự thích hợp của trời đất và nâng đỡ dân chúng.

Sơ đồ quẻ 11: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 11 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Dự
Dự: Có lợi cho việc phong chư hầu và xuất quân.
Tượng truyện nói: Sấm phát ra từ đất và làm đất rung động, đó là Dự. Các vị vua thời trước theo đó mà chế tác âm nhạc, tôn sùng đức hạnh, long trọng dâng lễ lên Thượng đế và phối hưởng cùng tổ tiên.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Dự: Có lợi cho việc phong hầu lập nước và xuất binh đánh trận.
Thoán Tượng nói: Thượng quái là Chấn, tức sấm; hạ quái là Khôn, tức đất. Sấm xuân vang dội, đất rung chuyển, thúc đẩy vạn vật sinh trưởng; đó là tượng quẻ Dự. Các vị vua trước quan sát tượng này, noi theo tiếng sấm vang khắp mặt đất, chế tác âm nhạc, ca ngợi công đức, đem vinh quang dâng lên Thượng đế và tổ tiên.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Dự có Chấn ở trên, Khôn ở dưới, là quẻ sơ thế của cung Chấn. Sấm phát ra từ đất và làm đất rung động, tượng trưng cho sấm xuân đánh thức vạn vật và uy quyền của quân vương lưu hành trong dân chúng; vì vậy có lợi cho việc phong hầu và xuất quân.
Gia vận: Gia đình hòa hợp, có tượng hanh thông. Mọi việc nên cân nhắc được mất, không được làm bừa, nếu không sẽ chuốc họa và bất lợi.
Bệnh tật: Bệnh lâu ngày bất lợi, chú ý các chứng ở ruột, phổi và đầu.
Thai sản: Sinh quý tử, an ổn không tai họa. Sinh con gái cũng không trở ngại.
Con cái: Cha mẹ và con cái hòa thuận, hạnh phúc viên mãn. Hãy chú ý giáo dục, đừng để quá tùy tiện, nếu không vận sẽ suy sụp và bất hạnh.
Xoay vòng vốn: Có thể thành công.
Mua bán: Giao dịch có lợi, thu được lợi nhuận.
Đợi người: Sẽ đến.
Tìm người: Ở nhà bạn bè hoặc họ hàng, có tin tức và có thể tìm thấy.
Đồ mất: Không xuất hiện.
Xuất hành: Thuận buồm xuôi gió.
Thi cử: Có hy vọng đỗ đạt, nên tiếp tục cố gắng, chớ lười nhác.
Tố tụng: Đúng sai từ việc nhỏ hóa lớn, cuối cùng có thể hòa giải.
Cầu việc: Cát lợi, hanh thông.
Đổi nghề: Cát.
Khai trương: Người mở cửa kinh doanh có tượng cát lợi.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ mười một

Là âm. Vốn dĩ Càn là trời phải ở trên, Khôn là đất phải ở dưới, nhưng quẻ Thái với Khôn ở trên và Càn ở dưới lại rất cát. Thượng quái là Khôn, tượng đất, thuộc âm khí; hạ quái là Càn, tượng trời, thuộc dương khí. Âm khí nặng đục chìm xuống, dương khí trong sáng bay lên, âm dương giao cảm. Nếu dương khí bay lên không có sự chế ước thì sẽ cạn kiệt năng lượng mà không sinh kết quả; nếu âm khí chìm xuống không có sự chế ước thì cũng cạn kiệt năng lượng. Vì vậy dương khí bay lên có âm khí che phủ bảo hộ; âm khí chìm xuống có dương khí nâng đỡ. Âm dương giao cảm, trên dưới thông nhau, trời đất giao nhau, vạn vật được thái bình. Tượng truyện nói: “Trời đất giao cảm là Thái. Bậc quân chủ theo đó mà điều chỉnh, hoàn thành đạo trời đất, trợ giúp sự thích hợp của trời đất và nâng đỡ dân chúng.” Tượng truyện chỉ ra rằng tượng quẻ Thái là Càn (trời) ở dưới, Khôn (đất) ở trên; địa khí bay lên, càn khí giáng xuống, biểu thị địa khí ở trên càn khí. Hai khí âm dương một thăng một giáng, giao hợp thuận lợi, thông suốt. Khi ấy quân chủ phải nắm thời cơ, khéo điều tiết và điều hòa, hoàn thành đạo trời đất giao cảm, thúc đẩy cơ duyên trời đất hóa sinh vạn vật, bảo hộ dân chúng để họ an cư lạc nghiệp. Quẻ Thái tượng trưng cho sự thông đạt, gợi mở đạo lý tùy thời biến đổi, thuộc nhóm quẻ trung bình. Tượng phán quẻ này rằng: “Học văn đầy bụng bước vào trường thi, đỗ đầu cả ba kỳ rồi đắc ý trở về; từ nay giải tỏa sầu muộn, niềm vui vang như tiếng sấm giữa đồng bằng.” Tên quẻ là Thái. “Thuyết Văn” nói: “Thái nghĩa là lớn.” Sớ giải thiên Khúc Lễ thượng trong “Lễ Ký” nói: “Thái là cái lớn nhất trong những điều lớn.” Có thể thấy Thái nghĩa là vô cùng rộng lớn. Đất đai rộng, sản vật phong phú thì con người tự nhiên giàu có, nên Thái còn có nghĩa giàu sang, dư dả. Con người ăn no mặc ấm thì xã hội hòa bình ổn định, nên Thái cũng hàm nghĩa an toàn và ổn định.

Quẻ 11 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Nhổ cỏ tranh cả rễ cùng với đồng loại của nó; tiến bước thì tốt.
Tượng truyện nói: Nhổ cỏ tranh rồi tiến bước được tốt vì chí hướng hướng ra bên ngoài.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Nhổ cỏ tranh cả rễ cùng đồng loại; tiến quân chinh phạt kẻ địch thì cát.
Thoán Tượng nói: Nhổ cỏ tranh tận gốc, chinh phục hoàn toàn kẻ địch thì tốt, cho thấy chí hướng là đánh nước địch.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này gặp người đồng chí hợp mưu, tài lợi tăng từng ngày. Người làm quan sẽ dần được thăng tiến.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Nhờ người mà thành việc, từng bước thăng tiến.
Tài vận: Hợp tác thành công, hàng hóa và tiền của tụ hội.
Gia trạch: Đoàn tụ, bình an.
Sức khỏe: Hẹn nhau cùng vận động.

Quẻ biến của hào Sơ Cửu
"周易第11卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Sơ Cửu biến thành quẻ 46 trong Chu Dịch: Địa Phong Thăng. Đây là quẻ dị, gồm Tốn ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Khôn là đất, là thuận; Tốn là cây, là nhún nhường. Cây mọc từ đất, dần dần trưởng thành, ngày càng cao lớn và hữu dụng, ví cho sự nghiệp từng bước thăng tiến, tiền đồ rộng mở, nên gọi là Thăng.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Trong sự nghiệp, công danh lợi lộc không phải ưu tiên hàng đầu; cần chú trọng hơn đến quan hệ với mọi người. Khi giao tiếp, đừng tiếc tiền. Nếu ăn uống với bạn bè, nên dùng rượu ngon nhất để tiếp đãi. Xây dựng nền tảng quan hệ tốt thì làm việc mới cát tường như ý. Muốn gây dựng sự nghiệp, chỉ dựa vào sức một mình rất khó thành công; nên tìm những “người đồng loại” đồng chí hướng để cùng làm, mới có khả năng thành công.

Thời xưa, Kinh Dịch cũng được quân vương dùng để bói. Nếu quân vương hoặc lãnh đạo được quẻ này, phải chú ý các thế lực tham nhũng trong nước, nhổ bỏ tận gốc như nhổ cỏ, như vậy mới đại cát.
Ý nghĩa kinh văn là: Nhổ cỏ tranh, rễ dài của cỏ tranh kéo cả đồng loại rời khỏi đất; chinh chiến thì cát. Ý nghĩa Tượng là: Nhổ cỏ tranh rồi chinh chiến được tốt vì tâm chí hướng lên trên, có tinh thần tiến thủ.
Nhổ cỏ tranh là một trong những hoạt động sản xuất nông nghiệp của người xưa. Dùng để làm gì? Thứ nhất, nhổ cỏ tranh khỏi ruộng để thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng; thứ hai, làm thức ăn cho gia súc; thứ ba, dùng làm vật phẩm tế lễ, tức đặt lễ vật lên trên cỏ tranh.


Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Bao dung vùng hoang dã, dùng quả bầu rỗng để vượt sông, không bỏ sót nơi xa, bạn bè tan mất, được tôn trọng nhờ đi theo đường trung.
Tượng truyện nói: Bao dung vùng hoang dã, được tôn trọng nhờ đi theo đường trung là vì làm cho đức hạnh sáng rõ và rộng lớn.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Dùng quả bầu khoét rỗng buộc vào người để qua sông, không bị chìm. Tiền bạc thất lạc nhưng giữa đường được người khác giúp đỡ.
Thoán Tượng nói: Người ấy có độ lượng lớn, được người đồng hành ngưỡng mộ sâu sắc vì quang minh chính đại.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này gặp vận may, ắt gặp quý nhân, nhưng phải đề phòng bậc trưởng thượng bị tổn hại và lời nói gây thương tổn. Người làm quan sẽ ở địa vị cao, công danh hiển đạt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Công danh hiển đạt, ra nước ngoài cũng thuận lợi.
Tài vận: Buôn bán đường xa có lợi, thuận cho thương mại quốc tế.
Gia trạch: Chớ tin người hầu.
Sức khỏe: Bệnh khó chữa.
Quẻ biến của hào Cửu Nhị
"周易第11卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào Cửu Nhị biến thành quẻ 36 trong Chu Dịch: Địa Hỏa Minh Di. Đây là quẻ dị, gồm Ly ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Ly là sáng, Khôn là thuận; Ly là mặt trời, Khôn là đất. Mặt trời lặn vào đất, ánh sáng bị tổn thương, tiền đồ không rõ, hoàn cảnh khó khăn. Nên thuận theo thời thế, dưỡng sự ẩn giấu, giữ vững chính đạo, ngoài ngu trong sáng, che giấu ánh sáng để tu dưỡng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Xét theo tượng quẻ, Cửu Nhị là hào dương ở vị âm, thất vị nhưng đắc trung.
Hào Sơ Cửu nêu việc coi trọng quan hệ; đến hào Cửu Nhị thì nhấn mạnh rằng trong quá trình kết giao, phải thực hành đạo trung dung, không lệch trái lệch phải, không thiên vị. Cần có tấm lòng bao dung tất cả và duy trì quan hệ tốt với đủ loại người, nhờ đó mở rộng con đường của mình.
Tượng truyện nói: “Bao dung vùng hoang dã”, “được tôn trọng nhờ đi theo đường trung”, vì có ánh sáng ở bên trong.
Câu này cho biết nếu đạt được cảnh giới “tấm lòng rộng lớn như bao dung sông lớn và tám phương” mà hào từ nói, “có thể phò tá quân chủ công chính có đạo đức”, thì bản thân phải quang minh chính đại, đạo đức cao thượng.
Ý nghĩa kinh văn là: Bao dung tám phương, lội qua sông, không bỏ mất bạn bè ở nơi xa, không kết bè kết phái mưu lợi riêng; đó là chuẩn mực hành xử trung chính.
Ý nghĩa Tượng là: Bao dung tám phương, lấy trung chính làm chuẩn mực hành động; điều đó cho thấy đức của Cửu Nhị rộng lớn.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tam
Cửu Tam: Không có mặt đất bằng phẳng nào mãi không thành dốc; không có gì ra đi mà không trở lại. Gian nan mà giữ chính thì không lỗi. Chớ lo lòng thành bị bắt giữ; trong chuyện ăn uống vẫn có phúc.
Tượng truyện nói: Không có gì ra đi mà không trở lại; đó là quy luật nơi giao giới của trời đất.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tam: Đất bằng cuối cùng sẽ thành đất dốc, rời đi ắt sẽ trở lại. Hỏi việc khó, hào tượng cho thấy nhất định vượt qua được gian nan. Chớ lo bị bắt; chuyện ăn uống vẫn có phúc.
Thoán Tượng nói: Rời đi ắt sẽ trở lại; đó là quy luật của trời đất.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này phải thận trọng, tự giữ mình; nên bảo thủ thì được yên, nếu không sẽ bị tiểu nhân hãm hại, việc gì cũng gặp trở ngại. Người làm quan sẽ khá gian nan, phải đề phòng tiểu nhân và lòng đố kỵ của người khác.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thận trọng, bảo thủ; ham hưởng lạc sẽ hại thân.
Tài vận: Trước mắt thất ý, về sau có lợi lớn.
Gia trạch: Cẩn thận giữ gìn cơ nghiệp cũ.
Sức khỏe: Trẻ nhỏ không sao, người già không tốt.

Quẻ biến của hào Cửu Tam
Hào Cửu Tam biến thành quẻ 19 trong Chu Dịch: Địa Trạch Lâm. Đây là quẻ dị, gồm Đoài ở dưới và Khôn ở trên chồng lên nhau. Khôn là đất, Đoài là đầm; đất cao hơn đầm, đầm chứa trong đất. Ví cho quân chủ đích thân lâm hạ thiên hạ, trị quốc an bang, trên dưới hòa hợp.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Xét theo tượng quẻ, Cửu Tam là hào dương ở vị cứng, đắc vị. Nhưng nó ở chỗ tiếp giáp giữa thượng quái và hạ quái,
Xét trong quẻ này, đây là nơi Càn và Khôn, trời và đất, giao nhau, nên sẽ phải đối mặt với nhiều biến đổi không thể lường trước.
Người xem được quẻ này cần hiểu đạo lý của cuộc đời. Nếu đang ở trong nghịch cảnh, hãy biết rằng không có con dốc nào không thể vượt qua; rồi sẽ có lúc đường quanh co mở lối, trước mặt là đồng bằng phẳng rộng. Ngược lại, nếu đang ở trên con đường bằng phẳng, cũng phải đề phòng hiểm trở và chướng ngại, có thể gặp hết gập ghềnh này đến gập ghềnh khác. Không ai luôn luôn thuận buồm xuôi gió. Dĩ nhiên, cũng không thể mãi mãi gặp vận rủi.
Người được quẻ này, tuy những biến đổi khó lường của cuộc đời có thể khiến bạn từng lúc hoang mang, nhưng chỉ cần giữ vững chính đạo, giữ lòng thành tín, cuối cùng rồi sẽ đến lúc “giữ được mây tan, trông thấy trăng sáng”.
Ý nghĩa kinh văn là: Không có nơi nào chỉ toàn đất bằng mà không có dốc, cũng không có việc chỉ đi mà không trở lại. Gặp gian nan nhưng giữ chính đạo thì không có tai họa. Không cần quá lo lắng; trong lòng giữ chữ thành tín thì sẽ được hưởng phúc về ăn uống.

Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục tứ. Nhẹ nhàng bay bổng mà không giàu có, dựa vào những người láng giềng, không cần cảnh giác mà vẫn giữ lòng thành tín.
Tượng truyện nói: Nhẹ nhàng bay bổng mà không giàu có, vì mọi người đều mất đi thực chất; không cần cảnh giác mà vẫn giữ lòng thành tín, vì đó là nguyện vọng từ trong lòng.
Giải thích bằng văn nói
Lục tứ: Dùng lời khéo léo để lừa người sẽ đem tai họa đến các ấp lân cận; không đề phòng thì sắp gặp nạn và bị bắt làm tù binh.
Tượng truyện nói: Dùng lời khéo léo lừa người, khiến tai họa lan đến láng giềng, nghĩa là cùng chịu tổn thất. Không đề phòng mà gặp nạn rồi bị bắt, ấy là vì lòng dạ quá đỗi trung hậu.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này sẽ bất lợi trong mưu tính, nên lui về giữ thế để được bình an. Người làm quan khó tiến thân, thích hợp lui về thủ thế.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bạn bè đồng lòng thì việc gì cũng có thể mưu tính.
Tài vận: Bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong yếu kém; được người cùng ngành hỗ trợ.
Gia trạch: Người thân và bạn bè giúp đỡ, tạm thời không có gì đáng lo.
Sức khỏe: Không cần lo lắng.

Quẻ biến của hào Lục Tứ
"周易第11卦的其中之一变卦卦的卦图
Hào sáu ở vị trí thứ tư động, biến thành quẻ 34 của Chu Dịch: Lôi Thiên Đại Tráng. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Càn ở dưới và Chấn ở trên. Chấn là sấm; Càn là trời. Càn cứng mạnh, Chấn lay động. Trời vang sấm, mây sấm cuồn cuộn, thanh thế lớn lao; khí dương thịnh vượng, vạn vật sinh trưởng. Vì cứng mạnh và đầy sức lực nên gọi là Tráng. Vừa lớn vừa mạnh, nên có tên là Đại Tráng. Bốn hào dương đang thịnh mạnh, tích cực hành động và tạo dựng; trên dưới đều chính, cột mốc ngay thì bóng cũng thẳng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Quả thật, nhìn từ góc độ một quốc gia, hào Lục tứ nói rằng các đại thần phải khiêm nhường với nhau, không lấy phú quý cá nhân làm mục tiêu, đối đãi cởi mở chân thành và cùng nhau ủng hộ nhà vua; như vậy đất nước sẽ thái bình, nhân dân được an cư.
Xét theo tượng quẻ, Lục tứ nằm sát bên ngôi Cửu ngũ tôn quý, ở nơi âm dương của hai thể trên dưới giao hội. Bên trên có lãnh đạo, bên dưới có thuộc cấp. Nếu vừa tận trung vừa giữ công đạo, dùng thái độ khiêm nhường để củng cố đoàn kết với lãnh đạo cấp trên, lại biết trọng người hiền và lễ đãi kẻ dưới, thì sẽ xuất hiện cục diện an thái, hòa thuận.
Đối với cá nhân, cần chú ý giữ quan hệ tốt với hàng xóm và đồng nghiệp. Dù sự nghiệp phát triển, chức vị được nâng lên, cũng đừng đắc ý quên mình.
Lục tứ. Nhẹ nhàng bay bổng mà không giàu có, dựa vào những người láng giềng, không cần cảnh giác mà vẫn giữ lòng thành tín.
Tượng truyện nói: Nhẹ nhàng bay bổng mà không giàu có, vì mọi người đều mất đi thực chất. Không cần cảnh giác mà vẫn giữ lòng thành tín, vì đó là nguyện vọng từ trong lòng.
Ý nghĩa kinh văn là: Nhẹ bẫng, không giàu có, giao du với láng giềng, không phòng bị mà vẫn giữ lòng thành tín. Ý nghĩa Tượng truyện là: Nhẹ bẫng và không giàu có vì họ đều thiếu sự sung túc thực chất. Không phòng bị mà giữ lòng thành tín vì trong lòng họ thật sự mong muốn như vậy.
Là đại thần trọng yếu của quốc gia, sao Lục tứ lại có thể “nhẹ bẫng, không giàu” được? Hóa ra ông là một vị quan thanh liêm! Trong thời thái bình, không có quan thanh liêm thì làm sao được. Nếu các đại thần trong nước ai nấy đều giàu có và tham lam, làm sao dân chúng có thể sung túc? Làm sao có thể xuất hiện thời thái bình thịnh trị? Vì vậy, thời thịnh thế không chỉ cần minh quân mà còn cần quan tốt. Vị đại quan Lục tứ này quả thật không tệ: dễ gần, lòng dạ chân thật, coi trọng chữ tín; người ta giao du với ông không cần đề phòng. Kỷ Hiểu Lam và Lưu La Oa được diễn trên truyền hình chính là những vị quan thanh liêm như vậy.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Lục Ngũ
Lục ngũ. Đế Ất nhà Ân gả em gái, nhờ đó được phúc, đại cát đại lợi.
Tượng truyện nói: Được phúc, đại cát, vì ở vị trí trung tâm nên hành động theo điều mong muốn.
Giải thích bằng văn nói
Lục ngũ: Đế Ất nhà Ân gả con gái cho Chu Văn Vương, nhờ đó được phúc, đại cát đại lợi.
Tượng truyện nói: Được phúc, đại cát, vì hào Lục ngũ ở vị trí trung tâm của thượng quái, giống như người hành sự theo đạo trung chính; việc làm ắt được toại nguyện.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này sẽ được người khác trọng vọng và nâng đỡ; hoặc kết hôn, sinh con, hưởng hạnh phúc an vui. Người làm quan có thể được thăng chức hoặc gặp việc vui.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khiêm nhường đối đãi với người, mọi việc đều cát lợi.
Tài vận: Kinh doanh quốc tế rất có lợi.
Gia trạch: Có người vợ hiền trợ giúp; kết hôn với người ở phương xa.
Sức khỏe: Chắc chắn được thần linh phù hộ.

Quẻ biến của hào Lục Ngũ
"周易第11卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Lục ngũ biến, được quẻ 5 của Chu Dịch: Thủy Thiên Nhu. Đây là quẻ dị (Càn dưới, Khảm trên) chồng lên nhau. Hạ quái là Càn, mang nghĩa cứng mạnh; thượng quái là Khảm, mang nghĩa hiểm hãm. Lấy cái cứng gặp hiểm, nên vững vàng thận trọng, không hành động hấp tấp, quan sát thời thế chờ biến; việc tiến hành ắt thành công.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Ý nghĩa kinh văn là: Đế Ất nhà Ân gả em gái, nhờ đó được phúc, đại cát đại lợi.
Khi một nước chư hầu trở nên giàu mạnh, minh chủ sẽ tìm cách kết thân với bạn. Kết thân thế nào? Chính là gả em gái hoặc con gái cho bạn. Đây là phương pháp trị quốc kinh điển của xã hội phong kiến. Trước triều Tần, chế độ phân phong được áp dụng; các chư hầu tăng cường đoàn kết bằng hôn nhân liên minh, nhưng kết quả lại dẫn đến đấu đá và phản loạn trong nội bộ. Từ thời Hoàng Đế đến thời Chiến Quốc, phần lớn chiến tranh là cuộc tranh giành quyền lực và lợi ích giữa các giai cấp thống trị có quan hệ huyết thống
giữa các giai cấp thống trị có quan hệ huyết thống.
Trong Kinh Dịch, chuyện “Đế Ất nhà Ân gả em gái” được nhắc đi nhắc lại, cho thấy nhà Chu xem đó là việc đáng tự hào. Thiên tử Đế Ất của Ân Thương đã gả em gái cho Chu Văn Vương, quả thật là một sự kiện lớn đối với nhà Chu. Nhà Chu lớn mạnh chính nhờ được hưởng lợi từ quan hệ huyết thống với Ân Thương; việc Trụ Vương không giết Văn Vương cũng phần nào liên quan đến mối quan hệ huyết thống ấy. Văn Vương là thúc phụ bên vợ của Trụ Vương, hơn nữa lại khá thật thà, nên Trụ Vương
tự nhiên không có ý định nhất quyết trừ khử Văn Vương.
Biện pháp “Đế Ất nhà Ân gả em gái” ngày nay vẫn tồn tại và mang một ý nghĩa nhất định. “Lục ngũ” âm nhu nhưng được vị trí trung, phía dưới ứng với Cửu nhị, khiến trên dưới thông suốt, thái hòa. Chẳng hạn, hai công ty lớn cạnh tranh với nhau thường nhờ một cuộc hôn nhân mà biến thù thành bạn, biến bạn thành người thân. Trước ngày giải phóng, trường hợp “ba chị em họ Tống” là điển hình rất thành công của hôn nhân liên minh. Vì sách viết về “ba chị em họ Tống” rất nhiều nên ở đây không nói thêm.
Người xem được quẻ này sẽ trải qua đau khổ và chờ đợi kiên nhẫn, rồi thực hiện được điều nguyện cầu ấp ủ từ lâu; cuối cùng ngày vui cũng đến.
Giải thích chi tiết hào Thượng lục của quẻ thứ mười một trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng lục. Thành đổ xuống hào; chớ dùng quân. Từ trong ấp truyền ra mệnh lệnh; giữ chính cũng đáng tiếc hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Thành đổ xuống hào, ấy là mệnh lệnh bị rối loạn.
Giải thích bằng văn nói
Thượng lục: Thành bị công phá, sụp xuống hào. “Hãy dừng tiến công”, mệnh lệnh từ trong ấp truyền ra. Bói hỏi thì gặp điềm không lành.
Tượng truyện nói: Thành bị công phá, sụp xuống hào (đáng lẽ phải thừa thế tấn công nhưng lại ra lệnh đình chỉ), đó là vì mệnh lệnh truyền từ trong ấp bị rối loạn.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này có thể gặp tổn thất hoặc bệnh tật; người cẩn trọng, trọng hậu có thể tránh họa. Người làm quan sẽ bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Thận trọng tự giữ mình, phải đề phòng kẻ tiểu nhân.
Tài vận: Chỉ nên thử sức nhỏ, chờ thời cơ.
Gia trạch: Cẩn thận giữ gìn cơ nghiệp.
Sức khỏe: Cẩn thận kẻo ngã.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第11卦的其中之一变卦卦的卦图
Khi hào Thượng lục biến, được quẻ 26 của Chu Dịch: Sơn Thiên Đại Súc. Đây là quẻ dị (Càn dưới, Cấn trên) chồng lên nhau. Càn là trời, cứng mạnh; Cấn là núi, vững chắc. “Súc” là tích tụ, Đại Súc nghĩa là tích chứa lớn. Vì vậy, không sợ gian nan hiểm trở nghiêm trọng, mà nỗ lực tu dưỡng tâm tính để làm phong phú đức hạnh và sự nghiệp.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Thái kéo dài rồi sẽ thành Bĩ, cũng như Bĩ đến cực điểm thì Thái lại đến; đó là điều tất nhiên theo thiên lý. Thời xưa, mỗi thành đều xây tường cao, bên dưới có hào. Hào dưới chân thành, không có nước thì gọi là hào khô, có nước thì gọi là ao. Người ta đào đất ở hào để xây thành nhằm bảo đảm an toàn; điều đó giống với đạo trị nước, cuối cùng đạt được an thái. Nhưng đến cuối quẻ Thái lại trở về quẻ Bĩ, giống như thành quách sụp đổ, đất trên thành lại chất xuống hào. Đó chính là đạo lý “thành trở về hào”.
Tượng truyện nói: Thành trở về hào, ấy là mệnh lệnh bị rối loạn.
Người xem được quẻ này cần hiểu rằng hoàn cảnh của mình sẽ chuyển theo hướng xấu. Vì vậy phải chú ý tự kiềm chế, nếu không sẽ tự chuốc phiền phức. Nếu tình thế không được kiểm soát kịp thời, sự nghiệp có thể bị đe dọa.