☯
Kinh Dịch · 64 Quẻ
Chu Dịch, Kinh Dịch, quẻ 60, quẻ Tiết, Thủy Trạch Tiết, Khảm trên Đoài dưới
䷻
Tiết: Hanh thông. Tiết chế khắc khổ thì không thể giữ được chính đạo.
Thoán truyện nói: Tiết thì hanh thông. Cứng và mềm phân chia, mà cứng được ở giữa. Tiết chế khắc khổ không thể giữ làm chính đạo, vì con đường ấy đã cùng. Vui vẻ mà đi qua hiểm nguy, ở đúng ngôi mà tiết chế, lấy trung chính để thông đạt. Trời đất có tiết độ nên bốn mùa thành tựu. Dùng chế độ để lập khuôn phép thì không làm tổn hại tài vật, không gây hại cho dân.
Tượng truyện nói: Trên đầm có nước, đó là Tiết. Người quân tử noi theo, đặt ra các chuẩn mực và suy xét đức hạnh, hành vi.

Quẻ 60 — nguyên văn và tổng quan
Giải thích chi tiết quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Nguyên văn quẻ Tiết
Tiết: Hanh thông, tiết chế khắc khổ thì không thể giữ được chính đạo.
Tượng truyện nói: Trên đầm có nước, đó là Tiết. Người quân tử noi theo, đặt ra các chuẩn mực và suy xét đức hạnh, hành vi.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Tiết: Hanh thông. Nếu coi tiết chế là khổ sở thì không thể dùng việc bói hỏi để định cát hung.
Tượng từ nói: Hạ quái là Đoài, Đoài là đầm; thượng quái là Khảm, Khảm là nước. Nước đầy trong đầm thì phải đắp bờ cao, đó là tượng của quẻ Tiết. Người quân tử xét tượng ấy mà lập cương lĩnh, chế độ chính trị và xác lập nguyên tắc luân lý.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Tiết có Khảm trên, Đoài dưới, là quẻ sơ thế thuộc cung Khảm. Tiết nói về tiết chế, tiết kiệm và chấm dứt phung phí; có như vậy mới giữ được gia đình an khang.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Giữ khí tiết và chừng mực, biết dừng đúng lúc; xét thời thế, biết ứng biến.
Người được quẻ này nên an phận thủ thường, giữ mình, tuyệt đối tránh lòng tham không biết đủ. Mọi việc phải biết tiết chế, không nên quá mức, đặc biệt phải kiêng rượu và sắc dục.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Phẩm hạnh ngay chính thì danh lợi tự thành.
Tài vận: Kinh doanh chính đáng thì có thể cầu được giàu có.
Gia trạch: Nhà giàu có; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Tiết chế việc ăn uống.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới, Khảm ở trên. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn; quá nhiều thì sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy cần có tiết độ, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết trái ngược với quẻ Hoán, là hai quẻ tổng của nhau và được dùng đối ứng. Trời đất có tiết độ nên luôn đổi mới; quốc gia có tiết độ nên yên ổn; cá nhân có tiết độ nên hoàn thiện.
Đại tượng: Đầm là ao hồ, phía trên có nước Khảm, tượng cho việc tích trữ và khống chế nước không để chảy mất; nhưng nếu mực nước quá cao thì sẽ thành lũ lụt.
Vận thế: Chí hướng khó vươn xa; mọi việc phải tiết chế, không quá mức, đặc biệt phải kiêng rượu và sắc dục.
Sự nghiệp: Đang ở thời kỳ phát triển, nhất định phải chú ý không được tiến quá vội. Nhưng cũng không nên bỏ qua cơ hội tốt. Chỉ cần kiên trì nguyên tắc theo đạo, giữ nghĩa thì có thể mạnh dạn hành động; sự nghiệp sẽ tiếp tục hưng thịnh.
Kinh doanh: Tình hình thị trường tốt, rất có lợi cho bạn; nên tích cực khai phá, đừng bỏ lỡ cơ hội. Tuy nhiên đầu óc phải bình tĩnh, vốn đầu tư cần có giới hạn, biết dừng đúng lúc và đến lúc thu thì phải thu.
Cầu danh: Nghiêm khắc với bản thân, làm việc biết chừng mực, không đi vào cực đoan thì có thể thông suốt, tiến lên thuận lợi.
Hôn nhân và tình cảm: Đừng để mình rơi vào trạng thái không thể tự chủ vì tình cảm; thuận theo tự nhiên sẽ có kết quả tốt.
Quyết định: Nắm bắt cơ hội, đừng bỏ lỡ thời cơ tốt. Tiết chế hành động đúng mức, không miễn cưỡng, không mạo hiểm, phải vừa phải. Không nên câu nệ, cần thay đổi thì thay đổi. Nhưng khi cần tiết chế thì nhất định phải tiết chế. Tiết chế phải có giới hạn; tiết chế quá mức sẽ thành khổ, không đem lại kết quả tốt, đó gọi là phản tác dụng, cần hết sức lưu ý.
Ý nghĩa triết học của quẻ thứ 60
Quẻ Tiết là quẻ dị quái chồng lên nhau, hạ quái là Đoài, thượng quái là Khảm. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn, nhiều quá ắt tràn ra ngoài. Vì vậy cần có tiết độ, nên gọi là Tiết. Trời đất có tiết độ nên luôn mới; quốc gia có tiết độ nên yên ổn; cá nhân có tiết độ nên hoàn thiện.
Quẻ Tiết đứng sau quẻ Hoán. Tự Quái truyện giải thích: “Vật không thể cứ lìa nhau mãi, nên tiếp theo là Tiết.” Cứ phân ly, tan rã mãi thì không thích hợp, vì vậy sau đó bàn đến quẻ Tiết. Quẻ Tiết trái với quẻ Hoán, là hai quẻ tổng của nhau và được dùng tương hỗ.
Tượng truyện giải thích: Trên đầm có nước là Tiết; người quân tử đặt ra các chuẩn mực và suy xét đức hạnh, hành vi. Ở đây chỉ rõ tượng của quẻ Tiết là Đoài (đầm) dưới, Khảm (nước) trên, tượng nước trên đầm, biểu trưng cho việc tiết chế bằng đê điều. Nước trong đầm hễ đầy thì tràn, còn đê điều vốn dùng để điều tiết sự tăng giảm của nước. Người quân tử nên noi theo đạo lý của Tiết, lập pháp chế, chế độ, lễ nghi và phép tắc cần thiết làm chuẩn mực hành sự, từ đó tiết chế hành vi của con người.
Quẻ Tiết tượng trưng cho việc vạn vật đều có tiết độ, dạy người đạo lý tiết chế, thuộc loại quẻ đại cát. Tượng truyện đoán quẻ này như sau: Thời đến vận chuyển, khí vui sinh; Khương Thái Công lên đàn được phong thần; đến đây chư thần đều lui vị, dù có họa cũng không thành hung.
Tượng quẻ Tiết: Xét từ tượng quẻ, thượng quái là Khảm, tượng nước; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Nước trên đầm chính là tượng của quẻ Tiết. Nước không ngừng chảy từ cao xuống thấp, nhưng nếu đi qua một chỗ trũng nông thì sẽ bị tích lại, không chảy tiếp. Đầm lầy thấp hơn mặt đất, nên khi mưa hoặc nước sông chảy qua, nước sẽ tụ tại đó. Vì vậy, nước tích thành đầm là đại tượng của quẻ Tiết.
Nguyên văn quẻ Tiết
Tiết: Hanh thông, tiết chế khắc khổ thì không thể giữ được chính đạo.
Tượng truyện nói: Trên đầm có nước, đó là Tiết. Người quân tử noi theo, đặt ra các chuẩn mực và suy xét đức hạnh, hành vi.
Giải thích bằng văn nói
Quẻ Tiết: Hanh thông. Nếu coi tiết chế là khổ sở thì không thể dùng việc bói hỏi để định cát hung.
Tượng từ nói: Hạ quái là Đoài, Đoài là đầm; thượng quái là Khảm, Khảm là nước. Nước đầy trong đầm thì phải đắp bờ cao, đó là tượng của quẻ Tiết. Người quân tử xét tượng ấy mà lập cương lĩnh, chế độ chính trị và xác lập nguyên tắc luân lý.
Giải theo sách Cơ trời đoán Dịch
Quẻ Tiết có Khảm trên, Đoài dưới, là quẻ sơ thế thuộc cung Khảm. Tiết nói về tiết chế, tiết kiệm và chấm dứt phung phí; có như vậy mới giữ được gia đình an khang.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Giữ khí tiết và chừng mực, biết dừng đúng lúc; xét thời thế, biết ứng biến.
Người được quẻ này nên an phận thủ thường, giữ mình, tuyệt đối tránh lòng tham không biết đủ. Mọi việc phải biết tiết chế, không nên quá mức, đặc biệt phải kiêng rượu và sắc dục.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Phẩm hạnh ngay chính thì danh lợi tự thành.
Tài vận: Kinh doanh chính đáng thì có thể cầu được giàu có.
Gia trạch: Nhà giàu có; hôn nhân cát tường.
Sức khỏe: Tiết chế việc ăn uống.
Giải quẻ truyền thống
Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới, Khảm ở trên. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn; quá nhiều thì sẽ tràn ra ngoài đầm. Vì vậy cần có tiết độ, nên gọi là Tiết. Quẻ Tiết trái ngược với quẻ Hoán, là hai quẻ tổng của nhau và được dùng đối ứng. Trời đất có tiết độ nên luôn đổi mới; quốc gia có tiết độ nên yên ổn; cá nhân có tiết độ nên hoàn thiện.
Đại tượng: Đầm là ao hồ, phía trên có nước Khảm, tượng cho việc tích trữ và khống chế nước không để chảy mất; nhưng nếu mực nước quá cao thì sẽ thành lũ lụt.
Vận thế: Chí hướng khó vươn xa; mọi việc phải tiết chế, không quá mức, đặc biệt phải kiêng rượu và sắc dục.
Sự nghiệp: Đang ở thời kỳ phát triển, nhất định phải chú ý không được tiến quá vội. Nhưng cũng không nên bỏ qua cơ hội tốt. Chỉ cần kiên trì nguyên tắc theo đạo, giữ nghĩa thì có thể mạnh dạn hành động; sự nghiệp sẽ tiếp tục hưng thịnh.
Kinh doanh: Tình hình thị trường tốt, rất có lợi cho bạn; nên tích cực khai phá, đừng bỏ lỡ cơ hội. Tuy nhiên đầu óc phải bình tĩnh, vốn đầu tư cần có giới hạn, biết dừng đúng lúc và đến lúc thu thì phải thu.
Cầu danh: Nghiêm khắc với bản thân, làm việc biết chừng mực, không đi vào cực đoan thì có thể thông suốt, tiến lên thuận lợi.
Hôn nhân và tình cảm: Đừng để mình rơi vào trạng thái không thể tự chủ vì tình cảm; thuận theo tự nhiên sẽ có kết quả tốt.
Quyết định: Nắm bắt cơ hội, đừng bỏ lỡ thời cơ tốt. Tiết chế hành động đúng mức, không miễn cưỡng, không mạo hiểm, phải vừa phải. Không nên câu nệ, cần thay đổi thì thay đổi. Nhưng khi cần tiết chế thì nhất định phải tiết chế. Tiết chế phải có giới hạn; tiết chế quá mức sẽ thành khổ, không đem lại kết quả tốt, đó gọi là phản tác dụng, cần hết sức lưu ý.
Ý nghĩa triết học của quẻ thứ 60
Quẻ Tiết là quẻ dị quái chồng lên nhau, hạ quái là Đoài, thượng quái là Khảm. Đoài là đầm, Khảm là nước. Đầm có nước nhưng dòng chảy có giới hạn, nhiều quá ắt tràn ra ngoài. Vì vậy cần có tiết độ, nên gọi là Tiết. Trời đất có tiết độ nên luôn mới; quốc gia có tiết độ nên yên ổn; cá nhân có tiết độ nên hoàn thiện.
Quẻ Tiết đứng sau quẻ Hoán. Tự Quái truyện giải thích: “Vật không thể cứ lìa nhau mãi, nên tiếp theo là Tiết.” Cứ phân ly, tan rã mãi thì không thích hợp, vì vậy sau đó bàn đến quẻ Tiết. Quẻ Tiết trái với quẻ Hoán, là hai quẻ tổng của nhau và được dùng tương hỗ.
Tượng truyện giải thích: Trên đầm có nước là Tiết; người quân tử đặt ra các chuẩn mực và suy xét đức hạnh, hành vi. Ở đây chỉ rõ tượng của quẻ Tiết là Đoài (đầm) dưới, Khảm (nước) trên, tượng nước trên đầm, biểu trưng cho việc tiết chế bằng đê điều. Nước trong đầm hễ đầy thì tràn, còn đê điều vốn dùng để điều tiết sự tăng giảm của nước. Người quân tử nên noi theo đạo lý của Tiết, lập pháp chế, chế độ, lễ nghi và phép tắc cần thiết làm chuẩn mực hành sự, từ đó tiết chế hành vi của con người.
Quẻ Tiết tượng trưng cho việc vạn vật đều có tiết độ, dạy người đạo lý tiết chế, thuộc loại quẻ đại cát. Tượng truyện đoán quẻ này như sau: Thời đến vận chuyển, khí vui sinh; Khương Thái Công lên đàn được phong thần; đến đây chư thần đều lui vị, dù có họa cũng không thành hung.
Tượng quẻ Tiết: Xét từ tượng quẻ, thượng quái là Khảm, tượng nước; hạ quái là Đoài, tượng đầm. Nước trên đầm chính là tượng của quẻ Tiết. Nước không ngừng chảy từ cao xuống thấp, nhưng nếu đi qua một chỗ trũng nông thì sẽ bị tích lại, không chảy tiếp. Đầm lầy thấp hơn mặt đất, nên khi mưa hoặc nước sông chảy qua, nước sẽ tụ tại đó. Vì vậy, nước tích thành đầm là đại tượng của quẻ Tiết.
Quẻ 60 — giải nghĩa từng hào
Giải thích chi tiết hào Sơ Cửu của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết lúc nào đường thông, lúc nào đường bị bế tắc.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Bói gặp hào này thì đóng cửa không ra ngoài, không có tai họa.
Tượng từ nói: Đóng cửa không ra ngoài vì người ấy biết con đường hành động sẽ không thông.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này tiến thủ bất lợi, nên giữ nếp cũ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đóng cửa tu dưỡng, bình an chính là phúc.
Tài vận: Bất lợi cho việc buôn bán lưu động, nhưng có thể mở cửa hàng.
Gia trạch: Có thể an cư; vợ chồng hòa hợp.
Sức khỏe: An cư, tĩnh dưỡng.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Khi hào Sơ Cửu biến, được quẻ 29 trong Chu Dịch: Khảm vi Thủy. Quẻ này là cùng quái chồng lên nhau, Khảm ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước, là hiểm; hai Khảm chồng khiến hiểm chồng thêm hiểm, trở ngại trùng trùng. Một hào dương rơi vào giữa hai hào âm. May thay, âm hư mà dương thực, giữ lòng thành thì có thể khai thông. Dù hiểm nạn chồng chất, chính nhờ vậy ánh sáng nhân tính mới được bộc lộ.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ nhất của quẻ Tiết, hào từ: Sơ Cửu: “Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.” Giải nghĩa hào từ
Hộ đình: Cổng ra vào của tường bao sân nhà.
Ý nghĩa của hào từ này là: Không bước ra khỏi sân nhà thì không có nguy hại.
Xét theo tượng quẻ, hào Sơ Cửu là hào dương ở ngôi cứng, có tượng hiếu động. Nhưng Sơ Cửu nằm ở đầu quái Đoài, Đoài tượng cho thiếu nữ. Xã hội cổ đại đề cao khuê nữ “không ra cửa lớn, không bước qua cửa trong”, phải tiết chế hành động để thể hiện sự giáo dưỡng; nếu thường xuyên ra ngoài, không biết tự ràng buộc thì danh tiếng sẽ xấu. Xét toàn quẻ, Sơ Cửu hiếu động nhưng bị Cửu Nhị bên trên đối nghịch và ngăn cản, nên tiến lên bị trở ngại; tốt nhất là ở nhà.
Tượng truyện phân tích hào này: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết khi đường thông thì nên đi, khi đường bị bế tắc thì nên dừng.
Người được hào này thời gian gần đây không nên ra ngoài, tốt nhất hãy ở nhà. Dù điều đó trái với bản tính hiếu động của bạn, nhất định phải tự kiềm chế. Hãy sống kín đáo, chấp nhận sự cô tịch; chỉ cần không ra khỏi nhà thì không có tai họa.
Sơ Cửu: Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết lúc nào đường thông, lúc nào đường bị bế tắc.
Ý nghĩa kinh văn là: Không đi ra khỏi nhà thì không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Không ra khỏi nhà vì hiểu quy luật thời thế của sự bế tắc và thông đạt.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa nhà, hung.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa nhà”, nghĩa là đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Bói gặp hào này, đóng cửa không ra ngoài cũng có hiểm nguy.
Tượng từ nói: Đóng cửa không ra ngoài cũng nguy hiểm, vì đã để mất cơ hội tốt và sai lầm đã đến cực điểm.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này thời vận không tốt, nhiều việc trái nghịch; nên động, không nên tĩnh. Người làm quan không gặp thời.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Chần chừ theo thói quen, tự làm lỡ việc và đánh mất cơ hội.
Tài vận: Bỏ lỡ thời cơ, không những không kiếm được mà còn thua lỗ.
Gia trạch: Trong nhà không có người; khó tránh cảnh trống vắng và oán hờn.
Sức khỏe: Đi lại khó khăn.
Quẻ biến của hào Cửu Nhị
Khi hào Cửu Nhị biến, được quẻ 3 trong Chu Dịch: Thủy Lôi Truân. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Chấn ở dưới và Khảm ở trên. Chấn là sấm, tượng cho sự vận động; Khảm là mưa, tượng cho hiểm nguy. Sấm mưa cùng đến, hiểm tượng nảy sinh khắp nơi trong môi trường khắc nghiệt. “Truân” vốn chỉ cây cỏ mới nhú khỏi mặt đất; muôn vật bắt đầu trong gian nan hiểm trở, nhưng thuận thời ứng vận thì nhất định sẽ phát triển tươi tốt.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ hai của quẻ Tiết, hào từ: Cửu Nhị: “Không ra khỏi cửa nhà, hung.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Vì tiết chế quá mức mà không bước qua cửa nhà thì sẽ gặp hiểm nguy.
Xét theo tượng quẻ, hào Cửu Nhị là hào dương ở ngôi mềm, nhưng cũng tích cực và hiếu động. Khác với Sơ Cửu, Cửu Nhị nằm trong quái Chấn (Cửu Nhị, Lục Tam, Lục Tứ), Chấn tượng cho trưởng nam, khác với thiếu nữ. Trong xã hội cổ đại, phụ nữ không được ra cửa lớn, không bước qua cửa trong; còn đàn ông phải tích cực ra ngoài bôn ba, gánh vác trách nhiệm gia đình và xã hội, đặc biệt trưởng nam trong nhà có trách nhiệm nặng nề hơn. Trưởng nam Cửu Nhị lại gặp ngôi mềm, khuất phục trước gian nan của Khảm, cúi đầu trước khó nhọc và ở yên trong nhà; đáng tiến mà không tiến, đáng ra mà không ra, nên xa rời xã hội và gặp hiểm nguy.
Tượng truyện phân tích hào này: “Không ra khỏi cửa nhà”, vì vậy đã đánh mất thời cơ thích hợp và đúng mức.
Người được hào này nên thoát khỏi tình trạng cả ngày chỉ ở nhà, hãy ra ngoài đi lại, giao du với nhiều bạn bè, mở rộng tầm mắt và làm những việc mình nên làm. Nếu ngày nào cũng nhốt mình trong phòng, tách biệt với đời, bạn sẽ đánh mất nhiều cơ hội quan trọng, điều đó vô cùng bất lợi.
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa nhà, hung.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa nhà”, nghĩa là đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Ý nghĩa kinh văn là: Không ra khỏi nhà thì gặp hung hiểm.
Ý nghĩa Tượng từ là: Không ra khỏi nhà nghĩa là đã đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Giải thích chi tiết hào Lục Tam của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Không tiết chế thì than thở; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Nỗi than thở vì không tiết chế”, còn trách ai được nữa?
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Không tiết kiệm thì nghèo khổ; lâm vào nghèo khổ mới biết hối lỗi, biết hối lỗi thì có thể không gặp tai họa.
Tượng từ nói: Xa hoa đem lại hối hận, đó là lỗi của ai?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này vất vả nhiều, thu hoạch ít.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Được rồi lại mất, chỉ biết than thở bất lực.
Tài vận: Không biết giữ của, lỗi do tự mình chuốc lấy.
Gia trạch: Trước giàu sau nghèo; trước vui sau buồn.
Sức khỏe: Bệnh do ăn uống không điều độ.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Khi hào Lục Tam biến, được quẻ 5 trong Chu Dịch: Thủy Thiên Nhu. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Càn ở dưới và Khảm ở trên. Hạ quái Càn mang nghĩa cương kiện; thượng quái Khảm mang nghĩa hiểm hãm. Lấy cương kiện gặp hiểm, nên vững vàng thận trọng, không hành động hấp tấp; quan sát thời thế, chờ biến đổi, thì việc tiến hành nhất định thành công.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Hào thứ ba của quẻ Tiết, hào từ: Lục Tam: “Không tiết chế thì than thở; không lỗi.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Đáng lẽ phải tự ràng buộc, nhưng lại không tiết chế; về sau than thở, hối hận khôn nguôi, song không có họa.
Xét theo tượng quẻ, Lục Tam là hào âm ở ngôi cứng, vừa không đúng vị vừa không ở giữa. Hành vi thất chính; vì không biết tiết chế nên có lỗi do bỏ bê chức phận. Tuy nhiên sau đó kịp thời nhận ra và có lòng sửa lỗi, hướng thiện, nên không có lỗi. Tượng truyện giải thích hào này: “Nỗi than thở vì không tiết chế, còn trách ai được nữa?” Ở đây chỉ ra rằng: “Đáng lẽ phải tự ràng buộc nhưng lại không tiết chế, về sau than thở hối hận khôn nguôi”, như vậy thì còn ai có thể trách cứ? Người được hào này phải chú ý tiết chế lời nói và hành động. Nếu không nhận ra thiếu sót của mình, lại không nghe lời khuyên của người khác, thì chỉ có thể hối hận về sau. Dù không ai trách bạn, điều đó vẫn không có lợi cho bạn.
Lục Tam: Không tiết chế thì than thở; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Nỗi than thở vì không tiết chế”, còn trách ai được nữa?
Ý nghĩa kinh văn là: Không tiết chế bản thân thì sẽ than thở đau buồn, nhưng không có tai họa. Ý nghĩa Tượng từ là: Vì chính mình không tiết chế nên gây ra nỗi buồn, còn có thể trách ai?
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục Tứ: Tiết chế an ổn, hanh thông.
Tượng truyện nói: Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tứ: An vui với đời sống tiết kiệm và giữ lễ, hanh thông.
Tượng từ nói: Sở dĩ an vui với đời sống tiết kiệm và giữ lễ là cát lợi, vì thuận theo ý chỉ của người ở trên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này giữ công bằng, tuân pháp luật, an với chính đạo nên có thể đạt phúc lợi. Người làm quan được cấp trên coi trọng, có hy vọng thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bình an là phúc, nghe lệnh mà hành sự.
Tài vận: An cư nơi đất khách, mọi việc đều tiết kiệm.
Gia trạch: Bình an vô sự; vợ chồng hòa thuận.
Sức khỏe: Bệnh từ miệng mà vào.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Khi hào Lục Tứ biến, được quẻ 58 trong Chu Dịch: Đoài vi Trạch. Đây là quẻ cùng quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là đầm, là nước. Hai đầm nối liền, hai dòng nước giao hòa, trên dưới hòa hợp; đoàn kết nhất trí, bạn bè giúp đỡ, vui mừng hân hoan. Đoài cũng nghĩa là vui. Cùng giữ đức cương kiện, bên ngoài mang vẻ nhu hòa, kiên định đi theo chính đạo, dẫn dắt dân chúng hướng lên.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Hào thứ tư của quẻ Tiết, hào từ: Lục Tứ: “Tiết chế an ổn, hanh thông.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: An nhiên thực hành tiết chế thì có thể đạt hanh thông.
Xét theo tượng quẻ, Lục Tứ là hào âm ở ngôi mềm, được đúng vị và đắc chính. Phía trên tiếp nhận Cửu Ngũ, có quan hệ thân cận với Cửu Ngũ; phía dưới ứng chính với Sơ Cửu, nên quan hệ trên dưới hòa hợp. Ở trên thì thuận theo quân chủ, ở dưới thì tiếp nhận sự giám sát của người hiền, lấy đó làm động lực tiết chế bản thân, nên có thể hanh thông.
Tượng truyện giải thích hào này: “Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.” Ở đây chỉ ra rằng “an nhiên thực hành tiết chế thì đạt hanh thông”, cho thấy sự cẩn trọng giữ đạo nhu thuận và tôn kính người ở trên.
Người được hào này có thể tiết chế trong mọi phương diện và bản thân cũng rất tự nguyện, đồng thời nắm được mức độ vừa phải. Vì vậy mọi mặt đều có thể hanh thông.
Lục Tứ: Tiết chế an ổn, hanh thông.
Tượng truyện nói: Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.
Ý nghĩa kinh văn là: An với tiết chế thì hanh thông.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự hanh thông của việc an với tiết chế là do thuận theo thiên đạo của Cửu Ngũ.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ: Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.
Tượng truyện nói: Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Lấy tiết kiệm và giữ lễ làm vui thì cát. Theo đó mà tiến hành, đi đến đâu cũng được người khác giúp đỡ.
Tượng từ nói: Sở dĩ lấy tiết kiệm và giữ lễ làm vui là cát, vì hào Cửu Ngũ ở đúng vị, giống như người ở trong đức, hành nghĩa, tự nhiên được người khác giúp đỡ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này đang gặp vận tốt, mưu cầu có thành.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hết khổ đến sướng, công danh ắt hiển đạt.
Tài vận: Đem gạo đi bán nơi khác, lợi nhuận ắt dồi dào.
Gia trạch: Chính trực, tiết kiệm; hôn nhân trăm năm hòa hợp.
Sức khỏe: Tiết chế ăn uống thì có thể chữa khỏi.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Khi hào Cửu Ngũ biến, được quẻ 19 trong Chu Dịch: Địa Trạch Lâm. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Khôn ở trên. Khôn là đất, Đoài là đầm; đất cao hơn đầm, đầm được đất bao chứa. Quẻ tượng trưng cho quân chủ đích thân đến với thiên hạ, trị quốc an bang, trên dưới hòa hợp.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Hào thứ năm của quẻ Tiết, hào từ: Cửu Ngũ: “Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.” Giải nghĩa hào từ
Tiết ngọt: Chỉ việc tự nguyện tiết chế.
Ý nghĩa của hào từ này là: Tự nguyện tiết chế thì được cát tường; tiến lên nhất định được khen thưởng.
Xét theo tượng quẻ, Cửu Ngũ là hào dương ở ngôi quân chủ, giữ trung và thủ chính, làm việc biết phân tấc, không thiên lệch, không quá mức. Là quân chủ, cũng cam lòng làm như vậy để nêu gương cho thần dân, được dân chúng ủng hộ và thu hút thêm nhiều người hiền đến phò tá.
Tượng truyện giải thích hào này: “Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.” Ở đây chỉ ra rằng “tự nguyện tiết chế thì được cát tường” vì ở vị trí trung chính.
Người được hào này có thể là lãnh đạo một đơn vị hoặc cha mẹ của con cái. Bạn nên tiết chế bản thân trong mọi phương diện để làm gương cho cấp dưới hoặc con trẻ; bạn sẽ nhận được sự kính trọng của họ.
Cửu Ngũ: Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.
Tượng truyện nói: Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.
Ý nghĩa kinh văn là: Lấy đời sống tiết kiệm làm điều ngọt ngào thì cát tường; tiến đi sẽ được tôn trọng.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự cát tường của việc lấy đời sống tiết kiệm làm điều ngọt ngào là do Cửu Ngũ ở trung vị, đắc chính.
Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục: Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung. Hối hận tiêu tan.
Tượng truyện nói: Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung, vì con đường ấy đã cùng.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Coi tiết kiệm và giữ lễ là khổ, bói hỏi được điềm hung; người ấy sẽ hối tiếc vì gia đạo suy bại.
Tượng từ nói: Coi tiết kiệm và giữ lễ là khổ, bói được điềm hung, cũng như hào âm Thượng Lục cô độc treo ở tận cùng một quẻ, giống người bước vào cảnh cùng khốn, bế tắc.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này không gặp thời, không có danh cũng không có lợi. Người làm quan không biết biến thông thì tiền đồ mờ mịt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không biết biến thông, nghèo khổ cả đời.
Tài vận: Đánh mất cơ hội tốt, oán than cũng vô ích.
Gia trạch: Nên cởi mở; cố chấp thì khó xử.
Sức khỏe: Bệnh tình nguy kịch.
Quẻ biến của hào Thượng Lục
Khi hào Thượng Lục biến, được quẻ 61 trong Chu Dịch: Phong Trạch Trung Phu. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Tốn ở trên. Nghĩa gốc của chữ Phu là ấp trứng; thời điểm trứng nở khỏi vỏ rất chính xác, nên có nghĩa là lòng tin. Hình quẻ ngoài thực, trong rỗng, tượng cho sự thành tín trong lòng, vì vậy gọi là quẻ Trung Phu. Đây là nền tảng để lập thân và xử thế.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Hào thứ sáu của quẻ Tiết, hào từ: Thượng Lục: “Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung; hối hận tiêu tan.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Tiết chế quá mức sẽ trở nên cay đắng; nếu cứ giữ nguyên không thay đổi thì sẽ xảy ra hiểm nguy. Nếu biết hối tiếc vì tiết chế quá mức, hiểm nguy có thể tiêu tan.
Xét theo tượng quẻ, Thượng Lục là hào âm ở ngôi mềm, được đúng vị và đắc chính. Nhưng nó ở vị trí cao nhất của quẻ Tiết, lại không ở giữa, không thể giữ trung, có tượng vượt khỏi trung đạo mà đi vào tiết chế cực đoan; khổ sở tăng cường tiết chế mà không biết nới lỏng, biết bế tắc mà không biết khai thông.
Tượng truyện phân tích hào này: “Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung”, vì con đường ấy đã cùng. Ở đây chỉ ra rằng “tiết chế quá mức sẽ cay đắng và sinh hiểm nguy”, bởi tiết chế quá độ tất nhiên dẫn đến đường cùng.
Người được hào này đã có khuynh hướng tiết chế quá mức. Chẳng hạn tiết kiệm là đức tốt, nhưng vì tiết kiệm tiền mà ăn uống kham khổ, mặc không đủ ấm thì đó là tiết chế quá độ. Đừng tự ràng buộc mình quá mức; nếu kìm hãm bản thân như một tu sĩ khổ hạnh, không thể tự do hành động trong sự nghiệp thì sẽ bất lợi. Việc cấp thiết là tìm điểm cân bằng giữa buông thả và tự tiết chế, bởi tiết chế quá mức không thể áp dụng, dù với bản thân hay với người khác.
Thượng Lục: Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung; hối hận tiêu tan.
Tượng truyện nói: Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung, vì con đường ấy đã cùng.
Ý nghĩa kinh văn là: Tiết chế khắc khổ quá mức, dù giữ chính đạo cũng nguy hiểm, nhưng không có hối hận.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự nguy hiểm của tiết chế quá mức là do đi đến đường cùng.
Hào từ Sơ Cửu
Sơ Cửu: Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết lúc nào đường thông, lúc nào đường bị bế tắc.
Giải thích bằng văn nói
Sơ Cửu: Bói gặp hào này thì đóng cửa không ra ngoài, không có tai họa.
Tượng từ nói: Đóng cửa không ra ngoài vì người ấy biết con đường hành động sẽ không thông.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này tiến thủ bất lợi, nên giữ nếp cũ.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Đóng cửa tu dưỡng, bình an chính là phúc.
Tài vận: Bất lợi cho việc buôn bán lưu động, nhưng có thể mở cửa hàng.
Gia trạch: Có thể an cư; vợ chồng hòa hợp.
Sức khỏe: An cư, tĩnh dưỡng.
Quẻ biến của hào Sơ Cửu
Khi hào Sơ Cửu biến, được quẻ 29 trong Chu Dịch: Khảm vi Thủy. Quẻ này là cùng quái chồng lên nhau, Khảm ở dưới và Khảm ở trên. Khảm là nước, là hiểm; hai Khảm chồng khiến hiểm chồng thêm hiểm, trở ngại trùng trùng. Một hào dương rơi vào giữa hai hào âm. May thay, âm hư mà dương thực, giữ lòng thành thì có thể khai thông. Dù hiểm nạn chồng chất, chính nhờ vậy ánh sáng nhân tính mới được bộc lộ.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ nhất của quẻ Tiết, hào từ: Sơ Cửu: “Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.” Giải nghĩa hào từ
Hộ đình: Cổng ra vào của tường bao sân nhà.
Ý nghĩa của hào từ này là: Không bước ra khỏi sân nhà thì không có nguy hại.
Xét theo tượng quẻ, hào Sơ Cửu là hào dương ở ngôi cứng, có tượng hiếu động. Nhưng Sơ Cửu nằm ở đầu quái Đoài, Đoài tượng cho thiếu nữ. Xã hội cổ đại đề cao khuê nữ “không ra cửa lớn, không bước qua cửa trong”, phải tiết chế hành động để thể hiện sự giáo dưỡng; nếu thường xuyên ra ngoài, không biết tự ràng buộc thì danh tiếng sẽ xấu. Xét toàn quẻ, Sơ Cửu hiếu động nhưng bị Cửu Nhị bên trên đối nghịch và ngăn cản, nên tiến lên bị trở ngại; tốt nhất là ở nhà.
Tượng truyện phân tích hào này: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết khi đường thông thì nên đi, khi đường bị bế tắc thì nên dừng.
Người được hào này thời gian gần đây không nên ra ngoài, tốt nhất hãy ở nhà. Dù điều đó trái với bản tính hiếu động của bạn, nhất định phải tự kiềm chế. Hãy sống kín đáo, chấp nhận sự cô tịch; chỉ cần không ra khỏi nhà thì không có tai họa.
Sơ Cửu: Không ra khỏi cửa sân, không lỗi.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa sân”, nghĩa là biết lúc nào đường thông, lúc nào đường bị bế tắc.
Ý nghĩa kinh văn là: Không đi ra khỏi nhà thì không có tai họa.
Ý nghĩa Tượng từ là: Không ra khỏi nhà vì hiểu quy luật thời thế của sự bế tắc và thông đạt.
Giải thích chi tiết hào Cửu Nhị của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Nhị
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa nhà, hung.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa nhà”, nghĩa là đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Nhị: Bói gặp hào này, đóng cửa không ra ngoài cũng có hiểm nguy.
Tượng từ nói: Đóng cửa không ra ngoài cũng nguy hiểm, vì đã để mất cơ hội tốt và sai lầm đã đến cực điểm.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này thời vận không tốt, nhiều việc trái nghịch; nên động, không nên tĩnh. Người làm quan không gặp thời.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Chần chừ theo thói quen, tự làm lỡ việc và đánh mất cơ hội.
Tài vận: Bỏ lỡ thời cơ, không những không kiếm được mà còn thua lỗ.
Gia trạch: Trong nhà không có người; khó tránh cảnh trống vắng và oán hờn.
Sức khỏe: Đi lại khó khăn.
Quẻ biến của hào Cửu Nhị
Khi hào Cửu Nhị biến, được quẻ 3 trong Chu Dịch: Thủy Lôi Truân. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Chấn ở dưới và Khảm ở trên. Chấn là sấm, tượng cho sự vận động; Khảm là mưa, tượng cho hiểm nguy. Sấm mưa cùng đến, hiểm tượng nảy sinh khắp nơi trong môi trường khắc nghiệt. “Truân” vốn chỉ cây cỏ mới nhú khỏi mặt đất; muôn vật bắt đầu trong gian nan hiểm trở, nhưng thuận thời ứng vận thì nhất định sẽ phát triển tươi tốt.
Ý nghĩa triết học của hào Sơ Cửu
Hào thứ hai của quẻ Tiết, hào từ: Cửu Nhị: “Không ra khỏi cửa nhà, hung.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Vì tiết chế quá mức mà không bước qua cửa nhà thì sẽ gặp hiểm nguy.
Xét theo tượng quẻ, hào Cửu Nhị là hào dương ở ngôi mềm, nhưng cũng tích cực và hiếu động. Khác với Sơ Cửu, Cửu Nhị nằm trong quái Chấn (Cửu Nhị, Lục Tam, Lục Tứ), Chấn tượng cho trưởng nam, khác với thiếu nữ. Trong xã hội cổ đại, phụ nữ không được ra cửa lớn, không bước qua cửa trong; còn đàn ông phải tích cực ra ngoài bôn ba, gánh vác trách nhiệm gia đình và xã hội, đặc biệt trưởng nam trong nhà có trách nhiệm nặng nề hơn. Trưởng nam Cửu Nhị lại gặp ngôi mềm, khuất phục trước gian nan của Khảm, cúi đầu trước khó nhọc và ở yên trong nhà; đáng tiến mà không tiến, đáng ra mà không ra, nên xa rời xã hội và gặp hiểm nguy.
Tượng truyện phân tích hào này: “Không ra khỏi cửa nhà”, vì vậy đã đánh mất thời cơ thích hợp và đúng mức.
Người được hào này nên thoát khỏi tình trạng cả ngày chỉ ở nhà, hãy ra ngoài đi lại, giao du với nhiều bạn bè, mở rộng tầm mắt và làm những việc mình nên làm. Nếu ngày nào cũng nhốt mình trong phòng, tách biệt với đời, bạn sẽ đánh mất nhiều cơ hội quan trọng, điều đó vô cùng bất lợi.
Cửu Nhị: Không ra khỏi cửa nhà, hung.
Tượng truyện nói: “Không ra khỏi cửa nhà”, nghĩa là đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Ý nghĩa kinh văn là: Không ra khỏi nhà thì gặp hung hiểm.
Ý nghĩa Tượng từ là: Không ra khỏi nhà nghĩa là đã đánh mất thời cơ đến mức cùng cực.
Giải thích chi tiết hào Lục Tam của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tam
Lục Tam: Không tiết chế thì than thở; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Nỗi than thở vì không tiết chế”, còn trách ai được nữa?
Giải thích bằng văn nói
Lục Tam: Không tiết kiệm thì nghèo khổ; lâm vào nghèo khổ mới biết hối lỗi, biết hối lỗi thì có thể không gặp tai họa.
Tượng từ nói: Xa hoa đem lại hối hận, đó là lỗi của ai?
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Bình: Người được hào này vất vả nhiều, thu hoạch ít.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Được rồi lại mất, chỉ biết than thở bất lực.
Tài vận: Không biết giữ của, lỗi do tự mình chuốc lấy.
Gia trạch: Trước giàu sau nghèo; trước vui sau buồn.
Sức khỏe: Bệnh do ăn uống không điều độ.
Quẻ biến của hào Lục Tam
Khi hào Lục Tam biến, được quẻ 5 trong Chu Dịch: Thủy Thiên Nhu. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Càn ở dưới và Khảm ở trên. Hạ quái Càn mang nghĩa cương kiện; thượng quái Khảm mang nghĩa hiểm hãm. Lấy cương kiện gặp hiểm, nên vững vàng thận trọng, không hành động hấp tấp; quan sát thời thế, chờ biến đổi, thì việc tiến hành nhất định thành công.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tam
Hào thứ ba của quẻ Tiết, hào từ: Lục Tam: “Không tiết chế thì than thở; không lỗi.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Đáng lẽ phải tự ràng buộc, nhưng lại không tiết chế; về sau than thở, hối hận khôn nguôi, song không có họa.
Xét theo tượng quẻ, Lục Tam là hào âm ở ngôi cứng, vừa không đúng vị vừa không ở giữa. Hành vi thất chính; vì không biết tiết chế nên có lỗi do bỏ bê chức phận. Tuy nhiên sau đó kịp thời nhận ra và có lòng sửa lỗi, hướng thiện, nên không có lỗi. Tượng truyện giải thích hào này: “Nỗi than thở vì không tiết chế, còn trách ai được nữa?” Ở đây chỉ ra rằng: “Đáng lẽ phải tự ràng buộc nhưng lại không tiết chế, về sau than thở hối hận khôn nguôi”, như vậy thì còn ai có thể trách cứ? Người được hào này phải chú ý tiết chế lời nói và hành động. Nếu không nhận ra thiếu sót của mình, lại không nghe lời khuyên của người khác, thì chỉ có thể hối hận về sau. Dù không ai trách bạn, điều đó vẫn không có lợi cho bạn.
Lục Tam: Không tiết chế thì than thở; không lỗi.
Tượng truyện nói: “Nỗi than thở vì không tiết chế”, còn trách ai được nữa?
Ý nghĩa kinh văn là: Không tiết chế bản thân thì sẽ than thở đau buồn, nhưng không có tai họa. Ý nghĩa Tượng từ là: Vì chính mình không tiết chế nên gây ra nỗi buồn, còn có thể trách ai?
Giải thích chi tiết hào Cửu Tứ của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Lục Tứ
Lục Tứ: Tiết chế an ổn, hanh thông.
Tượng truyện nói: Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.
Giải thích bằng văn nói
Lục Tứ: An vui với đời sống tiết kiệm và giữ lễ, hanh thông.
Tượng từ nói: Sở dĩ an vui với đời sống tiết kiệm và giữ lễ là cát lợi, vì thuận theo ý chỉ của người ở trên.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này giữ công bằng, tuân pháp luật, an với chính đạo nên có thể đạt phúc lợi. Người làm quan được cấp trên coi trọng, có hy vọng thăng chức.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Bình an là phúc, nghe lệnh mà hành sự.
Tài vận: An cư nơi đất khách, mọi việc đều tiết kiệm.
Gia trạch: Bình an vô sự; vợ chồng hòa thuận.
Sức khỏe: Bệnh từ miệng mà vào.
Quẻ biến của hào Lục Tứ
Khi hào Lục Tứ biến, được quẻ 58 trong Chu Dịch: Đoài vi Trạch. Đây là quẻ cùng quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Đoài ở trên. Đoài là đầm, là nước. Hai đầm nối liền, hai dòng nước giao hòa, trên dưới hòa hợp; đoàn kết nhất trí, bạn bè giúp đỡ, vui mừng hân hoan. Đoài cũng nghĩa là vui. Cùng giữ đức cương kiện, bên ngoài mang vẻ nhu hòa, kiên định đi theo chính đạo, dẫn dắt dân chúng hướng lên.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Tứ
Hào thứ tư của quẻ Tiết, hào từ: Lục Tứ: “Tiết chế an ổn, hanh thông.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: An nhiên thực hành tiết chế thì có thể đạt hanh thông.
Xét theo tượng quẻ, Lục Tứ là hào âm ở ngôi mềm, được đúng vị và đắc chính. Phía trên tiếp nhận Cửu Ngũ, có quan hệ thân cận với Cửu Ngũ; phía dưới ứng chính với Sơ Cửu, nên quan hệ trên dưới hòa hợp. Ở trên thì thuận theo quân chủ, ở dưới thì tiếp nhận sự giám sát của người hiền, lấy đó làm động lực tiết chế bản thân, nên có thể hanh thông.
Tượng truyện giải thích hào này: “Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.” Ở đây chỉ ra rằng “an nhiên thực hành tiết chế thì đạt hanh thông”, cho thấy sự cẩn trọng giữ đạo nhu thuận và tôn kính người ở trên.
Người được hào này có thể tiết chế trong mọi phương diện và bản thân cũng rất tự nguyện, đồng thời nắm được mức độ vừa phải. Vì vậy mọi mặt đều có thể hanh thông.
Lục Tứ: Tiết chế an ổn, hanh thông.
Tượng truyện nói: Sự hanh thông của tiết chế an ổn là do thuận theo đạo của bề trên.
Ý nghĩa kinh văn là: An với tiết chế thì hanh thông.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự hanh thông của việc an với tiết chế là do thuận theo thiên đạo của Cửu Ngũ.
Giải thích chi tiết hào Cửu Ngũ của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Cửu Ngũ
Cửu Ngũ: Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.
Tượng truyện nói: Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.
Giải thích bằng văn nói
Cửu Ngũ: Lấy tiết kiệm và giữ lễ làm vui thì cát. Theo đó mà tiến hành, đi đến đâu cũng được người khác giúp đỡ.
Tượng từ nói: Sở dĩ lấy tiết kiệm và giữ lễ làm vui là cát, vì hào Cửu Ngũ ở đúng vị, giống như người ở trong đức, hành nghĩa, tự nhiên được người khác giúp đỡ.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Cát: Người được hào này đang gặp vận tốt, mưu cầu có thành.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Hết khổ đến sướng, công danh ắt hiển đạt.
Tài vận: Đem gạo đi bán nơi khác, lợi nhuận ắt dồi dào.
Gia trạch: Chính trực, tiết kiệm; hôn nhân trăm năm hòa hợp.
Sức khỏe: Tiết chế ăn uống thì có thể chữa khỏi.
Quẻ biến của hào Cửu Ngũ
Khi hào Cửu Ngũ biến, được quẻ 19 trong Chu Dịch: Địa Trạch Lâm. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Khôn ở trên. Khôn là đất, Đoài là đầm; đất cao hơn đầm, đầm được đất bao chứa. Quẻ tượng trưng cho quân chủ đích thân đến với thiên hạ, trị quốc an bang, trên dưới hòa hợp.
Ý nghĩa triết học của hào Cửu Ngũ
Hào thứ năm của quẻ Tiết, hào từ: Cửu Ngũ: “Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.” Giải nghĩa hào từ
Tiết ngọt: Chỉ việc tự nguyện tiết chế.
Ý nghĩa của hào từ này là: Tự nguyện tiết chế thì được cát tường; tiến lên nhất định được khen thưởng.
Xét theo tượng quẻ, Cửu Ngũ là hào dương ở ngôi quân chủ, giữ trung và thủ chính, làm việc biết phân tấc, không thiên lệch, không quá mức. Là quân chủ, cũng cam lòng làm như vậy để nêu gương cho thần dân, được dân chúng ủng hộ và thu hút thêm nhiều người hiền đến phò tá.
Tượng truyện giải thích hào này: “Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.” Ở đây chỉ ra rằng “tự nguyện tiết chế thì được cát tường” vì ở vị trí trung chính.
Người được hào này có thể là lãnh đạo một đơn vị hoặc cha mẹ của con cái. Bạn nên tiết chế bản thân trong mọi phương diện để làm gương cho cấp dưới hoặc con trẻ; bạn sẽ nhận được sự kính trọng của họ.
Cửu Ngũ: Tiết chế ngọt ngào, cát; tiến hành thì được tôn trọng.
Tượng truyện nói: Sự cát lợi của tiết chế ngọt ngào là do ở ngôi giữa.
Ý nghĩa kinh văn là: Lấy đời sống tiết kiệm làm điều ngọt ngào thì cát tường; tiến đi sẽ được tôn trọng.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự cát tường của việc lấy đời sống tiết kiệm làm điều ngọt ngào là do Cửu Ngũ ở trung vị, đắc chính.
Giải thích chi tiết hào Thượng Lục của quẻ thứ 60 trong Chu Dịch
Hào từ Thượng Lục
Thượng Lục: Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung. Hối hận tiêu tan.
Tượng truyện nói: Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung, vì con đường ấy đã cùng.
Giải thích bằng văn nói
Thượng Lục: Coi tiết kiệm và giữ lễ là khổ, bói hỏi được điềm hung; người ấy sẽ hối tiếc vì gia đạo suy bại.
Tượng từ nói: Coi tiết kiệm và giữ lễ là khổ, bói được điềm hung, cũng như hào âm Thượng Lục cô độc treo ở tận cùng một quẻ, giống người bước vào cảnh cùng khốn, bế tắc.
Giải của Thiệu Ung, học giả Dịch học đời Bắc Tống
Hung: Người được hào này không gặp thời, không có danh cũng không có lợi. Người làm quan không biết biến thông thì tiền đồ mờ mịt.
Giải của Phó Bội Vinh, bậc đại nho Quốc học Đài Loan
Thời vận: Không biết biến thông, nghèo khổ cả đời.
Tài vận: Đánh mất cơ hội tốt, oán than cũng vô ích.
Gia trạch: Nên cởi mở; cố chấp thì khó xử.
Sức khỏe: Bệnh tình nguy kịch.
Quẻ biến của hào Thượng Lục
Khi hào Thượng Lục biến, được quẻ 61 trong Chu Dịch: Phong Trạch Trung Phu. Đây là quẻ dị quái chồng lên nhau, Đoài ở dưới và Tốn ở trên. Nghĩa gốc của chữ Phu là ấp trứng; thời điểm trứng nở khỏi vỏ rất chính xác, nên có nghĩa là lòng tin. Hình quẻ ngoài thực, trong rỗng, tượng cho sự thành tín trong lòng, vì vậy gọi là quẻ Trung Phu. Đây là nền tảng để lập thân và xử thế.
Ý nghĩa triết học của hào Thượng Cửu
Hào thứ sáu của quẻ Tiết, hào từ: Thượng Lục: “Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung; hối hận tiêu tan.” Giải nghĩa hào từ
Ý nghĩa của hào từ này là: Tiết chế quá mức sẽ trở nên cay đắng; nếu cứ giữ nguyên không thay đổi thì sẽ xảy ra hiểm nguy. Nếu biết hối tiếc vì tiết chế quá mức, hiểm nguy có thể tiêu tan.
Xét theo tượng quẻ, Thượng Lục là hào âm ở ngôi mềm, được đúng vị và đắc chính. Nhưng nó ở vị trí cao nhất của quẻ Tiết, lại không ở giữa, không thể giữ trung, có tượng vượt khỏi trung đạo mà đi vào tiết chế cực đoan; khổ sở tăng cường tiết chế mà không biết nới lỏng, biết bế tắc mà không biết khai thông.
Tượng truyện phân tích hào này: “Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung”, vì con đường ấy đã cùng. Ở đây chỉ ra rằng “tiết chế quá mức sẽ cay đắng và sinh hiểm nguy”, bởi tiết chế quá độ tất nhiên dẫn đến đường cùng.
Người được hào này đã có khuynh hướng tiết chế quá mức. Chẳng hạn tiết kiệm là đức tốt, nhưng vì tiết kiệm tiền mà ăn uống kham khổ, mặc không đủ ấm thì đó là tiết chế quá độ. Đừng tự ràng buộc mình quá mức; nếu kìm hãm bản thân như một tu sĩ khổ hạnh, không thể tự do hành động trong sự nghiệp thì sẽ bất lợi. Việc cấp thiết là tìm điểm cân bằng giữa buông thả và tự tiết chế, bởi tiết chế quá mức không thể áp dụng, dù với bản thân hay với người khác.
Thượng Lục: Tiết chế khắc khổ, giữ chính thì hung; hối hận tiêu tan.
Tượng truyện nói: Tiết chế khắc khổ mà giữ chính thì hung, vì con đường ấy đã cùng.
Ý nghĩa kinh văn là: Tiết chế khắc khổ quá mức, dù giữ chính đạo cũng nguy hiểm, nhưng không có hối hận.
Ý nghĩa Tượng từ là: Sự nguy hiểm của tiết chế quá mức là do đi đến đường cùng.