Kinh Dịch · 64 Quẻ

Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 45: quẻ Tụy, Trạch Địa Tụy, Đoài trên Khôn dưới

Tụy: Hanh thông. Vua đến tông miếu. Lợi gặp bậc đại nhân, hanh thông, lợi giữ chính. Dùng lễ vật lớn là tốt. Có chỗ để đi thì có lợi.

Thoán truyện nói: Tụy là tụ họp. Thuận mà vui, cứng ở trung vị và có ứng, nên thành tụ họp. Vua đến tông miếu là dâng lễ hiếu kính. Lợi gặp đại nhân, hanh thông là tụ họp bằng chính đạo. Dùng lễ vật lớn thì tốt, có chỗ để đi thì lợi, vì thuận theo thiên mệnh. Quan sát nơi tụ họp thì có thể thấy tình trạng của trời đất và vạn vật.

Tượng truyện nói: Đầm ở trên đất là Tụy. Người quân tử theo đó sửa sang binh khí và đề phòng điều bất ngờ.

Sơ đồ quẻ 45: bản quái, hỗ quái, thác quái và tổng quái

Quẻ 45 — nguyên văn và tổng quan

Giải thích chi tiết quẻ Chu Dịch thứ bốn mươi lăm
Nguyên văn quẻ Tụy
Tụy: Hanh thông. Vua đến tông miếu. Lợi gặp bậc đại nhân, hanh thông, lợi giữ chính. Dùng lễ vật lớn là tốt. Có chỗ để đi thì có lợi.
Tượng truyện nói: Đầm ở trên đất là Tụy. Người quân tử theo đó sửa sang binh khí và đề phòng điều bất ngờ.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Tụy: Thông thái. Vua đến tông miếu hành lễ. Gặp quẻ này lợi cho việc gặp quý tộc, vương công; hanh thông, là điềm tốt cho việc giữ chính. Dùng trâu làm vật tế cũng tốt, xuất hành cũng thuận lợi.
Tượng từ nói: Thượng quái là Đoài, tượng đầm; hạ quái là Khôn, tượng đất. Nước đầm ngập đất là quẻ tượng Tụy. Người quân tử xem tượng này, lấy lũ lụt tràn lan và tai họa tụ tập làm điều răn; do đó sửa sang binh khí, đề phòng biến loạn bất ngờ.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Tụy có Đoài trên, Khôn dưới, là quẻ nhị thế của cung Đoài. Quẻ này chỉ nước tụ trên đất thành đầm để tưới nhuần vạn vật, đem phúc lợi cho dân. Gặp quẻ này lợi gặp đại nhân; dùng gia súc lớn tế lễ thì tốt.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Vật sản phong phú, tụ hội thịnh vượng; được quý nhân dẫn dắt thì không việc gì bất lợi.
Người được quẻ này vận khí rất tốt, được quý nhân giúp đỡ, thu lợi dồi dào, làm gì cũng không bất lợi.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Ở yên không quên nguy thì tự nhiên không lo.
Tài vận: Tượng tài lộc tụ tập, có tụ thì cũng có tán.
Gia trạch: Đề phòng nước vào nhà; giữ mình trong sạch, biết tự trọng.
Sức khỏe: Ngực bụng tích nước, nên điều trị điều dưỡng sớm.
Giải quẻ truyền thống
Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Khôn dưới và Đoài trên. Khôn là đất và thuận; Đoài là đầm và nước. Đầm tràn ngập nhấn chìm mặt đất, đám đông tranh đấu lẫn nhau, nguy cơ rình rập khắp nơi. Nhất thiết phải thuận theo trời, giao việc cho người hiền, lo xa phòng trước, mềm thuận và hòa vui, để đôi bên bổ trợ cho nhau, an cư lạc nghiệp. Tụy nghĩa là tụ tập, đoàn kết.
Đại tượng: Đầm ở trên đất, nước tụ trong bùn đất, nuôi dưỡng cỏ cây để sinh trưởng tươi tốt.
Vận thế: Vận may hưng thịnh, lại được bậc trưởng thượng nâng đỡ, sự nghiệp rất có lợi nhưng phải đề phòng tranh chấp tài chính.
Sự nghiệp: Hưng vượng phát đạt, đoàn kết hòa thuận. Đang tiến triển mạnh, nhưng nước nhiều người đông thì cạnh tranh tất nhiên gay gắt. Thịnh ắt suy, tuyệt đối chớ kiêu ngạo, thận trọng là tốt. Tuy vậy cũng không được do dự bất quyết; nên dũng mãnh tiến lên, khai phá nghiệp vụ mới. Nhất thiết phải dùng phẩm đức cao thượng để thu phục lòng người.
Kinh doanh: Hợp tác chân thành, đoàn kết tương trợ. Sự khích lệ là dấu hiệu kinh doanh hưng thịnh. Mạnh dạn khai phá thị trường, tiến bước vững chắc, có chuẩn bị thì không lo, nhất định sẽ không ngừng phát triển.
Cầu danh: Chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân thì thành tựu không lớn. Nhất định phải có sự giúp đỡ của người khác, kết hợp với điều kiện của bản thân mới đạt cảnh giới lý tưởng.

Ý nghĩa triết học của quẻ thứ bốn mươi lăm

Quẻ tượng của quẻ Tụy: ý nghĩa biểu tượng của quẻ Trạch Địa Tụy
Quẻ Tụy do hai quái khác nhau chồng lên nhau, Khôn dưới và Đoài trên. Đoài là đầm, là nước ở trên; Khôn là đất, là thuận ở dưới. Nó cho thấy nước trên mặt đất tụ lại thành đầm, nước đầm tưới ruộng tốt làm lúa cây mọc um tùm, tạo nên cảnh hưng thịnh. Nhưng nước có thể tưới ruộng giúp mùa màng, cũng có thể tràn bờ gây tai họa; cần sớm đề phòng điều này.
Xét theo một góc độ khác, Đoài là vui, Khôn là thuận. Điều đó cũng cho thấy chỉ cần mặt đất vận động theo quy luật tự nhiên thì niềm vui sẽ lần lượt kéo đến, khiến hạnh phúc được tụ hội.
Quẻ Tụy nằm sau quẻ Cấu. Sách Tự quái giải thích: “Vật gặp nhau rồi mới tụ, nên tiếp đến là Tụy. Tụy là tụ.” Chỉ sau khi gặp nhau mới có sự tụ tập, hợp lại. Tụy nghĩa là tụ.
Tượng truyện giải thích quẻ này: “Đầm ở trên đất là Tụy; người quân tử theo đó sửa sang binh khí, đề phòng điều bất ngờ.” Điều này chỉ ra rằng quẻ tượng Tụy là Khôn (đất) dưới và Đoài (đầm) trên, hình ảnh hồ trên mặt đất, các dòng suối nhỏ từ bốn phương không ngừng đổ vào hồ, tượng trưng cho tụ họp. Khi nhiều dòng chảy hội tụ, cá rồng lẫn lộn, bùn cát cùng trôi theo; vì vậy người quân tử nên tu sửa áo giáp, binh khí để phòng biến cố bất ngờ.
Quẻ Tụy tượng trưng cho sự tụ họp, thuộc nhóm quẻ trung thượng. Tượng nói: “Cá chơi nước kinh lưới, vượt Long Môn thân hóa rồng; cây liễu ba thước rủ tiền vàng, muôn đóa hoa đào phô bày tài năng của ngươi.”
Hôn nhân và tình yêu: Chớ nóng vội cầu thành, hãy yêu thương quý trọng nhau thì sẽ hạnh phúc viên mãn.
Quyết định: Giỏi đoàn kết người khác để cùng hợp tác, có năng lực lãnh đạo. Nhưng phải có lòng rộng mở, tầm nhìn xa, lấy thành tín và trung chính làm gốc, không đánh mất nguyên tắc. Đặc biệt phải nghiêm với mình, khoan dung với người. Khi bị người khác phản đối, nên nghiêm túc tự xét và rút kinh nghiệm. Giữ tâm thế ấy mà đối nhân xử thế thì cả đời có thể bình an, sự nghiệp nhất định hanh thông.

Quẻ 45 — giải nghĩa từng hào

Giải thích chi tiết hào đầu của quẻ Chu Dịch thứ bốn mươi lăm
Hào từ Sơ Lục
Sơ lục. Có lòng tin nhưng không giữ được đến cuối, rồi rối loạn rồi tụ họp. Nếu kêu gọi, mọi người nắm tay nhau cười. Chớ lo, tiến đi thì không lỗi.
Tượng truyện nói: “Rồi rối loạn rồi tụ họp” là vì chí hướng của họ rối ren.
Giải thích bằng văn nói
Sơ lục: Bắt được tù binh nhưng rồi hắn trốn thoát, gây hỗn loạn và lo lắng; mọi người vừa hô gọi vừa đuổi bắt khắp nơi. Cuối cùng bắt lại được, ai nấy vui mừng cười nói, không cần lo nữa. Gặp hào này cứ mạnh dạn tiến lên, không có tai họa.
Tượng từ nói: Hỗn loạn, tiều tụy là vì tinh thần người ấy rối ren.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này có thể bị kẻ tiểu nhân hãm hại, trước hung sau cát, nên hành sự thận trọng. Người làm quan sẽ bị giáng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Khi thuận khi nghịch, nhưng được người khác viện trợ.
Tài vận: Tụ tán bất định, nhưng có thể tránh lỗi.
Gia trạch: Không nên ở lâu; đầu tiên rối ren, cuối cùng bị bỏ rơi.
Sức khỏe: Tâm thần rối loạn, chữa trị thì có thể khỏi.

Quẻ biến của hào Sơ Lục
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Sơ Lục động, được quẻ thứ 17 của Chu Dịch: quẻ Tùy, Trạch Lôi Tùy. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Chấn ở dưới, Đoài ở trên). Chấn là sấm, tượng cho sự chuyển động; Đoài là vui vẻ. Chuyển động mà vui vẻ chính là “tùy”. Tùy nghĩa là thuận theo lẫn nhau: mình thuận theo vật, vật có thể thuận theo mình, đôi bên giao tiếp với nhau. Tùy phải nương thời, thuận thế, có nguyên tắc và điều kiện, lấy sự bền lòng chính trực làm tiền đề.

Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu

Hào đầu của quẻ Tụ, hào từ: Sơ Lục: Có lòng tin nhưng không giữ được đến cùng, nên sinh rối loạn và tụ họp hỗn loạn; nếu kêu gọi, người trong tầm tay sẽ cùng cười; chớ lo, tiến đi thì không lỗi. Giải nghĩa hào từ
Phu: chỉ sự thành tín. Tuất: chỉ sự lo lắng.
Xét theo quái tượng, Sơ Lục chính ứng với Cửu Tứ, nên gọi là “có lòng tin”. Nhưng nó ở trong quẻ Tụ; quẻ Tụ biểu thị dân chúng nên quy tụ về quân chủ Cửu Ngũ. Vì vậy đối tượng mà Sơ Lục muốn tiến đến là Cửu Ngũ, từ đó xuất hiện tình trạng “có lòng tin với Cửu Tứ nhưng không giữ được đến cùng”.
Tượng truyện phân tích hào này: “Rối loạn rồi tụ họp”, ấy là vì chí hướng bị rối loạn.
Ở đây chỉ rõ: “Các loại rối ren sẽ phát sinh rồi dồn lại với nhau”; nguyên nhân chủ yếu là sự thành kính trong lòng không thể trước sau như một, khiến người ta rơi vào mê muội và hỗn loạn.
Người được hào này, khi làm việc gì phải trước sau kiên trì, chớ đứng núi này trông núi nọ, bỏ dở giữa chừng, cứ thấy núi kia
cao hơn núi này. Nếu vậy, đủ thứ phiền toái và vấn đề sẽ xuất hiện; đối diện với những vấn đề chồng chất ấy, bạn sẽ rối bời và khó xoay xở.
Sơ Lục: Có lòng tin nhưng không giữ được đến cùng, nên sinh rối loạn và tụ họp hỗn loạn; nếu kêu gọi, người trong tầm tay sẽ cùng cười; chớ lo, tiến đi thì không lỗi.
Tượng truyện nói: “Rồi rối loạn rồi tụ họp” là vì chí hướng của họ rối ren.
Ý nghĩa kinh văn là: Có lòng thành tín nhưng không kiên trì đến tận cùng, nên nảy sinh hỗn loạn và sự tụ họp mới; giữa những tiếng kêu khóc hỗn loạn, người tụ họp lại cười lớn; không cần lo lắng, tiến đi thì không có tai họa.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ bốn mươi lăm Chu Dịch
Hào từ Lục Nhị
Lục Nhị: Được dẫn dắt thì tốt lành, không lỗi. Có lòng thành tín thì dùng lễ tế mùa xuân đơn sơ cũng có lợi.
Tượng truyện nói: “Được dẫn dắt thì tốt lành, không lỗi”, vì giữ trung đạo mà không thay đổi.
Giải thích bằng văn nói
Lục Nhị: Được hào này thì lâu dài cát lợi, không tai họa. Nếu hỏi về tế lễ, điềm chính cho thấy: trong lễ tế mùa xuân, dùng tù binh làm vật hiến tế người thì tốt.
Tượng từ nói: “Lâu dài cát lợi, không tai họa”, vì hào âm Lục Nhị ở giữa quái dưới, tượng người giữ chính đạo, tuyệt nhiên không thay đổi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này đang gặp vận tốt, được quý nhân nâng đỡ, mưu tính có lợi. Người làm quan được tiến cử, có thể thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận trung chính, được người khác dẫn dắt và giúp đỡ.
Tài vận: Hợp tác có lợi, thành tâm tạ lễ thần linh.
Nhà cửa: Tổ tiên tích đức; hôn nhân có thể định thành.
Sức khỏe: Siêng năng luyện khí công.

Quẻ biến của hào Lục Nhị
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Nhị động, được quẻ thứ 47 của Chu Dịch: quẻ Khốn, Trạch Thủy Khốn. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Khảm dưới, Đoài trên). Đoài là âm, là đầm, tượng cho vui vẻ; Khảm là dương, là nước, tượng cho hiểm nguy. Trạch Thủy Khốn nghĩa là rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, tài trí khó thi triển; nhưng nếu vẫn giữ chính đạo, tự mình vui với đạo thì ắt làm nên việc, thoát khỏi cảnh khốn.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Nhị

Giải thích hào từ
Chữ chỉ việc dùng cung để bói có nghĩa là dẫn dắt, chiêu tập. Phu: chỉ lòng thành tín. Chữ hiếm này: chỉ lễ tế mùa xuân.
Ý nghĩa hào từ này là: Biết lui và khiêm nhường nhường nhịn sẽ đem lại cát tường, không có hại; chỉ cần trong lòng thành kính thì dù làm lễ tế mùa xuân đơn sơ cũng có thể đem lại cát tường.
Xét theo quái tượng, Lục Nhị là hào âm ở vị trí mềm, lại nằm giữa quái dưới, giữ trung thủ chính, có đức mềm thuận và trung chính. Tuy ứng với hào quân Cửu Ngũ, nó không chủ động tiến lên cầu sủng mà một lòng chờ Cửu Ngũ dẫn gọi.
Tượng truyện phân tích: “Được dẫn dắt thì tốt lành, không lỗi”, vì giữ trung đạo mà không thay đổi. Điều đó chỉ ra rằng lui và khiêm nhường nhường nhịn sẽ đem lại cát tường, không tai họa, bởi hào này ở vị trí trung tâm và thích đáng. Khi tụ họp, nó không thiên lệch, không quá khích cũng không quá bảo thủ, thành tâm theo đạo trung dung trước sau không đổi; vì thế có thể khiêm nhường mà gặp dữ hóa lành.
Người được hào này cần hiểu đạo lý ấy: trong cách đối nhân xử thế, phải lấy thành tín làm gốc, không nằm ở việc nói gì hay nói thế nào, cũng như tế lễ không cốt ở lễ vật nhiều hay ít mà cốt ở lòng thành của người tế.
Lục Nhị: Được dẫn dắt thì tốt lành, không lỗi. Có lòng thành tín thì dùng lễ tế mùa xuân đơn sơ cũng có lợi.
Tượng truyện nói: “Được dẫn dắt thì tốt lành, không lỗi”, vì giữ trung đạo mà không thay đổi.
Ý nghĩa kinh văn là: (Lục Nhị) được cấp trên, Cửu Ngũ, dẫn dắt thì cát tường, không tai họa. Vì có lòng thành tín nên sự dẫn dắt đem lại cát tường, không tai họa; cũng vì có lòng thành tín nên lễ vật đơn sơ vẫn đạt được hiệu quả.
Ý nghĩa Tượng truyện là: được cấp trên dẫn dắt thì cát tường, vì Lục Nhị ở giữa, giữ chính đạo và không thay đổi.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tam của quẻ thứ bốn mươi lăm Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Tụ họp mà than thở, buồn bã than thở, không có gì lợi. Tiến đi thì không lỗi, nhưng có chút hối tiếc.
Tượng truyện nói: “Tiến đi thì không lỗi”, vì phía trên là sự mềm thuận.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Lo buồn than thở. Được hào này thì không có gì lợi. Ra đi không tai họa, nhưng có chút phiền toái.
Tượng từ nói: Ra đi không tai họa, vì hào âm Lục Tam ở dưới hào dương Cửu Tứ, giống như bề tôi thuận theo vua và hành xử thận trọng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này thì gia đình bất an, lục thân bị tổn hại, người già nhiều hung hiểm. Người làm quan ở vị trí không yên, ra ngoài thì gian nan.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Vận trình bình thường, cần đề phòng tiểu nhân.
Tài vận: Chuyển hướng sang nơi khác thì có thể không lỗi.
Nhà cửa: Nên chuyển nơi ở; có tiếng than của đôi vợ chồng oán trách nhau.
Sức khỏe: Khó chịu ở ngực, chú ý việc bài tiết.

Quẻ biến của hào Lục Tam
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Lục Tam động, được quẻ thứ 31 của Chu Dịch: quẻ Hàm, Trạch Sơn Hàm. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Cấn dưới, Đoài trên). Cấn là núi, Đoài là đầm. Đoài mềm ở trên, Cấn cứng ở dưới; nước thấm xuống, mềm ở trên và cứng ở dưới, chúng cảm ứng lẫn nhau. Có cảm ứng thì thành tựu.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam

Ý nghĩa hào từ này là: Do tụ họp mà sinh than thở, không có lợi ích gì. Tuy nhiên có hành động thì không tai họa, chỉ có chút phiền toái.
Xét theo quái tượng, Lục Tam là hào âm ở vị trí mềm, nhưng không trung không chính. Phía trên đối nghịch với Thượng Lục, phía dưới nghịch tỷ với Lục Nhị, nên cô lập không nơi nương tựa. Tuy vậy, Lục Tam vẫn có quan hệ thân cận với Cửu Tứ và Cửu Ngũ. Nếu có thể khiêm nhường thuận theo họ thì vẫn có thể cùng làm việc, không gặp tai họa.
Tượng truyện phân tích: “Tiến đi thì không lỗi”, vì phía trên là sự mềm thuận. Điều này chỉ ra rằng khi gặp người dương cương mạnh mẽ ở vị trí cao, phía âm nhu ở dưới chỉ cần thể hiện sự khiêm nhường và thuận theo thì có thể tránh được tai họa có khả năng xảy ra.
Người được hào này có khuynh hướng coi mình là trung tâm hoặc tự yêu mình. Dù tham gia hội họp bạn bè cũng khó hòa nhập, không tìm được bạn đồng chí hướng. Nếu muốn hợp tác với người có năng lực, nên đối xử với họ khiêm nhường và chân thành; có thể vì tính cách hay lý do khác mà gặp chút phiền toái, nhưng không có tai họa lớn.
Người được hào này đi dự hội họp thì không có tai họa, chỉ có chút khó chịu, không thuận lợi, hoặc bữa tiệc có vẻ keo kiệt, tồi tàn khiến bạn không hài lòng mà thôi.
Lục Tam: Tụ họp mà than thở, buồn bã than thở, không có gì lợi. Chú thích: không lỗi, nhưng có chút hối tiếc.
Tượng truyện nói: “Tiến đi thì không lỗi”, vì phía trên là sự mềm thuận.
Ý nghĩa kinh văn là: Tụ họp mà than thở, không có lợi ích. Tiến đi không tai họa, nhưng có chút lo buồn và hối tiếc.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Tiến đi không tai họa, vì phía trên là quái Tốn mềm thuận.
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ bốn mươi lăm Chu Dịch
Hào từ Cửu Tứ
Cửu Tứ: Đại cát, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Đại cát, không lỗi”, vì vị trí không thích đáng.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Tứ: Đại cát đại lợi, không tai họa.
Tượng từ nói: Điềm vốn phải là đại cát đại lợi, nhưng kết quả chỉ là không tai họa, vì hào dương Cửu Tứ ở vị trí âm, giống như người tài đức nhỏ mà ở địa vị cao. Xét đường quan thì thông đạt; xét việc giữ chức thì chỉ cầu không gặp tai họa mà thôi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này nếu không theo chính đạo sẽ gặp hung họa; chỉ bậc quân tử đại đức mới có thể sửa lỗi mà được phúc. Người làm quan phải đề phòng sự nghi kỵ của người khác, nên bỏ cao chọn thấp, biết lui khi thời thế còn thuận thì tốt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tuy rất thuận lợi, nhưng đức chưa xứng với địa vị.
Tài vận: Lợi lớn ở trước mắt, biết thu mình và tiết chế thì tốt.
Nhà cửa: Hưng vượng bình an; gia thế có sự chênh lệch.
Sức khỏe: Bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong suy yếu.

Quẻ biến của hào Cửu Tứ
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Tứ động, được quẻ thứ 8 của Chu Dịch: quẻ Tỷ, Thủy Địa Tỷ. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Khôn dưới, Khảm trên). Khôn là đất, Khảm là nước. Nước bám vào đất lớn, đất tiếp nhận sông biển; đôi bên nương tựa, thân mật không rời. Quẻ này hoàn toàn trái với quẻ Sư, là quẻ tổng của nhau. Nó trình bày đạo lý thân ái hỗ trợ, khoan dung không tư lợi và đoàn kết hết lòng.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ

Hào thứ tư của quẻ Tụ, hào từ: Cửu Tứ: Đại cát, không lỗi. Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa hào từ này là: Chỉ khi ở trong hoàn cảnh đại cát đại lợi mới có thể không gặp tai họa.
Xét theo quái tượng, Cửu Tứ ở trên quái Khôn; Khôn tượng cho quần chúng, nên mọi người tụ họp ủng hộ Cửu Tứ, vì thế nói “đại cát”. Cửu Tứ là hào dương ở vị trí âm, không trung không chính; dù được yêu mến rộng rãi cũng khó làm nên việc lớn, chỉ có thể đạt “không lỗi”.
Tượng truyện giải thích: “Đại cát, không lỗi”, vì vị trí không thích đáng. Điều này chỉ ra rằng chỉ khi đại cát đại lợi mới tránh được tai họa; bởi vị trí không phù hợp, bất cứ lúc nào cũng có thể bị tổn hại, chỉ lúc đại cát mới tránh được.
Người được hào này có thể là trợ thủ đắc lực của lãnh đạo trong cơ quan, giống đại thần thân cận quân vương. Do khéo xử lý quan hệ, họ được cấp dưới ủng hộ sâu sắc. Nhưng cần chú ý rằng lãnh đạo không muốn thấy cảnh ấy; vì vậy chỉ khi mọi việc đại cát đại lợi bạn mới không gặp rắc rối. Trong hoàn cảnh bình thường, lãnh đạo hoặc cấp trên sẽ bắt lỗi và gây khó dễ cho bạn.
Người được hào này có nhiều bạn bè, quan hệ rộng, nhưng cũng cần lưu ý rằng một số người trong họ có thể mang rắc rối đến. Chỉ cần giữ lập trường đúng đắn, không làm điều sai thì sẽ không gặp nguy hiểm.
Cửu Tứ: Đại cát, không lỗi. Tượng truyện nói: “Đại cát, không lỗi”, vì vị trí không thích đáng.
Ý nghĩa kinh văn là: Khi bói, phải được đại cát đại lợi thì mới không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Bói được đại cát mới không tai họa, vì Cửu Tứ là hào dương ở vị trí âm.
Cửu Tứ là một vị quan thanh liêm, đứng ra làm chủ cho dân nghèo mà Sơ Lục đại diện, bênh vực công lý cho họ, lại có Lục Tam âm dương tương hợp với mình, nên rất cát tường. Nhưng sự cát tường này không có nghĩa là được nhiều lợi ích, chỉ là không gặp tai họa. Vì sao? Vì hào cương ở vị trí chẵn, không đắc vị. Nói cách khác, tuy là bề tôi nhưng tính tình ngay thẳng, không nương tay trước sai lầm và khuyết điểm của hoàng đế.
Dù làm như vậy là vì lợi ích của hoàng đế, rốt cuộc cách làm ấy vẫn không thể khiến hoàng đế hoàn toàn hài lòng về ông.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ bốn mươi lăm Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ: Tụ họp mà có địa vị thì không lỗi. Nếu thiếu lòng tin, hãy giữ chính đạo bền lâu từ đầu, hối hận sẽ tiêu tan.
Tượng truyện nói: “Tụ họp mà có địa vị”, vì chí hướng chưa được phát huy rực rỡ.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Dốc hết tâm sức cho chức phận thì không tai họa. Không nên dễ dàng trách phạt người khác. Nếu hỏi cát hung lâu dài, điềm chính cho thấy không có hối hận lớn.
Tượng từ nói: Dốc hết tâm sức cho chức phận mà kết quả chỉ là không tai họa, vì tài năng kém cỏi, không thể lập được công trạng.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này quan hệ nhân tình không hòa hợp, mưu tính gặp trở ngại. Người làm quan không được lòng người, chí hướng chưa sáng tỏ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Có địa vị và quyền lực, càng cần tu dưỡng đức hạnh.
Tài vận: Tuy có lợi nhuận, phải giữ chính đạo.
Nhà cửa: Cả họ sống quây quần; có thể có chàng rể quý.
Sức khỏe: Tâm thần bất an, tốt nhất nên tĩnh dưỡng.

Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Cửu Ngũ động, được quẻ thứ 16 của Chu Dịch: quẻ Dự, Lôi Địa Dự. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Khôn dưới, Chấn trên). Khôn là đất, là thuận; Chấn là sấm, là động. Sấm xuất hiện đúng thời, báo hiệu mùa xuân trở lại mặt đất. Do thuận mà động là nguồn gốc của hòa vui. Quẻ này và quẻ Khiêm là quẻ tổng của nhau, tác động qua lại.

Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ

Hào thứ năm của quẻ Tụ, hào từ: Cửu Ngũ: Tụ họp mà có địa vị thì không lỗi. Nếu thiếu lòng tin, hãy giữ chính đạo bền lâu; hối hận sẽ tiêu tan. Giải nghĩa hào từ
Phỉ phu: chỉ sự thiếu thành tín.
Ý nghĩa hào từ này là: Khi mọi người tụ họp, ngồi ở địa vị tôn quý thì không tai họa, nhưng thiếu thành tín. Nếu có thể kiên định giữ chính nghĩa, đề xướng phong khí thuần chính, thì tránh được hối hận vì làm sai.
Xét theo quái tượng, Cửu Ngũ ở giữa và giữ chính. Nhưng so với Cửu Tứ, Cửu Tứ ở địa vị dưới mà lại tụ tập dân chúng quanh mình, thuộc về việc vượt quyền tụ dân. Điều đó khiến Cửu Ngũ có vẻ thiếu thành tín trước dân chúng, không thể khiến họ vui lòng quy thuận.
Tượng truyện giải thích: “Tụ họp mà có địa vị” nghĩa là chí hướng quy tụ thiên hạ, khiến lòng người bốn biển quy về, vẫn chưa được phát huy rạng rỡ
mà còn phải tu dưỡng đức hạnh, gây dựng uy tín, khiến quần chúng vui lòng tâm phục.
Người được hào này cần chú ý những người bên cạnh; có thể vì ảnh hưởng xấu của họ mà hình ảnh của bạn trong mắt cấp dưới hoặc người khác bị tổn hại. Khi hội họp, nên sắp xếp chỗ ngồi theo thứ bậc chức vụ. Với người hành vi không ngay chính, phải ràng buộc họ, để họ hiểu quy củ ngay từ đầu, không tranh mất vẻ nổi bật của bạn; như vậy về sau mới tránh được chuyện hối hận. Bạn cũng cần chú ý xây dựng hình ảnh tốt đẹp của mình.
Người được hào này có thể thu hút người khác giới nhờ địa vị của mình. Vốn có thể mời người ấy đến gặp, nhưng sau khi suy nghĩ lại đã từ bỏ; xét về lâu dài, đó là lựa chọn đúng.
Cửu Ngũ: Tụ họp mà có địa vị thì không lỗi. Nếu thiếu lòng tin, hãy giữ chính đạo bền lâu; hối hận sẽ tiêu tan.
Tượng truyện nói: “Tụ họp mà có địa vị”, vì chí hướng chưa được phát huy sáng tỏ.
Ý nghĩa kinh văn là: Nhờ tụ họp mà có được địa vị, không tai họa. Không được tín nhiệm; ngay từ đầu cứ giữ vững chính đạo thì không hối hận.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Nhờ tụ họp mà có địa vị, vì chí hướng của người ấy vẫn chưa được phát huy rạng rỡ.
Cửu Ngũ là quân chủ một nước,
đương nhiên muốn quy tụ người trong thiên hạ. Nhưng vì mới lên ngôi chưa lâu nên vẫn chưa được dân chúng tin cậy rộng khắp.
Nhưng chỉ cần ông luôn giữ chính đạo,
sẽ không xảy ra chuyện đáng hối hận.
Phân tích theo quái tượng, Sơ Lục và Lục Tam tụ với Cửu Tứ; Cửu Tứ và Cửu Ngũ lại cùng tính dương nên xung khắc. Vì thế chỉ có Lục Nhị tụ với Cửu Ngũ, khiến quân vương Cửu Ngũ có vẻ hơi cô thế. Chỉ bằng cách giữ vững chính đạo mới cảm hóa được thiên hạ và tiêu trừ hối hận.
Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ bốn mươi lăm Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục: Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy”, vì ở địa vị cao mà vẫn chưa yên ổn.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Than thở rơi lệ, lòng lo lắng khôn nguôi, nhưng không tai họa.
Tượng từ nói: Than thở rơi lệ, lòng lo lắng khôn nguôi, vì Thượng Lục ở cuối quẻ, cô độc lơ lửng không chỗ nương tựa, giống người tuy ở địa vị cao nhưng như đi trên băng mỏng, ngày ngày sống trong sợ hãi.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này gặp nhiều phiền nhiễu, không thể yên ổn; có thể trên dưới vô tình, người già người trẻ đều lo buồn, danh lợi thành hư không.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Tuổi già vận suy, hãy chờ người ra tay giúp đỡ.
Tài vận: Không có lợi để thu, may là có cứu viện.
Nhà cửa: Gia đình không yên; có cảnh sinh ly tử biệt.
Sức khỏe: Bi thương gây bệnh, hãy thư giãn tâm trí.

Quẻ biến của hào Thượng Lục
"周易第45卦的其中之一变卦卦的卦图

Khi hào Thượng Lục động, được quẻ thứ 12 của Chu Dịch: quẻ Bĩ, Thiên Địa Bĩ. Quẻ này do hai quái khác nhau chồng lên nhau (Khôn dưới, Càn trên), cấu trúc ngược với quẻ Thái: dương khí đi lên, âm khí đi xuống, trời đất không giao nhau, vạn vật không thông. Hai quẻ là quẻ tổng của nhau, cho thấy Thái đến cực điểm thì thành Bĩ, Bĩ đến cực điểm thì Thái lại đến; chúng là nhân quả của nhau.

Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu

Hào thứ sáu của quẻ Tụ, hào từ: Thượng Lục: Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy; không lỗi. Giải nghĩa hào từ
Tư tư: than vãn, thở dài đau buồn. Thế di: nước mắt và nước mũi cùng chảy.
Ý nghĩa hào từ này là: Buồn thương than thở, khóc lóc đau đớn, nhưng không có tai họa.
Xét theo quái tượng, Thượng Lục không có chính ứng ở dưới, cô lập không nơi nương tựa. Nó cưỡi trên Cửu Ngũ, bất an và không thuận; thấy mọi người tụ họp còn mình cô độc nên than thở khóc lóc đau đớn.
Tượng truyện phân tích hào này: “Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy”, vì ở địa vị cao mà chưa yên. Thượng Lục hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn của mình, cũng không thật sự muốn yên vị ở trên; chỉ muốn tụ họp nhưng không được như nguyện, nên mới “không lỗi”.
Người được hào này có thể vì nhiều nguyên nhân khách quan mà không thể tụ họp, giao tiếp bình thường với đồng nghiệp; đồng thời có vẻ địa vị của bạn cao hơn lãnh đạo hoặc cấp trên, nên cô lập không nơi nương tựa, cảm thấy đơn độc và đau buồn. Chẳng hạn, nếu cấp trên cử bạn giám sát lãnh đạo và đồng nghiệp trong chính bộ phận của mình, bạn sẽ rơi vào hoàn cảnh giống hào này. Sự buồn bã của bạn khiến người khác hiểu đó không phải chủ ý, nên họ không chống đối và bạn không gặp tai họa.
Người được hào này có thể gặp trắc trở trong tình cảm. Khi người bạn yêu hiểu lầm rồi rời bỏ bạn, ban đầu cô ấy sẽ than thở, khóc lóc. Về sau cô ấy sẽ hiểu kết cục ấy không hoàn toàn do lỗi của bạn, cảm xúc cũng dần ổn định. Nếu bạn muốn nối lại, vẫn còn hy vọng.
Thượng Lục: Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Than thở, khóc nức nở, nước mắt nước mũi cùng chảy”, vì ở địa vị cao mà vẫn chưa yên ổn.
Ý nghĩa kinh văn là: Than khóc đau đớn, nhưng không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng truyện là: Than khóc đau đớn là do không yên ở địa vị cao.
Gắn Thượng Lục với Cửu Ngũ thì tương đương với Hiếu Trang Hoàng hậu của nhà Thanh. Hiếu Trang Thái hoàng thái hậu là phụ nữ, tự biết thế lực của mình và Khang Hy không thể chống lại bốn vị đại thần phụ chính trong triều. Vì vậy bà lo lắng khôn nguôi, sợ cho an nguy của Khang Hy và vận mệnh nhà Thanh.
Xét theo quái tượng, Thượng Lục là hào trên cùng của quái Đoài, biểu hiện nước trong đầm. Nước trong đầm đã cao hơn mặt đất, tất nhiên phải tràn ra, nên có hình tượng “nước mắt nước mũi”. Hơn nữa, ngoài việc hợp với Cửu Ngũ, Thượng Lục không còn hào nào ứng hay hợp; vì thế cô độc, thế lực yếu, khó tránh bị gạt ra ngoài. Do đó hào từ của Thượng Lục khá bi thương, nhưng lại không có tai họa.