Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ thứ 12, quẻ Bĩ, Thiên Địa Bĩ, Càn trên Khôn dưới

Bĩ: Bị kẻ bất chính ngăn cách, không lợi cho người quân tử giữ chính; cái lớn đi, cái nhỏ đến.

Thoán truyện nói: Bị kẻ bất chính ngăn cách, không lợi cho người quân tử giữ chính; cái lớn đi, cái nhỏ đến. Ấy là trời đất không giao nhau, vạn vật không thông suốt; trên dưới không giao, thiên hạ không có nước. Bên trong là âm, bên ngoài là dương; bên trong mềm, bên ngoài cứng; bên trong là tiểu nhân, bên ngoài là quân tử. Đạo của tiểu nhân lớn lên, đạo của quân tử tiêu tan.

Tượng truyện nói: Trời đất không giao nhau là Bĩ. Người quân tử lấy tiết kiệm đức hạnh để tránh nạn, không thể lấy bổng lộc làm điều vinh hiển.

Sơ đồ quẻ 12: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 12 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Bĩ
Bĩ. Bị kẻ bất chính ngăn cách. Không lợi cho người quân tử giữ chính. Cái lớn đi, cái nhỏ đến.
Tượng truyện nói: Trời đất không giao nhau là Bĩ. Người quân tử lấy tiết kiệm đức hạnh để tránh nạn, không thể lấy bổng lộc làm điều vinh hiển.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Bĩ: Bị tiểu nhân ngăn cách; đây là quẻ không lợi cho người quân tử, sự nghiệp cũng sẽ từ thịnh chuyển sang suy.
Tượng truyện nói: Trời đất ngăn cách không thể giao cảm, vạn vật nghẹn tắc không thể lưu thông; đó là tượng quẻ Bĩ. Người quân tử xem tượng này, khi chính trị quốc gia bế tắc thì nên nghĩ đến việc ẩn cư, không ra làm quan, đề cao tiết kiệm để tránh tai họa, không lấy lợi lộc làm vinh.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Bĩ có Càn trên, Khôn dưới, là quẻ tam thế của cung Càn. Bĩ tượng trưng cho bế tắc, không thông, là điềm không lành. Trong quẻ Bĩ, âm dương không giao nhau, tượng cho mọi sự đều không hòa hợp.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cái lớn đi, cái nhỏ đến; bế tắc, không thông. Bĩ đến cực điểm thì Thái lại đến; hãy tu đức và tránh nạn.
Người được quẻ này gặp tượng vạn vật bế tắc, trên dưới không hòa hợp, mọi việc đều không thuận. Việc gì cũng nên nhẫn nhịn, chờ thời vận chuyển tốt rồi mới hành động.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Mọi việc không thuận, không được hành động bừa bãi.
Tài vận: Thích hợp mua vào, về sau có thể thu lợi.
Gia trạch: Siêng năng, tiết kiệm thì tránh được họa; có tượng chia lìa.
Sức khỏe: Khí huyết không thông, cần tiết chế ăn uống.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị (Khôn dưới, Càn trên) chồng lên nhau, có cấu trúc đối lập với quẻ Thái: dương khí đi lên, âm khí đi xuống, trời đất không giao nhau, vạn vật không thông. Hai quẻ là “quẻ tổng” của nhau, cho thấy Thái đến cực điểm thì thành Bĩ, Bĩ đến cực điểm thì Thái trở lại, nhân quả lẫn nhau.
Đại tượng: Khí trời đi lên, khí đất đi xuống; khí trời đất không giao nhau, chủ về bế tắc, không thông.
Vận thế: Trên dưới không hòa, trăm việc không thông. Việc gì cũng nên nhẫn, phải biết Bĩ đến cực điểm thì Thái lại đến.
Sự nghiệp: Rơi vào nghịch cảnh, sự nghiệp đang ở giai đoạn suy thoái nên có nhiều điều không thuận lợi. Bị kẻ tiểu nhân quấy nhiễu, không thể thỏa chí, gặp nhiều trắc trở. Nên giữ vững chính đạo, không cùng dòng với kẻ tiểu nhân; đoàn kết với những người đồng chí hướng, tự bảo vệ mình để chờ thời cơ. Hãy duy trì lòng tự tin, thận trọng và cảnh giác; tình thế nhất định sẽ chuyển biến tốt, cuối cùng sự nghiệp sẽ thành công.
Kinh doanh: Gặp đối thủ cạnh tranh mạnh, ở vào thế bất lợi; thông tin không linh hoạt gây tổn thất lớn. Cần đặc biệt cẩn thận, giữ thế phòng thủ, chờ thời cơ thuận lợi rồi mới nỗ lực phát triển sự nghiệp.
Cầu danh: Điều kiện chưa chín muồi. Hãy cố gắng thêm một thời gian; có được sự giúp đỡ của người khác thì lý tưởng có thể thành hiện thực.
Hôn nhân, tình cảm: Dễ nảy sinh chuyện ngoài dự kiến, thậm chí gặp trắc trở và biến động. Nếu cả hai bên đều đầy tự tin, kết quả tốt sẽ xuất hiện.
Quyết định: Bản thân thông minh, sáng suốt, siêng năng và nỗ lực, nhưng không chú ý quan hệ giữa người với người; cộng thêm sự bài xích của tiểu nhân, vận mệnh có thể gặp tai ương. Nếu ý chí kiên cường, có tinh thần phấn đấu và khắc phục được thiếu sót, dù phải trả giá rất cao, nhất định vẫn có thể hoàn thành sự nghiệp.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ mười hai

Nhìn từ hình quẻ, Càn ở trên, là trời; Khôn ở dưới, là đất, mỗi bên ở đúng vị trí của mình. Điều đó có nghĩa là chúng không giao tiếp với nhau, không quan hệ với bên ngoài, vị trí cố định không đổi và hành sự theo những quy củ cũ kỹ, thói tục xấu. Quẻ Bĩ mang nghĩa không thông, bế tắc, xấu đi, bị chê bỏ. Chính mình tự khép kín, làm tắc con đường tiến lên.
Quẻ Bĩ không lợi cho quân tử; tiểu nhân sắp đắc thế, quân tử sắp lui ẩn. Tiểu nhân chặn đường quân tử vì Khôn thuộc nội quái, Càn thuộc ngoại quái: tiểu nhân nắm việc bên trong, quân tử ở bên ngoài; tiểu nhân đắc thế, quân tử bị bài xích.
Quẻ Bĩ đứng sau quẻ Thái. Tự quái truyện giải thích: “Vạn vật không thể thông suốt mãi mãi, nên tiếp theo là Bĩ.” Không thể mãi mãi hanh thông, vì vậy bế tắc xuất hiện; quẻ tiếp theo được nói đến chính là quẻ Bĩ.
Tượng truyện nói: Trời đất không giao nhau là Bĩ. Người quân tử lấy tiết kiệm đức hạnh để tránh nạn, không thể lấy bổng lộc làm điều vinh hiển.
Tượng truyện chỉ ra: Tượng quẻ Bĩ là Khôn (đất) dưới, Càn (trời) trên, biểu hiện trời ở trên đất. Trời ở chỗ cực cao, đất ở chỗ cực thấp, âm dương trời đất vì thế không thể giao hợp, thời thế bế tắc không thông. Lúc này quân tử phải giữ đức cần kiệm để tránh hiểm nguy, tai họa, không được mưu cầu chức cao bổng hậu để theo đuổi vinh hoa phú quý. Quẻ Bĩ tượng trưng cho bế tắc, thuộc loại trung bình. Tượng truyện đoán rằng: Hổ rơi xuống hố, thật khó nói; tiến lên thì dễ, lui lại thì khó; mưu cầu không thành, bệnh tật và thị phi kéo theo nhau.

Quẻ 12 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào Sơ cửu của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục. Nhổ cỏ mao cùng rễ và cả loài của nó; giữ chính thì cát, hanh thông.
Tượng truyện nói: Nhổ cỏ mao thì giữ chính sẽ cát; chí hướng nằm ở việc phò tá quân vương.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Nhổ cỏ mao cùng rễ và cả loài của nó; được hào này thì bói thấy cát lợi, hanh thông.
Tượng truyện nói: Nhổ cỏ mao tận gốc, được hào này thì cát; ví như dọn sạch kẻ xấu bên cạnh quân vương để hết lòng trung với nước.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nên giữ nếp cũ. Khi tiểu nhân đắc thế, tuy hào từ tốt nhưng vẫn phải đề phòng bị lôi kéo vào chuyện của tiểu nhân. Người làm quan đã được bổ nhiệm nên chờ chỗ trống; người đang nắm quyền phải đề phòng sự quấy nhiễu.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hợp tác mưu việc, trong nhà có điềm lành.
Tài vận: Mở cơ sở kinh doanh mới thì phải thận trọng trong việc dùng người.
Gia trạch: Họ hàng sống chung, có thể chăm nom lẫn nhau.
Sức khỏe: Bệnh truyền nhiễm nhưng không đáng ngại.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ lục biến, được quẻ 25 của Chu Dịch: Thiên Lôi Vô Vọng. Đây là quẻ dị (Chấn dưới, Càn trên) chồng lên nhau. Càn là trời, cứng, khỏe; Chấn là sấm, cứng, động. Động mà mạnh, dương cứng thịnh, lòng người phấn chấn, ắt có thu hoạch; nhưng chỉ khi theo sự thuần chính, không được hành động vọng động. Không vọng ắt có thu hoạch, ắt có thể đạt phúc.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Sơ lục. Nhổ cỏ mao cùng rễ và cả loài của nó; giữ chính thì cát, hanh thông. Giải nghĩa hào từ.
“Như” chỉ rễ, dáng rễ và thân liền nhau. “Dĩ” đồng nghĩa với “cập”. “Hối” nghĩa là loại, hạng.
Ý nghĩa của hào từ này là: Nhổ cỏ mao tận gốc, cùng với cả loài của nó. Kết quả là cát tường, hanh thông.
Hào từ Sơ lục của quẻ Bĩ rất gần với hào từ Sơ cửu của quẻ Thái. Quẻ Thái nói: “Sơ cửu: Nhổ cỏ mao cùng rễ và cả loài của nó.”
Tiến hành thì cát. Quẻ Bĩ nói: “Sơ lục: Nhổ cỏ mao cùng rễ và cả loài của nó; giữ chính thì cát, hanh thông.”
Sơ lục là hào âm ở vị trí dương, nên vị không chính. Ở vị trí này rất khó thực hiện hoài bão, vì vậy không nên “tiến”, chỉ nên “giữ chính”. Tuy nhiên, hào âm Sơ lục tuy ở vị dương nhưng ứng với Cửu tứ, cho thấy có quan hệ với người có quyền thế ở cấp trên. Do đó, chỉ cần an phận, giữ đúng bổn phận và nhất trí với cấp trên thì có thể bình an, hanh thông.
Người xem được quẻ này cần biết môi trường mình đang ở rất bất lợi, không thể hành động. Tuy nhiên, hãy chú ý kết giao bạn bè, đừng tiếc tiền bạc để kết giao với những người bạn chân thành; khi bạn cần, họ sẽ hết lòng giúp đỡ. Trong lúc bế tắc không thông này, không được mù quáng tiến lên; hãy lui về giữ chính đạo, như vậy mới cát tường hanh thông.
Giải thích chi tiết hào Cửu nhị của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục nhị. Bao dung, thừa phụng; tiểu nhân thì cát, đại nhân giữ Bĩ thì hanh thông.
Tượng truyện nói: Đại nhân giữ Bĩ thì hanh thông, vì không làm loạn tập thể.
Giải thích bằng văn nói
Lục nhị: Trong bếp có thịt. Đối với dân thường là điềm cát, nhưng với quý tộc thì không phải dấu hiệu thông thái.
Tượng truyện nói: Quý tộc ở trong cảnh khốn khó thì có thể biết răn mình, yên phận giữ bổn phận.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nên nhẫn nại, đối đãi khoan dung với người khác, nếu không sẽ sinh thị phi. Người làm quan nên hành sự kín đáo.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khoan dung đối đãi với người, mọi việc đều cát.
Tài vận: Mua bán đều có lợi; nếu kiện tụng thì nên kháng cáo.
Gia trạch: Người già có bệnh nhưng không đáng ngại.
Sức khỏe: Tu thân dưỡng tính.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục nhị biến, được quẻ 6 của Chu Dịch: Thiên Thủy Tụng. Đây là quẻ dị (Khảm dưới, Càn trên) chồng lên nhau, đối lập với quẻ Nhu và là quẻ tổng của nhau. Càn là cứng mạnh, Khảm là hiểm hãm. Cứng đối hiểm, mạnh đối nguy, hai bên chống nhau thì tất sinh tranh tụng. Tranh tụng không phải việc tốt, nhất thiết phải thận trọng và biết sợ.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Lục nhị. Bao dung, thừa phụng; tiểu nhân thì cát, đại nhân giữ Bĩ thì hanh thông. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa hào từ này là: Nịnh bợ người có quyền thế thì tiểu nhân nhờ đó được cát; người đại nhân an phận trong cảnh bế tắc thì lành.
Lục nhị là hào âm ở vị trí nhu, thuộc về đắc vị, lại ở giữa hạ quái nên giữ trung. Vì mềm thuận, yên phận nên rất dễ bị tiểu nhân lôi kéo làm đồng đảng. Nếu là tiểu nhân thì chắc chắn sẽ theo về; nếu là quân tử thì nên tránh xa.
Giải thích chi tiết hào Cửu tam của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục tam. Ôm nỗi hổ thẹn.
Tượng truyện nói: Ôm nỗi hổ thẹn vì vị trí không thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Lục tam: Trong bếp có món ngon.
Tượng truyện nói: Mang lòng hổ thẹn vì tài đức không xứng với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này phải đề phòng phiền nhiễu do thị phi, tranh tụng. Người làm quan sẽ nghỉ hưu hoặc rời chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Cẩn thận tự giữ mình để tránh nhục nhã.
Tài vận: Dùng người không đúng, âm thầm hao tổn.
Gia trạch: Hành vi không đứng đắn, làm gia đình hổ thẹn.
Sức khỏe: Hàn kèm nhiệt, nên tìm thầy thuốc giỏi ở nơi xa.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục tam biến, được quẻ 33 của Chu Dịch: Thiên Sơn Độn. Đây là quẻ dị (Cấn dưới, Càn trên) chồng lên nhau. Càn là trời, Cấn là núi. Dưới trời có núi, núi cao khiến trời lui. Âm lớn, dương tiêu; tiểu nhân đắc thế, quân tử lui ẩn, giữ mình sáng suốt và chờ cơ hội cứu thiên hạ.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Lục tam. Ôm nỗi hổ thẹn. Giải nghĩa hào từ.
Ý nghĩa của hào từ này là: Chịu đựng sự nhục nhã.
Cụm từ “ôm nỗi hổ thẹn” có nghĩa là che giấu sự nhục nhã. Người được quẻ này nên tránh xa tiểu nhân. Nếu buộc phải làm việc cùng tiểu nhân, cũng phải chịu đựng sự sỉ nhục của người khác, giấu nỗi nhục trong lòng và trái ý mình mà phụng sự tiểu nhân hoặc quan quyền.
Lục tam là hào âm ở vị dương, nên thất vị, lại không ở vị trí trung. Tượng truyện nói: “Ôm nỗi hổ thẹn”, vì vị trí không thích đáng. Nghĩa là chuốc lấy nhục nhã bởi lúc ấy ở vào vị trí không chính.
Người được hào này sẽ chịu nhục vì ở vào vị trí không thích đáng, nhưng phải giấu trong lòng, không biểu lộ ra ngoài. Tốt nhất đừng chấp nhặt thái độ của người khác, hãy chuyên tâm làm việc của mình. Cần điều chỉnh cảm xúc, sửa đổi hoặc lập lại kế hoạch. Nếu phụ trách một đội nhóm, phải điều chỉnh lại quan hệ bên trong và bên ngoài để cùng chung sống hài hòa.
Ở đây nói đến một hiện tượng của thời đại suy đồi: người ta không còn biết liêm sỉ, giữa nam nữ xảy ra những chuyện dâm loạn, tà ác. Vì sao hào Lục tam chỉ có hai hào từ này? Quẻ Càn là dương, quẻ Khôn là âm; Lục tam ở nơi âm dương giao tiếp, có tượng nam nữ trao nhận, nên sinh ra “hổ thẹn”. Hào âm Lục tam ở vị dương, lại không được trung, sát bên Cửu tứ. Cửu tứ và Lục tam nằm ở phần giữa toàn quẻ nên có hình tượng “bao bọc”. Điều này nói Lục tam là kẻ tiểu nhân nịnh trên, hiếp dưới, không biết liêm sỉ, nên gọi là “ôm nỗi hổ thẹn”.
Giải thích chi tiết hào Cửu tứ của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu tứ. Có mệnh lệnh thì không lỗi; ai sẽ được hưởng phúc?
Tượng truyện nói: Có mệnh lệnh thì không lỗi, vì chí hướng được thực hiện.
Giải thích bằng văn nói
Cửu tứ: Vua ban lệnh ban thưởng, không có tai họa; ai sẽ được nhận thưởng?
Tượng truyện nói: Vua ban lệnh ban thưởng mà không có tai họa, cho thấy vua luận công ban thưởng, bề tôi tận chức tận lực, mỗi người đều thực hiện chí hướng của mình.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này gia sản ngày càng tăng, được hưởng cát khánh và an vui. Người làm quan được bạn bè, đồng liêu giúp đỡ, có thể thăng chức hoặc thêm tài lộc.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận may đến, mưu việc có thể thành.
Tài vận: Quyết định dứt khoát, biến lỗ thành lãi.
Gia trạch: Vận nhà chuyển sang cát lợi.
Sức khỏe: Thể chất vẫn còn khỏe mạnh.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu tứ biến, được quẻ 20 của Chu Dịch: Phong Địa Quan. Đây là quẻ dị (Khôn dưới, Tốn trên) chồng lên nhau; gió đi trên mặt đất, ví như sự giáo hóa về đức hạnh được ban ra khắp nơi. Quẻ Quan và quẻ Lâm là quẻ tổng của nhau, dùng đối chiếu. Người ở trên lấy đạo nghĩa mà quan sát thiên hạ; người ở dưới kính ngưỡng nhìn lên, lòng người thuận phục và quy theo.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Cửu tứ: Có mệnh lệnh, không lỗi; mọi người nương tựa mà được phúc. Giải nghĩa hào từ.
“Trù” đồng với “trù”, chỉ người cùng loại hoặc mọi người. “Ly” đồng với “lệ”, nghĩa là phụ thuộc, nương tựa.
Ý nghĩa của hào này là: Có điều được sai khiến thì không có tai họa, mọi người nương tựa nhau mà được phúc.
Người được hào này có nghĩa là sau một thời gian nhẫn nhịn, vận may dần tốt lên và có thể bắt đầu thi thố tài năng. Nếu sự nghiệp trước đây đình trệ vì tiểu nhân nắm quyền, nay có thể trở lại quỹ đạo cũ. Nếu là nông dân, có thể canh tác ruộng đất của mình; nếu có cơ hội nhận khoán đất khác thì cứ yên tâm nhận. Nếu là nhân viên, phát hiện cơ hội việc làm tốt hơn thì có thể rời công ty hiện tại để tìm sự phát triển tốt hơn. Dĩ nhiên, việc làm phải chính đáng, có ích cho người khác và xã hội. Hãy tìm người đồng chí hướng, cùng nương tựa nhau thì sẽ mưu cầu được hạnh phúc.
Giải thích chi tiết hào Cửu ngũ của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu ngũ. Chấm dứt Bĩ, đại nhân thì cát; “sắp mất, sắp mất”, buộc vào chùm rễ dâu.
Tượng truyện nói: Đại nhân được cát vì ở đúng vị trí thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu ngũ: Răn dè sự diệt vong; quý tộc, vương công giữ được tâm niệm ấy thì cát. Nguy hiểm thay, nguy hiểm thay, vận mệnh quốc gia như buộc vào bó cỏ mềm và cành dâu.
Tượng truyện nói: Hào từ Cửu ngũ nói quý tộc, vương công biết ở yên mà không quên nguy thì cát, vì Cửu ngũ ở giữa thượng quái, giống người lo nước lo vua, tài đức xứng đáng với địa vị.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này tai họa cũ đã qua, vận may sắp đến, mọi việc đều cát. Người làm quan sẽ giữ trọng vị.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Ở yên mà không quên nguy, mọi việc đều cát.
Tài vận: Cơ hội vẫn tốt, hãy lựa chọn bạn đồng hành cẩn thận.
Gia trạch: Cơ nghiệp tổ tiên vững bền.
Sức khỏe: Cẩn thận bảo dưỡng.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu ngũ biến, được quẻ 35 của Chu Dịch: Hỏa Địa Tấn. Đây là quẻ dị (Khôn dưới, Ly trên) chồng lên nhau. Ly là mặt trời, ánh sáng; Khôn là đất. Mặt trời treo cao soi khắp mặt đất, đất thấp thuận, vạn vật sinh trưởng; sáng sủa quang minh, mềm thuận mà tiến lên, ví như sự nghiệp ngày càng thăng tiến.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Cửu ngũ. Chấm dứt Bĩ, đại nhân thì cát; “sắp mất, sắp mất”, buộc vào chùm rễ dâu.
Hào này là ngôi của bậc quân chủ, lại là hào dương ở vị dương nên rất đắc thế. Tượng truyện nói: “Đại nhân được cát” vì vị trí chính đáng.
Điều đó có nghĩa là việc xuất hiện “cái cát của đại nhân” cho thấy lúc này đang ở vị trí trung tâm, thích đáng. Quẻ Bĩ đến đây thì cục diện bế tắc, tiểu nhân lộng hành đã chấm dứt hoàn toàn. Người đức cao thế trọng được cát, trở lại nắm quyền. Sức cản của sự phủ định giảm đi, khó khăn gặp phải cũng bắt đầu ít hơn. Lúc này nhất định phải cảnh giác với tâm lý tự mãn. Hơn nữa, đại nhân vừa bước ra khỏi cục diện bế tắc, nên phải ở nơi yên ổn mà luôn nghĩ đến nguy cơ, ngăn không cho chuyện tương tự tái diễn. Dù tình thế có dịu đi và thuận lợi đến đâu cũng không được lơ là.
Giải thích chi tiết hào Thượng cửu của quẻ thứ mười hai trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Cửu
Thượng cửu. Lật ngược Bĩ; trước Bĩ, sau vui.
Tượng truyện nói: Bĩ đến cuối thì đảo ngược, sao có thể kéo dài mãi?
Giải thích bằng văn nói
Thượng cửu: Vận rủi chỉ nhất thời; trước gặp vận rủi, sau sẽ gặp vận tốt.
Tượng truyện nói: Vận rủi sắp hết, sao vận may còn xa? Khi vận mệnh chuyển đổi, sức mạnhใดจะหยุดยั้งได้?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này vận may sẽ chuyển tốt. Người bị khốn đốn lâu ngày có thể mong lợi ích; người kiện tụng lâu ngày sẽ được giải quyết. Quan chức từng mất chức sẽ được phục chức; người chờ chỗ trống sẽ được bổ nhiệm.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hanh thông như ý, việc kiện tụng có thể kết thúc.
Tài vận: Thu đông có lợi, xuân hạ bất lợi.
Gia trạch: Chuyển nhà đại cát.
Sức khỏe: Bệnh sẽ sớm khỏi, nhưng phải đề phòng tái phát.

Quẻ biến của hào Thượng Cửu
"周易第12卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng cửu biến, được quẻ 45 của Chu Dịch: Trạch Địa Tụy. Đây là quẻ dị (Khôn dưới, Đoài trên) chồng lên nhau. Khôn là đất, thuận; Đoài là đầm, nước. Đầm tràn ngập nhấn chìm mặt đất, người đông tranh đấu lẫn nhau, nguy cơ rình rập khắp nơi. Nhất thiết phải thuận theo trời, dùng người hiền, lo xa như chuẩn bị trước mưa, mềm thuận mà hòa vui; khi đó đôi bên bổ trợ nhau, an cư lạc nghiệp. “Tụy” nghĩa là tụ tập, đoàn kết.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Quẻ Bĩ phát triển đến hào Thượng cửu, cục diện bế tắc, không thông đã đi đến tận cùng. Vật cực tất phản, sự bế tắc ắt sẽ chuyển thành hanh thông, thái hòa; đó chính là điều người đời thường nói: “Bĩ cực Thái lai”. Người được hào này có dấu hiệu khổ tận cam lai.
Quái từ của quẻ Bĩ khuyên người ta trong thời kỳ như vậy nên ẩn mình, còn hào từ chỉ cho người ta cách che giấu ý định thật sự rồi dùng hành động xua đuổi thế lực của kẻ tiểu nhân. Điều đó đòi hỏi phải biết xét thời thế, đồng thời cần có sự sáng suốt và lòng can đảm. Ai hiểu được đạo lý của Bĩ và Thái sẽ được lợi ích vô cùng sâu sắc.