☯
Liên Sơn Dịch
Liên Sơn Dịch
—Đời Thanh—Mã Quốc Hàn
“Liên Sơn Dịch”, phụ: “Cổ Tam Phần”, “Thông khảo Liên Sơn Dịch”
“Liên Sơn”
Mã Quốc Hàn đời Thanh biên tập
Tựa của Mã Quốc Hàn: “Liên Sơn” một quyển, còn thiếu. Xét “Chu Lễ · Xuân Quan · Thái Bốc”: “Nắm giữ phép của Tam Dịch, một là Liên Sơn”; Trịnh Huyền chú: “Gọi là Liên Sơn, dường như núi phát tiết và thu nạp nội khí, mà biến đổi.”Giả Công Ngạn chú giải: “Trong Liên Sơn Dịch này, các quẻ lấy Cấn thuần làm quẻ đầu; Cấn là núi, trên là núi, dưới là núi, vì thế gọi là Liên Sơn. Mây khí ra vào trong núi, nên gọi Dịch là Liên Sơn.” Lại nói: “Nhà Hạ lấy tháng mười ba làm chính nguyệt, theo nhân thống. Không có lý nào lấy người làm quẻ đầu; Cấn dần ứng với tháng giêng, nên lấy Cấn làm quẻ đầu.”“Tân Luận” của Hoàn Đàm nói: “Liên Sơn có tám vạn lời.” Có lẽ vào thời Hậu Hán, sách này vẫn còn tồn tại, Quân Sơn đã từng thấy, nhưng người truyền lại rất ít. Vì vậy “Hán thư · Nghệ văn chí” và “Tùy thư · Kinh tịch chí” đều không ghi chép; “Đường thư · Nghệ văn chí” có “Liên Sơn” mười quyển, do Tư Mã Ưng chú. Xét “Bắc sử · Truyện Lưu Huyễn”: “Bấy giờ Ngưu Hoằng tâu xin mua tìm những sách thất truyền trong thiên hạ. Lưu Huyễn bèn ngụy tạo hơn một trăm quyển, đề là ‘Liên Sơn Dịch’, ‘Lỗ sử ký’ v.v., ghi nộp lên quan, cầu thưởng rồi bỏ đi. Về sau có người kiện ông ta; nhờ được xá miễn nên thoát chết, nhưng bị cách bỏ danh tịch.”Từ việc Lưu Huyễn có bản “Liên Sơn” ngụy tạo, còn bản chú giải của Tư Mã Ưng mãi đến đời Đường mới xuất hiện, các Nho gia hậu thế nêu nghi vấn cũng là có lý do.Tuy nhiên, “Đế vương thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật, “Thủy kinh chú” của Lệ Đạo Nguyên và “Ất Tị chiếm” của Lý Thuần Phong đều dẫn “Liên Sơn”. Hoàng Phủ Mật là người đời Tấn, Lệ Đạo Nguyên là người Bắc Ngụy, cả hai đều sống trước Lưu Huyễn. Câu Lý Thuần Phong dẫn: “Hằng Nga chạy lên cung trăng, bói nhiều lần được điềm Hoàng” giống với “Linh Hiến” của Trương Hành, chắc chắn là văn thất truyền thời cổ. Những đoạn khác lấy vần làm hào từ, khá giống “Dịch Lâm”; dù không phải cổ kinh, nó vẫn hoàn toàn khác với “Sơn Phần” được chép trong “Tam Phần” và Liên Sơn được nói là do Mao Tiệm tự tay viết lời tựa.Liang Nguyên Đế cũng có bộ Liên Sơn gồm ba mươi quyển. Đoạn Thành Thức nói rằng mỗi quẻ dẫn các sách Quy Tàng, Đẩu Đồ, Lập Thành, Ủy Hóa, Tập Lâm và Dịch Lâm của Tiêu Cán. Nay các sách ấy đã thất truyền; phải chăng những lời dẫn của người đời sau không còn có thể phân biệt? Nay tôi tập hợp các trích dẫn trong nhiều sách cùng những lời bàn của các nhà thành một quyển; thuyết của hai nhà Chu Nguyên Thăng và Tiết Trinh, phần thấy trong sách này hoặc phù hợp với chế định trước, được phụ lục dưới chính kinh. Dựa vào đó mà liên hệ và phát triển thêm, người ham học, suy nghĩ sâu sẽ tự lĩnh hội được. Mã Quốc Hàn ở Lịch Thành, tự Trúc Ngô.
Liên Sơn
1. Bác
Hào trên bảy nói: Số đã cùng thì đến Bác, cuối cùng đáng tiếc. — “Lục nghệ lưu biệt” của Hoàng Tá dẫn bản có chữ “nói” và chữ “tiếc”; “Lộ sử” của La Bí dẫn bản có chữ “mà”.
Tượng nói: Đến Bác rồi kết thúc, cũng là không biết biến đổi. — “Lục nghệ lưu biệt” của Hoàng Tá dẫn có chữ “nói” và câu trên; “Lộ sử” của La Bí dẫn có chữ “cũng”.
2. Phục
Hào đầu bảy nói: Rồng ẩn trong thần linh, trở về để giữ thân; sâu thẳm không bờ cõi, nắm giữ không giới hạn.—“Lộ sử” của La Bí không có chữ “nói”; “Lục nghệ lưu biệt” của Hoàng Tá chép: “Hào trên bảy của Phục nói: Rồng ẩn nơi vực sâu, giữ thần không bờ cõi.”
Tượng nói: Trở về để giữ thần, có thể đem ra dùng. —“Lục nghệ lưu biệt” không có chữ “cùng”; “Lộ sử” không có câu trên, chép: “Tượng: có thể đem ra dùng.”
3. Cấu
Hào đầu tám nói: Rồng hóa thành rắn, hoặc ẩn trong chỗ trũng; đó là nanh mầm của tai họa. —“Lộ sử” dẫn là “hào đầu sáu”, không có chữ “nói”; “Lục nghệ lưu biệt” dẫn: “Hào đầu tám của Cấu nói: Rắn ẩn trong chỗ trũng, đó là nanh mầm của tai họa.”
Tượng viết: “Âm nuôi mầm, không thể để nó lớn lên.” — Bản dẫn trong “Lục Nghệ Lưu Biệt” không có chữ “với”; bản dẫn trong “Lộ Sử” không có bốn chữ “Tượng viết, âm nuôi mầm”, mà ghi: “Tượng: không thể để nó lớn lên”.
4. Trung Phu
Sơ bát: Một người biết nàng, vẫn có thể ra đi. — Hoàng Tá, “Lục Nghệ Lưu Biệt”
Tượng viết: “Nàng đến rồi trở về, lòng thành không ở giữa.” — Cùng nguồn trên
5. Dương Dự
6. Du thi — La Bình chú “Lộ Sử”: “『Xuân Thu Diễn Khổng Đồ』 viết: ‘Khổng Tử hoàn thành 『Xuân Thu』, đem bói thì được quẻ Dương Dự’.”Sử Ký chép: “Tần Thủy Hoàng được ngọc bích của Hạo Trì Quân, trên đó nói năm sau Tổ Long sẽ chết. Bói việc ấy, được Du Thiên là điềm lành; Dương Dự và Du Thiên là các quẻ của Liên Sơn.”
7. Cổn, Sùng Bá, ẩn mình nơi đồng hoang núi Vũ. —Lệ Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú
8. Cổn được phong ở đất Sùng. —Bùi Nhân, Sử Ký Tập Giải
9. Vũ cưới con gái núi Đồ Sơn, tên là Du Nữ, sinh ra Khải. —Hoàng Phủ Mật, Đế Vương Thế Kỷ; Thái Bình Ngự Lãm, quyển một trăm ba mươi lăm.
10. Có người tên Phùng Nghị được thuốc trường sinh từ Tây Vương Mẫu. Hằng Nga trộm thuốc ấy chạy lên cung trăng. Trước khi đi, nàng bói nhiều lần với Hữu Hoàng. Hữu Hoàng đoán rằng: “Cát. Phiêu phiêu, em gái về nhà chồng; một mình sẽ đi về phương Tây, gặp lúc trời tối mờ, chớ sợ chớ kinh, về sau ắt đại xương.” Hằng Nga bèn gửi thân nơi cung trăng. —“Ất Tị chiếm” của Lý Thuần Phong
11. Dương Văn Khải bói việc hưởng tế thần ở trên Đại Lăng —(Xét: điều này không ghi chú xuất xứ)
12. Đế xuất hiện từ Chấn, chỉnh tề ở Tốn, gặp nhau ở Ly, làm việc ở Khôn, nói lời vui ở Đoài, chiến đấu ở Càn, nhọc nhằn ở Khảm, hoàn thành lời ở Cấn.
—Can Bảo, Chu Lễ Chú, dẫn rằng: “Đây là Dịch của Liên Sơn.” La Bí, Lộ Sử, phần Phát Huy cũng nói như vậy.
13. Cùng trở về với cha, kính cẩn như ở nơi quân chủ. —Tả Truyện: năm thứ hai đời Mẫn, sử quan nước Lỗ bói cho cha của Sở Khâu; gieo thẻ được quẻ Đại Hữu biến thành Càn. Trình Quýnh, Cổ Chiêm Pháp, dẫn câu này và nói: “Đây đích thực là lời của hai Dịch.”
14. Nghìn cỗ xe, lui ba lần; sau ba lần lui, bắt con cáo đực của nó. —Tả Truyện: năm thứ 15 đời Hy, người bói Đồ Phụ nước Tấn gieo thẻ, gặp quẻ Cổ.
mười lăm. Nước phương Nam khốn đốn, bắn vị nguyên vương của nó, trúng vào mắt. —Tả Truyện: năm thứ mười sáu đời Thành, giao chiến ở Yển Lăng, công bói việc ấy, sử quan nói: “Tốt lành, quẻ gặp là Phục.” Cố Viêm Vũ trong Nhật Tri Lục dẫn hai đoạn này và nói: “Đó chính là phép Tam Dịch được gọi như vậy.” Nay phụ chép ở đây.
Chu Nguyên Thăng viết trong *Tam Dịch Bị Khảo*: “*Liên Sơn* gồm hai thiên. Từ quẻ Phục đến quẻ Kiền là dương nghi, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là âm nghi; tổng số sách là một nghìn năm trăm hai mươi. Ở cuối hai thiên *Hệ Từ* cũng ghi một nghìn năm trăm hai mươi; đó là nói lấy số sách của *Liên Sơn* làm căn cứ.
Lại nói: *Liên Sơn Dịch* là phép tắc được thời Hạ lấy làm chuẩn; một thiên *Nghiêu Điển* có câu ‘phân mệnh cho Hy Hòa’ cũng là phép tắc của thời Hạ. Lấy *Thư Kinh* khảo xét *Dịch*, nghĩa lý của chúng là một.”*Thư Kinh* nói: “Giữa trưa, sao Điểu xuất hiện, dùng để định giữa xuân”; “Ngày dài, sao Hỏa xuất hiện, dùng để chính giữa hạ”; “Đêm giữa, sao Hư xuất hiện, dùng để định giữa thu”; “Ngày ngắn, sao Mão xuất hiện, dùng để chính giữa đông”. Hẳn là lấy các sao giữa mùa để định bốn mùa. Nay theo *Liên Sơn Dịch* mà phân bố hai mươi tám tú: đông chí, quẻ là Phục, tú là Hư; hạ chí, quẻ là Cấu, tú là Tinh; xuân phân, quẻ là Lâm, tú là Đê và Phòng; thu phân, quẻ là Độn, tú là Mão. Hai chí hai phân của bốn mùa, lấy quẻ chuẩn định tú, chính là “trung tinh” trong *Nghiêu Điển*.
Lại nói: “Lý tăng, phân, tiêu, hấp nằm trong *Liên Sơn Dịch*; đạo lý chí tinh, chí biến, chí thần đều chứa ở đó. Kiền và Khôn đối nhau: cái tăng của Kiền chính là cái tiêu của Khôn, cái phân của Kiền chính là cái hấp của Khôn; cái tăng của Khôn chính là cái tiêu của Kiền, cái phân của Khôn chính là cái hấp của Kiền. Đoài đối Cấn, Ly đối Khảm, Chấn đối Tốn; năm mươi sáu quẻ còn lại cũng từng đôi đối nhau, tăng, phân, tiêu, hấp đều chuẩn theo tám quái.
Tiết Trinh nói: Trong *Liên Sơn*, Kiền bắt đầu ở Tý, Khôn bắt đầu ở Ngọ, hợp với tiểu đồ Tiên Thiên. Lại lấy Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, Kiền, Khảm làm thứ tự.
Phụ lục: Các thuyết luận của chư gia
1. *Chu Lễ – Thái Bốc* nói: “Nắm giữ phép của Tam Dịch: một là *Liên Sơn*, hai là *Quy Tàng*, ba là *Chu Dịch*. Các kinh quái đều tám, các biệt quái đều sáu mươi bốn.” Lại nói: “Người bói nắm giữ Tam Dịch để phân biệt tên của Cửu Thệ: một là *Liên Sơn*, hai là *Quy Tàng*, ba là *Chu Dịch*.
2. *Sơn Hải Kinh* nói: “Họ Phục Hy được *Hà Đồ*; Hạ Hậu thị nhân đó gọi là *Liên Sơn*.
3. Đỗ Tử Xuân nói: “*Liên Sơn* là của Mật Hy.”
4. Hoàn Đàm nói: “*Liên Sơn* có tám vạn lời, *Quy Tàng* có bốn nghìn ba trăm lời. *Dịch* nhà Hạ thì phiền toái, *Dịch* nhà Ân thì giản lược.” Lại nói: “*Liên Sơn* được cất ở Lan Đài.
5. Trịnh Khang Thành nói: “*Liên Sơn* giống như núi phát ra và thu nạp khí, tức là sự biến hóa.
6. Thuần Vu Tuấn nói: “*Liên Sơn* giống như núi phát ra và thu nạp khí, vận hành nối liền trời đất.
7. Diêu Tín nói: “Liên Sơn thị được *Hà Đồ*; người Hạ nhân đó gọi là *Liên Sơn*.”
8. Nguyễn Tịch nói: “Bào Hy bày ra và diễn giải sự biến hóa của sáu mươi bốn quẻ; các thánh nhân đời sau xem đó mà noi theo, lấy tượng mà dùng. Kinh của Vũ, Thang đều còn, nhưng văn tự thời thượng cổ không tồn tại.
9. Hoàng Phủ Mật nói: “Người Hạ nhân Viêm Đế mà gọi là *Liên Sơn*. Trong *Liên Sơn Dịch*, quẻ Thuần Cấn đứng đầu. Cấn là núi, trên núi dưới núi, nên gọi là *Liên Sơn*. Mây khí ra vào ở núi. Nhà Hạ lấy tháng mười ba làm chính, theo Nhân thống; Cấn dần dần chính định tháng giêng, nên lấy Cấn làm đầu.
10. Lương Nguyên Đế nói: “Đỗ Tử Xuân nói: ‘*Liên Sơn* là Phục Hy;*Quy Tàng* là Hoàng Đế.’” Xét *Lễ Ký*: “Ta muốn xem đạo nhà Ân, được Khôn Kiền.” Nay *Quy Tàng* đặt Khôn trước Kiền, vậy biết rõ là của Ân. *Quy Tàng* đã gắn với chế độ nhà Ân, thì xét về lý, *Liên Sơn* là sách nhà Hạ.
11. Khổng Dĩnh Đạt nói: “*Liên Sơn* khởi từ Thần Nông.” Lại nói: “Việc bói toán đời Chu dùng lẫn *Liên Sơn*, *Quy Tàng*, *Chu Dịch*. *Liên Sơn*, *Quy Tàng* lấy cái không biến làm điềm, bói các hào bảy, tám. Hai Dịch đều đã mất, không biết thực sự có phải như vậy hay không.”
12. Giả Công Ngạn nói: “*Hồng Phạm* nói: ‘Chọn lập ba người bói, việc bói theo lời của hai người.’ Hẳn vì khi bói đã dùng cả ba Dịch: *Liên Sơn*, *Quy Tàng*, *Chu Dịch*. Hạ, Ân lấy cái không biến làm điềm; *Chu Dịch* lấy cái biến làm điềm; ba người mỗi người bói một Dịch. *Sĩ Tang Lễ* nói: khi bói phương đông tây của đất ở thì ‘chúng bói’; ‘chúng’ nghĩa là nhiều người, cùng bói với thuộc hạ của mình.”*Xuân Thu Diễn Khổng Đồ* nói: “Khổng Tử sửa *Xuân Thu*, chín tháng thì xong; đem bói được quẻ Dương Dự.” Tống Quân chú rằng: “Đó là tên quẻ thời Hạ, Ân, nên trong *Chu Dịch* ngày nay không có văn ấy.” Vậy Khổng Tử cũng dùng phép bói của hai đời trước.
13. Lưu Sưởng nói: “‘Giữ lưng mình, không được thân mình’ là đạo của người. Lấy Dần làm chính, khi Mục Khương bói gặp Cấn tám, tức là Cấn biến thành Tùy; đó là Dịch của *Liên Sơn*.”
14. Thiệu Tử nói: “Nhà Hạ lấy tháng Kiến Dần làm tháng giêng, gọi là Nhân thống. *Dịch* gọi là *Liên Sơn*, lấy Cấn làm đầu vì tượng cho người.
15. Phương Khác nói: “*Liên Sơn* đứng đầu bằng Cấn; quẻ ấy gồm nội ngoại thành một thể, vị ở khoảng giữa hai phương đông bắc, hướng về thời của con người. Nhà Hạ dùng Nhân chính, nên sách ấy lấy đó làm chuẩn.
16. Hoàng Thường nói: “Khai mở điều u tối là lòng nhân của Dịch. Vì thế nhà Hạ gọi là *Liên Sơn*, dùng tượng để nói về lòng nhân ấy. Núi tĩnh mà sinh dưỡng vạn vật, có đạo của lòng nhân.”
17. Thẩm Quát nói: “Lời của quẻ và hào đều dùng chín, sáu; chỉ *Liên Sơn*, *Quy Tàng* dùng bảy, tám để bói.
18. Lục Điền nói: “*Liên Sơn* bắt đầu bằng Cấn, nên gọi là *Liên Sơn*; đó chính là ‘kiêm sơn’ mà *Dịch* nói. Nho gia đời trước cho rằng tượng ấy là mây khí từ núi xuất ra liên miên không dứt, không phải vậy.” Lại nói: “*Liên Sơn Dịch* có ở một nhà tại Trường An, các quẻ đều dựng dọc.
19. Thiệu Bác nói: “Ý nghĩa của *Liên Sơn Dịch* rất nông cạn; phải chăng là sách giả của Lưu Huyễn?”
20. Lý Cương nói: “*Liên Sơn*, *Quy Tàng* lấy tĩnh làm điềm, nên hào gọi là bảy, tám. Bảy, tám là số của thiếu âm, thiếu dương. Âm dương thiếu còn hư, chưa đầy, nên tĩnh mà không biến.
21. Chu Chấn nói: “*Liên Sơn* đứng đầu bằng Cấn vì tám gió bắt đầu ở Bất Chu, thực ở phương tây bắc; theo thứ tự bảy tú là Đông Bích, Doanh Thất; ở Thìn là Hợi, ở luật là Ứng Chung, ở thời là Lập Đông. Đó là lịch của Chuyên Húc, bởi vậy lấy tháng mười làm đầu.”
22. Quách Ung nói: “Dịch nhà Hạ gọi là *Liên Sơn*, Dịch nhà Thương gọi là *Quy Tàng*; gọi là Hạ Thương Dịch vì thời ấy còn chưa có tên Dịch.
23. Trương Hành Thành nói: “Nhà Hạ gọi là *Liên Sơn*, là Thiên Dịch; *Thái Huyền Dịch* lấy đó làm gốc.
24. Trịnh Ngạc nói: “*Chu Dịch* lấy chín, sáu để bói; *Liên Sơn*, *Quy Tàng* lấy bảy, tám để bói. *Chu Dịch* bói cái biến, *Liên Sơn*, *Quy Tàng* bói cái không biến.
25. Trịnh Tiều nói: “*Liên Sơn* là Dịch của Hạ Hậu thị, đến đời Đường mới xuất hiện, nay đã mất.”
26. Trình Huýnh nói: “*Liên Sơn*, *Quy Tàng* đáng lẽ có số giống *Chu Dịch* nhưng lời khác. Nho gia đời trước nói *Chu Dịch* bói cái biến, không đúng; nói *Liên Sơn*, *Quy Tàng* bói cái không biến, cũng không đúng. Người bói thời xưa dùng cả phép của ba Dịch. Vệ Nguyên bói gặp quẻ Truân, nói: ‘Lợi cho việc gặp hầu’; đây là *Chu Dịch* bói cái không biến.”Việc bói của Quý Hữu gặp Đại Hữu biến thành Kiền, nói: “Cùng trở về với cha, kính như ở chỗ vua.” Đây quả là lời của hai Dịch kia. Vì đã biến thành Kiền nên dùng hào biến; vậy *Liên Sơn*, *Quy Tàng* đôi khi cũng bói cái biến.
27. Trình Đại Xương nói: “*Chu Quan* ghi Tam Dịch; các kinh quái đều tám, các biệt quái đều sáu mươi bốn. *Liên Sơn* là Hạ, *Quy Tàng* là Thương. Đến đời Hạ, Thương, tám quái vốn đã được phân thành sáu mươi bốn quẻ.”
28. Thái Nguyên Định nói: “*Liên Sơn* đứng đầu bằng Cấn, *Quy Tàng* đứng đầu bằng Khôn; nghĩ rằng cách dùng của chúng hẳn khác *Chu Dịch* rất nhiều, nhưng đạo thì đồng.
29. Trịnh Đông Hương nói: “Từ Bào Hy đến Hạ, Thương, tám quái tuy đã chồng thành quẻ nhưng chưa biết sự tăng biến của bảy, tám, chín, sáu. *Liên Sơn* bắt đầu ở Cấn, *Quy Tàng* bắt đầu ở Khôn; Hạ, Thương dùng chúng, đều lấy cái không biến làm điềm, số chỉ dừng ở sáu mươi bốn.”
30. La Mật nói: “Viêm Đế Thần Nông sai Tư Quái chủ việc bói, Vu Hàm, Vu Dương chủ việc bói cỏ thi. Do đó thông suốt sự biến của nó, làm thành văn của thiên hạ, cùng cực số của nó để định tượng trời đất; tám tám thành quẻ, đền đáp và phù trợ thần linh, thông đạt chí hướng thiên hạ, định đoạt sự nghiệp thiên hạ. Cái bắt đầu vạn vật và kết thúc vạn vật, không gì thịnh hơn Cấn. Cấn là quẻ đông bắc, nên chồng Cấn làm đầu; đó gọi là *Liên Sơn Dịch*.
31. La Bình nói: “Văn của *Liên Sơn* là tác phẩm đời Vũ.
32. Trần Tảo nói: “Nước Hạ có *Liên Sơn*; phép bói cỏ thi bắt đầu từ đó chăng?”Vì thế, trước khi Hạ thay Ngu, triều đình của Thuấn đã có nó rồi.
33. Lý Quá nói: “*Dịch Sao* nói: ‘Có trời đất rồi sau mới có vạn vật.’ Dịch Hạ đứng đầu bằng Cấn, vậy vật có trước trời đất. Vì thế Dịch Hạ không được truyền; thuyết ấy quả có chỗ hay, nhưng vẫn không khỏi là lời bàn vội vàng. Dịch Hạ, Thương, Chu có quẻ đầu khác nhau, hẳn gửi gắm nghĩa Tam thống. Hạ Hậu thị lấy Dần làm kiến, lấy tháng giêng làm đầu năm, làm Nhân kỷ. Trong hai mươi bốn vị của trời đất, Cấn nối với Dần; vạn vật kết ở Cấn và cũng bắt đầu ở Cấn. Hạ chính dựng ở Dần, nối với Dần, nên đứng đầu bằng Cấn.”
34. Lưu Viêm nói: “Có người hỏi thật giả của *Liên Sơn*, *Quy Tàng*. Ta đáp: *Hán Chí* không chép *Liên Sơn*, *Đường Chí* thì có; *Hán Chí* không chép *Quy Tàng*, *Trung Kinh* đời Tấn cùng *Chí* đời Tùy, Đường thì có. Xưa không nay có, đủ biết là giả; huống lời nói lại trái với kinh điển?”
35. Vương Ứng Lân nói: “*Liên Sơn* đứng đầu bằng Cấn. Cấn là nơi vạn vật kết thúc và bắt đầu. Tám gió bắt đầu ở Bất Chu, quái khí bắt đầu ở Trung Phu; đông chí là nguyên của lịch, Hoàng Chung là gốc của luật. *Thái Huyền* ghi ngày ở Ngưu tú, ghi khí ở Trung Thủ rồi kết ở Võng Minh; tại Nguyên Cấn, nó ghi sự bắt đầu và kết thúc của vạn vật.” Lại nói: “Nghĩ rằng dưới các quẻ Hạ, Thương mỗi quẻ cũng có lời, nên người Chu lưu giữ cả để dùng bói.
36. Hoàng Dần Viêm nói: “*Liên Sơn* là Tiên Thiên Dịch của Bào Hy.
37. Chu Nguyên Thăng nói: “*Liên Sơn* là đầu của Tam Dịch.” Lại nói: “Việc làm ra *Liên Sơn* cũng lấy đồ thư làm chuẩn.” Lại nói: “*Liên Sơn* do Phục Hy làm, nhà Hạ dùng; *Quy Tàng* do Hoàng Đế làm, nhà Thương dùng. Chu Công phò Thành Vương, đặt quan chia chức, sai Thái Bốc, người bói cùng với *Chu Dịch* nắm giữ; không vì nhà Chu dùng *Chu Dịch* mà bỏ *Liên Sơn*, *Quy Tàng* cho là vô dụng.” Lại nói: “Trong *Chu Lễ Sớ*, Giả Công Ngạn giải nghĩa *Liên Sơn*: ‘*Liên Sơn* lấy Thuần Cấn làm đầu; Cấn là núi, trên núi dưới núi, nên gọi là *Liên Sơn*.”Đem lời sớ của Giả thị đối chiếu với lời trong *Thuyết Quái* mà xét: thời Hạ lấy Dần làm kiến chính, Thuần Cấn thực ứng với Lập Xuân. Xuân là đầu của thời tiết, phải chăng vì vậy Cấn đứng đầu *Liên Sơn Dịch*? *Hán Thư – Luật Lịch Chí* thuật Tam thống, nói Nhân thống là Dần, thuộc Mộc; luật Thái Tốc dài tám thốn, tượng tám quái, đó là điều Phục Hy thuận theo trời đất, thông với thần minh, phân loại vạn vật. Từ đó biết Bào Hy cũng dùng Dần làm chính, Hạ Hậu thị chỉ nhân theo mà thôi. Điều Công Ngạn nói *Liên Sơn* do Phục Hy làm, Hạ Hậu nhân theo, chính là ý này. Lại nói: “*Liên Sơn Dịch* mất đã lâu; nhờ *Chu Lễ* mà tên còn, nhờ *Thuyết Quái Truyện* mà nghĩa còn, nhờ thời Hạ mà cách dùng còn.
38. Kim Lý Tường nói: “Lời của *Liên Sơn*, *Quy Tàng* nay không thể khảo cứu nữa. Học giả cho rằng đồ hỗ thể của Thiệu thị, các đồ quẻ *Ký Tế* cùng những quẻ khác, là phép còn lại của *Liên Sơn*; phép Nạp Giáp, Quy Hồn đời sau là phép còn lại của *Quy Tàng*.”
39. Hồ Nhất Quế nói: “*Liên Sơn* mười quyển, thấy trong *Đường Nghệ Văn Chí*. Trước đời Đường không có sách ấy, vậy *Liên Sơn* đời Đường dường như là sách giả đời Tùy.
40. Ngô Trừng nói: “*Liên Sơn* là Dịch nhà Hạ.
41. Ngô Lai nói: “Bói Dịch lấy biến, nên số chỉ dùng chín, sáu và trọng lão. *Liên Sơn*, *Quy Tàng* bói cái không biến, nên số chỉ dùng bảy, tám và trọng thiếu.”*Liên Sơn* dùng bảy và đứng đầu bằng Cấn; *Quy Tàng* dùng tám và bắt đầu bằng Khôn. Rốt cuộc cũng chỉ là phép cũ của Phục Hy. Xét số sách dùng khi vận dụng, *Liên Sơn* có ba mươi sáu, *Quy Tàng* có bốn mươi sáu, còn *Dịch* có bốn mươi chín, dường như không thể dùng lẫn nhau.
42. Chu Ẩn Lão nói: “*Liên Sơn* là Dịch của Thần Nông, đứng đầu bằng Cấn; phàm ai dựng Dần đều tôn theo nó. Đường Ngu cũng vậy, không riêng Hạ Hậu thị.
43. Lôi Tư Tề nói: “Dịch của *Liên Sơn*, *Quy Tàng* có phép bói giống nhau nhưng lời hào khác nhau.”
44. Chu Thăng nói: “*Liên Sơn* đứng đầu bằng Cấn, là chỗ giao của đầu và cuối.
45. Vương Vĩ nói: “Dịch bắt đầu từ việc Phục Hy đầu tiên vẽ tám quái, rồi chồng thành sáu mươi bốn quẻ. Khi ấy hẳn có đồ mà chưa có sách. Các thánh nhân đời sau nhân đó làm *Liên Sơn*, *Quy Tàng*, *Chu Dịch*. Tất cả đều lấy đồ của Phục Hy làm gốc, nhưng cách dùng mỗi thứ mỗi khác.”
46. Hà Kiều Tân nói: “Trong Đường Nghệ Văn Chí có mười quyển Liên Sơn, được nói là do Trưởng Tôn Vô Kỵ sắp thứ tự và thuật lại. Văn bản có nhiều chỗ thiếu sót, sai lầm; sách ấy đã thất truyền từ lâu. Tuy vậy, nếu tìm xét thì vẫn còn điều có thể nói: cái gọi là ‘Cấn là núi chồng núi’ chính là di ý của Liên Sơn. Cả sáu hào đều là những tượng người khác nhau. Sách tuy không còn, nhưng vẫn có thể suy ra từ tượng.
47. Vương Đạo nói: “Liên Sơn mở đầu bằng Cấn. Các nhà chú giải đều cho rằng Cấn ở vị Dần, hợp với nghĩa dựng Dần; điều này hoàn toàn không đúng. Cấn ở Dần là vị quẻ hậu thiên của Văn Vương. Sao nhà Hạ lại có thể biết trước mà dùng nó?”Hơn nữa, cả sáu hào đều thuộc về nhân đạo, riêng Cấn đứng đầu, là vì sao? Bởi ba quái nữ không cần bàn đến. Chấn có một hào dương vận động bên dưới hai hào âm; Khảm có một hào dương nằm giữa hai hào âm. Cả hai đều chưa đủ để tương ứng với chính đạo của nhân đạo. Chỉ Cấn có một hào dương dừng ở trên hai hào âm, vừa phù hợp với tượng một vua hai dân, lại vừa khế hợp sâu sắc với cái diệu lý rằng chỉ có dừng mới có thể khiến số đông dừng lại; đó là điều thiện bậc nhất của nhân đạo. Cấn đứng đầu là vì lẽ ấy.
48. Trạm Nhược Thủy nói: Trong Liên Sơn Dịch của nhà Hạ, biết dừng là điều cốt yếu xuyên suốt từ đầu đến cuối; đó là lý do Trình Tử chọn quẻ Cấn.
49. Tôn Nghi nói: “Người giải thích Liên Sơn cho rằng nó giống như mây từ núi bay ra, liên miên không dứt. Nhưng mây bay ra liên miên thì làm sao đủ để tận cùng mọi đạo lý trong thiên hạ? Lại nói: Bát quái tuần hoàn theo thứ tự; Liên Sơn và Quy Tàng cũng đều có thứ tự riêng, nhưng ý nghĩa của chúng vẫn chưa đầy đủ.
50. Hồ Ứng Lân nói: “Liên Sơn Dịch mười quyển được thấy trong Đường Nghệ Văn Chí. Theo Ban thị, đứng đầu Lục Kinh là Chu Dịch; Dịch của nhà Hạ và nhà Thương hoàn toàn khác nhau.”Niu Hoằng đời Tùy thu mua các sách sót lại trong thiên hạ đến ba mươi bảy vạn quyển. Khi Ngụy Văn Thành và những người khác biên soạn Tùy Sử, tên các thiên đã thất truyền từ đời Tấn, Lương trở về sau đều được ghi đủ, vậy mà chưa từng nghe nói đến thứ gọi là Liên Sơn. Đến đời Đường mới xuất hiện, có thể như vậy sao? Bắc Sử, truyện Lưu Huyễn, chép rằng: Tùy Văn Đế sai tìm kiếm đồ thư, Huyễn bèn ngụy tạo Liên Sơn và Lỗ Sử Ký dâng lên. Mã Đoan Lâm dựa vào đó cho rằng do Huyễn làm; có lẽ đúng vậy. Về sau việc Huyễn bị phát giác và bị xóa tên, nên Tùy Chí không ghi, nhưng sách ấy vẫn lưu truyền về sau; đến niên hiệu Khai Nguyên, khi tập hợp rất nhiều sách, nó chỉ được đưa vào cất trong cung.
51. Thẩm Mậu Hiếu nói: “Dịch của nhà Hạ mở đầu bằng Cấn, nhờ đó hoàn thành sự kết thúc và thai nghén công dụng phát sinh qua Chấn.
52. Hác Kính nói: “Liên Sơn có quẻ Cấn sáu hào. Cấn là núi; trên dưới đều là Cấn, nên gọi là Liên Sơn.
53. Tiêu Hoành nói: “Liên Sơn là Cấn. Thời Hạ, điều người giảng học coi trọng là sự dừng lại.
54. Tôn Kỳ Phùng nói: “Liên Sơn mở đầu bằng Cấn. Cấn nghĩa là dừng. Việc thiên hạ không phải mỗi ngày mới lên nhờ hành động, mà mỗi ngày mới lên nhờ biết dừng. Chỉ khi dừng đúng lúc thì mới hành động đúng lúc. Đó là ý nghĩa của việc thành tựu cả đầu lẫn cuối.”
55. Hoàng Tông Viêm nói: “Hoàn Đàm nói Liên Sơn có tám vạn lời, Quy Tàng có bốn nghìn ba trăm lời. Như vậy, văn tự của nhà Hạ, cùng với sách nhà Ân và Chu Dịch, dài gần gấp hai mươi lần lời của Văn Vương và Chu Công hay sao? Sao có thể là những quyển sách cổ được? Người đưa ra thuyết này cũng không hiểu đạo lý xuyên suốt cổ kim.”
56. Cố Viêm Vũ nói: “Liên Sơn và Quy Tàng không phải là Dịch. Chu Quan nói ‘ba Dịch’ là vì người đời sau mượn tên Dịch để gọi chúng. Cũng như Mặc Tử nói về Xuân Thu của Chu, Yên, Tống, Tề: sử sách của Chu, Yên, Tống, Tề không phải đều là ‘Xuân Thu’, nhưng được gọi là ‘Xuân Thu’ vì mượn tên sử sách nước Lỗ.
57. Vưu Đồng nói: “Liên Sơn mở đầu bằng Cấn, Quy Tàng mở đầu bằng Khôn. Thứ tự các quẻ hơi khác nhau, nhưng tên quẻ chưa từng khác.”
58. Hoàng Dữ Kiên nói: “Dịch là tên do nhà Chu đặt; vì thế Liên Sơn và Quy Tàng cũng được nhà Chu đặt tên là Dịch và gọi là ‘Tam Dịch’.
59. Chu Di Tôn nói: “Trong lời tựa Tam Phần do Mao Tiệm soạn, ‘Sơn Phần’ được xếp đầu tiên, cho rằng đó là Dịch của Liên Sơn, do Phục Hy sáng tác.”Các tượng của nó có những ý nghĩa như: núi cao là vua, núi phục là bề tôi, núi xếp là dân, núi chồng là vật, núi ẩn là âm, núi liên là dương, núi tàng là binh, núi lớp là tượng. Sách nói: “Thiên Hoàng bắt đầu vẽ Bát quái; Liên Sơn được gọi là Dịch; vua, tôi, dân, vật, âm, dương, binh, tượng bắt đầu được làm sáng tỏ trong đời.” Điều này hoang đường, không đáng tin. Lại nói: “Theo Đỗ Tử Xuân, ‘Liên Sơn’ là Phục Hy, ‘Quy Tàng’ là Hoàng Đế; Diêu Tín cho rằng ‘Liệt Sơn’ là Thần Nông. Thế nhưng Cổ Kim Nhân Biểu của Ban Mạnh Kiên đã xếp Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế vào hàng thánh nhân, lại ghi Liệt Sơn, Quy Tàng vào hàng nhân nhân; không nên lại xuất hiện theo cách ấy.
Cổ Tam Phần
Tựa Cổ Tam Phần
Đời Tống — Mao Tiệm
Tả Thị Truyện của Xuân Thu chép: ‘Ỷ Tướng, Tả sử nước Sở, có thể đọc Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Tác, Cửu Khâu.’Tôn An Quốc thuật lại Kinh Thư, nói rằng sách của Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế được gọi là Tam Phần, nói về Đại Đạo. Nghệ Văn Chí trong Hán Thư ghi chép sách cổ rất tường tận, nhưng sách Tam Phần đã không còn được ghi vào đó nữa; phải chăng những sách này đã mất vào đời Hán? Năm thứ bảy niên hiệu Nguyên Phong, tôi phụng mệnh đi sứ đến Tây Kinh, tuần tra các huyện thuộc quyền. Trên đường đến Tất Dương thuộc Đường Châu, không có trạm dịch, nên tôi ở nhờ và dùng bữa tại nhà dân. Trên cửa có đề: “Sách Tam Phần đã được một người nào đó mượn đi.” Tôi lập tức gọi chủ nhà đến hỏi. Ông ta nói: “Đó là bộ Tam Phần cổ. Một nhà nọ quả thực có bộ sách này.” Vì vậy tôi sai đem sách ra và đọc.Mỗi phần trong Tam Phần đều có một bản Truyện. Phần Phần viết bằng cổ văn, còn Truyện viết bằng lệ thư. Lời lẽ giản lược mà lý lẽ thông suốt, khiến tôi nghi rằng người đời sau khó có thể làm ra. Tôi mượn về rồi chép lại, thỉnh thoảng đem cho những người hiếu cổ xem, họ thường chỉ ra là sách ngụy. Nhưng xét vì sao Phần có ba, thì có lẽ chúng được phân biệt theo núi, khí và hình: Sơn Phần nói về quân, thần, dân, vật, âm, dương, binh, tượng, gọi là Liên Sơn; Khí Phần nói về quy, tàng, sinh, động, trưởng, dưỡng, chỉ, sát, gọi là Quy Tàng;Hình Phần nói về trời, đất, mặt trời, mặt trăng, núi, sông, mây, khí, gọi là Càn Khôn. Điều này khác hẳn thuyết của các tiên nho về Tam Phần. Tất cả đều theo các loại nghĩa tương ứng, trình bày tận cùng đạo lý của trời đất. Lại có các thiên như Tính Kỷ, Hoàng Sách, Chính Điển. Văn từ chất phác, giản lược, quả thật là sách còn sót lại từ thời thượng cổ. Dẫn Chinh trích Chính Điển: “Kẻ đi trước thời thì giết không tha; kẻ không kịp thời cũng giết không tha.” Khổng thị cho đó là điển tịch về chính sự của Hạ Hậu, khá phù hợp với Thượng Thư. Há người đời sau có thể ngụy tạo sao? Người đời chỉ vin vào việc sách này đã mất từ thời Hán, cho rằng nó không nên tồn tại ở đời sau.Hơn nữa, Thượng Thư được tìm mua rất gấp vào đầu đời Hán mà không có được; đến thời Vũ Đế mới xuất hiện từ trong vách nhà. Há có thể vì vậy mà kết luận là sách ngụy sao? Tôi khảo xét sách này, đã hết sức tin chắc, muốn truyền lại cho các bậc quân tử hiếu cổ, nên viết lời tựa này.
Sơn Phần — Thiên Hoàng Phục Hy — Liên Sơn Dịch
Đại tượng của hào quẻ:
Sùng Sơn Quân: vua; quân-thần là tướng; quân-dân là quan; quân-vật là rồng; quân-âm là hậu; quân-dương là sư; quân-binh là tướng; quân-tượng là đầu
Phục Sơn Thần: bề tôi; thần-quân là hầu; thần-dân là sĩ; thần-vật là rùa; thần-âm là con; thần-dương là cha; thần-binh là tốt; thần-tượng là đùi
Liệt Sơn Dân: dân; dân-quân là thức ăn; dân-thần là sức; dân-vật là hàng hóa; dân-âm là vợ; dân-dương là chồng; dân-binh là khí giới; dân-tượng là thân thể
Kiêm Sơn Vật: vật; vật-quân là kim; vật-thần là mộc; vật-dân là thổ; vật-âm là thủy; vật-dương là hỏa; vật-binh là vật cầm; vật-tượng là mùa xuân
Tiềm Sơn Âm: âm; âm-quân là đất; âm-thần là đồng hoang; âm-dân là quỷ; âm-vật là thú; âm-dương là nhạc; âm-binh là yêu; âm-tượng là mùa đông
Liên Sơn Dương: dương; dương-quân là trời; dương-thần là càn; dương-dân là thần; dương-vật là chim; dương-âm là lễ; dương-binh là trách phạt; dương-tượng là mùa hạ
Tàng Sơn Binh: binh; binh-quân là soái; binh-thần là tá; binh-dân là quân; binh-vật là tài liệu; binh-âm là mưu; binh-dương là trận; binh-tượng là mùa thu
Điệp Sơn Tượng: tượng; tượng-quân là mặt trời; tượng-thần là mặt trăng; tượng-dân là sao; tượng-vật là mây; tượng-âm là đêm; tượng-dương là ngày; tượng-binh là khí
Hà Đồ thời Thái Cổ thay cho Tính Kỷ
Thanh khí chưa thăng, trọc khí chưa giáng, du thần chưa linh, năm màu chưa phân. Bên trong có một vật, mờ mịt mà tính vẫn tồn tại, gọi là hỗn độn. Hỗn độn là Thái Thủy. Thái Thủy là mầm nảy của nguyên thai. Số của Thái Thủy là một; một là Thái Cực. Thái Cực là cha mẹ của trời đất.Một cực là Dịch; trời cao sáng và thanh, đất rộng dày và đục, gọi là Thái Dịch. Thái Dịch là sự biến hóa của trời đất. Số của Thái Dịch là hai; hai là Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi là hình của âm dương, gọi là Thái Sơ. Thái Sơ là sự giao nhau của trời đất. Số của Thái Sơ là bốn; bốn đầy trong Dịch, Tứ Tượng biến hóa mà thành vạn vật, gọi là Thái Tố. Thái Tố là khởi đầu của Tam Tài. Số của Thái Tố là ba; ba đầy trong Dịch, trời đất thai nghén rồi sinh nam nữ, gọi là Tam Tài. Tam Tài là sự đầy đủ của trời đất.Du thần chuyển động mà trở nên linh thiêng, nên các loài bay, chạy, ẩn, hóa, động, thực vật, côn trùng, cá tất phải đầy đủ giữa trời đất, gọi là Thái Cổ. Thái Cổ là khởi đầu của sinh dân. Người Thái Cổ đều sống lâu; khi Dịch đầy, bắt đầu có ba nam ba nữ. Mùa đông tụ họp, mùa hạ phân tán, ăn quả của chim, thú, côn trùng, cá, cỏ, cây; nam nữ giao tinh, con do người nữ sinh ra được lấy làm họ. Ban đầu có ba đầu lĩnh, gọi là Hợp Hùng Kỷ. Sinh con qua ba đời. Hợp Hùng thị mất, con cháu truyền nối, ghi tuổi thọ, gọi là Tự Mệnh Kỷ. Tổng cộng ghi bốn họ, sinh con qua hai đời.Nam nữ ngày càng đông, quần cư nối tiếp cùng chạy trốn, theo kẻ mạnh mà hành động, gọi là Liên Bô Kỷ. Sinh con một đời, tổng cộng ghi năm họ, gọi là Ngũ Tính Kỷ. Người trong thiên hạ quần cư, thân cận theo từng loại; nam nữ đông đúc, chia thành chín đầu, mỗi nhóm ở một phương, nên gọi là Cư Phương thị. Sau khi mất, sinh con qua ba mươi hai đời; mạnh yếu xô ép lẫn nhau, muốn nuốt chửng và hại nhau. Trong đó có thần nhân nâng đỡ và cai trị, nên gọi là Đề Đĩnh thị. Đề Đĩnh thị sinh con qua ba mươi lăm kỷ, tổng cộng ghi bảy mươi hai họ, nên gọi là Thông Tính thị.Hữu Sào thị xuất hiện, là người đầu tiên thức tỉnh trước thời Thái Cổ. Vị ấy biết trời đất, cỏ cây, côn trùng, cá, chim, thú; khiến người ở trong tổ huyệt, tích trữ thịt chim thú, tụ tập quả cỏ cây, nên chín đầu trong thiên hạ đều quy phục. Hữu Sào là vị quân chủ đầu tiên. Khi động khi tĩnh, các nhóm đều tụ họp, tôn kính phụng sự. Thọ một Thái Dịch, vốn là hậu duệ của Thông Tính thị. Toại Nhân thị là con Hữu Sào, sinh ra đã thần linh, dạy người nấu ăn, khoan cây lấy lửa; các loài sinh linh trong thiên hạ tôn kính phụng sự. Bắt đầu có chợ giữa ngày để trao đổi vật phẩm, có đài truyền giáo, có phép trị bằng dây thắt nút. Thọ một Thái Dịch, vốn cũng là hậu duệ của Thông Tính thị.Phục Hy thị là con của Toại Nhân. Sinh ra nhờ gió nên lấy họ Phong. Cuối Giáp, tám Thái đã thành; sau ba mươi hai lần cỏ cây biến Dịch, vào tháng cỏ sinh, ngày mưa xuống, sông tràn. Khi ấy long mã mang Hà Đồ, dường như chia thành năm màu; văn mở ra Ngũ Dịch, tượng Giáp là Sùng Sơn. Thiên Hoàng bắt đầu vẽ Bát quái, đều là Liên Sơn, đặt tên là Dịch. Quân, thần, dân, vật, âm, dương, binh, tượng bắt đầu sáng rõ trong đời. Sau khi đồ xuất hiện, qua thêm hai lần thành và ba mươi hai lần cỏ cây biến Dịch; vào tháng cây khô, sai bề tôi Phi Long làm Lục Thư. Sau một lần cỏ cây biến Dịch nữa, vào tháng cây thịnh, sai bề tôi Tiềm Long làm lịch Giáp. Phục Hy chế tạo trâu tế, luyện kim làm khí cụ, dạy dân nấu ăn.Ngài biến chín đầu của Dịch thành chín mục, lấy sự tôn kính phụng sự làm lễ nghi, nhân rồng xuất hiện mà ghi chép quan chức, nhân gió đến mà làm nhạc. Sai Hạ thuộc Giáng Long thị thống lĩnh muôn dân; sai Thủy Long thị trị bình thủy thổ; sai Hỏa Long thị nấu và chế tạo khí dụng; nhân việc cư trú theo phương mà dựng thành quách. Dân trong thiên hạ gọi là Thiên Hoàng, Thái Hạo, Phục Hy, Hữu Bào, Thăng Long thị; vốn là hậu duệ của Thông Tính thị.
Hoàng Sách Từ của Thiên Hoàng Phục Hy thị
Thuở xưa, Thiên Hoàng ở ngôi quân chủ, hỏi các tướng, hỏi các tướng tá, hỏi dân, rồi ban lời Hoàng Sách.Hoàng nói: “Ta sinh ra không có đạo, kế thừa nơi cư trú theo phương của cha, sau ba mươi hai lần cỏ cây biến Dịch thì lên ngôi quân chủ. Cha ta là Toại Hoàng quy thế, nhưng chưa giáng Hà Đồ; sinh dân thắt dây mà không ai không tin. Cuối Giáp, tám Thái đã thành; sau ba mươi hai lần cỏ cây biến Dịch, chỉ mình ta đã đến cực già. Người mang họ sinh ra đông đảo, các nhóm tụ lại như côn trùng, muốn nuốt hại lẫn nhau. Trời chí nhân, vào tháng cỏ sinh, mưa trời đổ xuống sông, long mã mang đồ, thần khai mở lòng ta. Khi con ta chưa sinh, ta vẽ Bát quái, từ trên xuống dưới đều được yên ổn.”Sau đó qua hai lần thành và hai mươi hai lần cỏ cây biến Dịch, Hoàng nói: “Sai con ta là Tương ở ngôi Phi Long của ta, coi việc đồ văn của ta, thay ta hỏi các phương trên dưới, không được có tư tâm.” Tương nói: “Tất cả đều hợp với lời hỏi chúng. Xin quân chớ lo nghĩ.” Sau một lần cỏ cây biến Dịch, Hoàng nói: “Sai con ta là Anh ở ngôi Tiềm Long của ta, coi lịch Giáp âm dương của ta, hỏi các phương trên dưới, không được sai sót.” Anh nói: “Theo phép ấy cũng là thuận. Xin quân chớ lo nghĩ.” Hoàng nói: “Vô vi.” Sau hai mươi hai lần cỏ cây biến Dịch, Hạo Anh thị dâng lịch lên quân, nói: “Lịch bắt đầu từ Giáp Dần.” Hoàng nói: “Ngày Giáp, giờ Dần, hãy tụ tập dân chúng tại Đài Truyền Giáo, báo cho dân biết và chỉ rõ Giáp Dần là khởi đầu.”Tháng hai của Dịch, Thiên Vương lên Đài Truyền Giáo, tập hợp sinh dân, từ con cháu Nữ Oa trở về sau, xếp đặt không phân biệt lớn nhỏ của các bậc thần công. Hữu thượng tướng là Cộng Công, hạ tướng là Hoàng Hoàn. Chu Tương thị thuộc Phi Long và Hạo Anh thị thuộc Tiềm Long ở bên trái bên phải quân chủ. Lật Lục thị ở phương bắc, Hách Tư thị ở phương nam, Côn Liên thị ở phương tây, Cát Thiên thị ở phương đông, dân Âm Khang ở phía dưới. Mục chín châu mỗi người thống lĩnh nhóm dân của mình, ở bên ngoài. Hoàng nói: “Này Cộng Công, thượng tướng của ta, ta hỏi ngươi. Ta đã đến cực già, thực hành vô vi. Ngươi phải giúp chính đạo của ta, báo cho dân biết, khiến họ hiểu lịch Giáp. Nhật nguyệt tuế thời từ đây bắt đầu; không được để điều gì không được ghi chép. Ngươi chớ lười biếng.”Công Công nói: “Thần ở ngôi quân thần mà chưa lập được công lao nào, xin bệ hạ ghi nhớ điều ấy.” Hoàng đế nói: “Hoàng Hoàn, quan Hạ tướng, ta đã già và đạt đến cực điểm của vô vi. Khanh hãy nâng đỡ ta, giữ đạo chính, yêu thương vỗ về dân chúng, cùng dốc sức bàn bạc và truyền đạt cho dân, khiến họ biết lịch Giáp. Ngày, tháng, năm và thời tiết hãy bắt đầu từ nay; chớ để điều gì không được ghi nhớ. Khanh chớ lơ là.” Hoàn nói: “Thần ở ngôi quân thần mà chưa lập được công lao nào, xin bệ hạ ghi nhớ điều ấy.” Hoàng đế nói: “Lật Lục Tử, khanh ở ngôi Rồng Nước của ta, cai quản việc nuôi dưỡng cỏ cây và khai thông nguồn suối. Chớ để lỡ thời tiết, khanh chớ lơ là.” Lục nói: “Thần sẽ dốc hết sức vì dân, xin bệ hạ ghi nhớ điều ấy.”Hoàng đế nói: “Đại Đình cai quản nhà cửa của ta. Hãy giải thích cho những người dân chưa có chỗ ở, mượn sức họ cùng dựng nơi cư trú, chớ để ai chịu rét cóng.” Đình nói: “Thần xin thuận theo lời dân.” Hoàng đế nói: “Âm Khang Tử, khanh ở lĩnh vực thủy thổ, khiến dân có nơi cư trú, không bị trôi dạt. Hãy siêng năng khai thông đạo lối, thông đạt đến người bên dưới.” Khang nói: “Thần xin thuận theo lời bệ hạ.” Hoàng đế nói: “Hỗn Độn, khanh ở ngôi Giáng Long của ta, chỉ chuyên cai quản dân.” Hoàng đế nói: “Côn Liên Tử cai quản đao búa của ta. Chớ để dã thú, hổ tế sinh và những loài tương tự làm tổn thương hay tàn phế sinh mạng; chớ để những kẻ cùng loại có sức mạnh xua đuổi, áp bức kẻ yếu. Khanh hãy khuất phục chúng.” Liên nói: “Thần xin chuyên trách việc binh, bệ hạ chớ bận tâm.”Hoàng đế phán: “Các quân vương bốn phương đều thuận theo lời ta, thì đời không có mối hại; chỉ cần yêu thương dân, ngôi vị ắt không nguy.” Hoàng đế phán: “Ngươi chớ ôm lòng cầu an cho riêng mình, chỉ nên làm cho dân được an. Dân an thì ngươi an, dân nguy thì ngươi nguy; ngươi hãy ghi nhớ điều đó.”
Mộ khí—Nhân Hoàng Thần Nông thị—Quy Tàng Dịch
Đại tượng của hào quái:
Khí trời trở về: trở về mà định vị chỗ tàng ẩn, trở về sinh hồn, trở về trong động mà cưỡi thuyền, trở về làm trưởng huynh, trở về nuôi dưỡng và tạo vật, trở về trong tĩnh mà ở trong cõi, trở về trong sát mà giáng phục.
Khí đất tàng ẩn: tàng mà quy về giao, tàng mà sinh Mão, tàng trong động là chuột, tàng làm trưởng tỷ, tàng mà nuôi dưỡng và hóa vật, tàng trong tĩnh là cửa kép, tàng trong sát là trộm.
Khí Mộc sinh: sinh quy, sinh tàng hại, sinh động là công Dương, sinh trưởng là nguyên thai, sinh dục là trạch, sinh chỉ là tính, sinh sát là tương khắc.
Khí Phong động: động quy, động tàng là thừa hiên, động sinh cơ, động trưởng là phong, động dục là nguyên, động chỉ là giới, động sát là ngược.
Khí Hỏa trưởng: trưởng quy theo thầy, trưởng tàng theo chồng, trưởng sinh chí, trưởng động là lệ, trưởng dục trái Đạo, trưởng chỉ là bình, trưởng sát thuận tính.
Khí Thủy dục: dục quy mà lưu, dục tàng là hải, dục sinh ái, dục động là ngư, dục trưởng là mầm, dục chỉ là dưỡng, dục sát là gia súc.
Khí Sơn dừng: Dừng quy về ước thúc; Dừng tàng vực sâu; Dừng sinh hình mạo; Dừng động để cứu tế; Trưởng thành cây cỏ; Dừng dưỡng bằng nhuận; Dừng sát bằng khoan dung tha thứ.
Khí Kim sát: Sát quy về tử thi; Sát tàng mộ; Sát sinh vô nhẫn; Sát động can qua; Sát trưởng thành chiến; Sát dưỡng không gây thương; Sát dừng loạn.
Chính điển của Nhân Hoàng Thần Nông thị
Chính điển nói: “Chỉ Trời sinh dân, chỉ Quân phụng sự Trời. Ăn uống, tang tế, y phục, giáo hóa, tất cả đều quy về chính sự.” Hoàng đế nói: “Ta sinh ra không có đức, hãy cùng theo chính sự thời xưa. Than ôi các vua bốn phương! Các khanh có quan chức, có sự nghiệp; là con, là cha, là anh, là em; chớ làm loạn chính sự.”Thuở xưa, hai vị quân chủ mới bắt đầu làm vua, chưa có thư khế, bèn trị nước bằng cách thắt nút dây, nhờ giao dịch mà sinh sống, cũng chỉ quy về việc trị chính. Thuở xưa, dưới thời Thiên Hoàng, mới bắt đầu sửa sang văn giáo, bắt đầu vẽ Bát Quái, làm sáng tỏ tượng của quân thần, dân vật, âm dương và binh sự, để thay cho nền chính trị thắt dây. Phát ngôn chỉ dùng lời, chế tạo khí cụ chỉ dùng tượng, hành động chỉ dùng biến, bói toán chỉ dùng chiêm. Thị tộc Thiên Hoàng quy về khí; ta chỉ thay việc trị chính, theo Đạo xưa mà lập chính. Hoàng đế phán: “Chỉnh đốn thời trời, nương theo lợi đất, chỉ nên hậu đãi dân. Dân là gốc của nước, lương thực là trời của dân. Nông nghiệp không chính thì lương thực không phong phú; dân không chính thì nghề nghiệp không chuyên nhất. Dân có số, lương thực có tiết, nông nghiệp có giáo.”Đối với muôn dân sinh sống, chớ làm rối loạn chính điển. Chính điển nói: Đạo đúng đắn của quân vương là một; hai hay ba thì hung. Đức đúng đắn của bề tôi là một; thì có điềm lành thường có. Thời đúng đắn chỉ có bốn; thời rối loạn thì không trồng trọt được. Khí đúng đắn chỉ là hòa; khí rối loạn thì sinh ra dịch bệnh. Quan đúng đắn chỉ có một trăm; dân đúng đắn chỉ có bốn; sắc đúng đắn chỉ có năm; chỉ chất thật chỉ tốt lành. Bệnh đúng đắn có bốn trăm bốn; thuốc đúng đắn có ba trăm sáu mươi lăm. Vượt quá số ấy bèn loạn, mà u mê mà độc hại. Đạo đúng đắn chỉ là thường; vượt quá chính sự lại thành tà lệch. Hình phạt đúng đắn là công bằng; vượt quá chính sự lại thành tư lợi. Bổng lộc đúng đắn là đầy đủ; vượt quá chính sự lại thành xa xỉ. Lễ đúng đắn là chừng mực; vượt quá chính sự lại thành tiếm vượt. Nhạc đúng đắn là hòa hợp; vượt quá chính sự lại thành trôi dạt phóng túng. Trị vì đúng đắn là đơn giản; vượt quá chính sự lại thành hỗn loạn. Tang lễ đúng đắn là đau thương; vượt quá chính sự lại thành chơi bời dạo chơi.Can qua chính là để dẹp loạn; vượt quá chính sự thì trở nên nguy hiểm. Thị tứ chính là để giao dịch hàng hóa; vượt quá chính sự thì thành tà. Chê trách và cấm chế chính là để sửa điều sai; vượt quá chính sự thì mất công dụng. Hoàng đế nói: “Than ôi, các khanh có quan chức, có sự nghiệp, là con, là cha, là anh, là em; hãy đều thuận theo lời ta, tất cả quy về chính.” Hoàng đế nói: “Quân tin dùng phải lấy chính; tướng quân phải lấy trung; quan lại cùng cai trị phải lấy công; quan thay nhau giữ ngôi phải lấy cần; quan phủ dụ yêu dân phải lấy nhân; quan và dân phụng sự bề trên phải lấy nghiệp. Cha không bất nghĩa thì con hiếu. Anh không bất hữu thì em cung kính. Chồng không du đãng, vợ không dâm loạn, thầy không lười nhác, giáo hóa không sai mất. Hình là hình thể, làm khuôn cho thân khanh. Đạo là dẫn dắt, dẫn dắt chí hướng khanh.”Lễ là chế, chế ngự tình cảm của khanh. Nhạc là hòa, hòa hợp tiếng nói của khanh. Chính là chính, sửa cho sự việc ngay chính.
Hình Phần, Địa Hoàng Hiên Viên thị, Càn Khôn Dịch
Đại tượng của hào quái:
Hình Càn là Trời: Thiên Địa giáng khí; Nhật Thiên là trung đạo; Nguyệt Thiên là đêm sáng; Sơn Thiên cong lên; Xuyên Thiên cong xuống; Vân Thiên thành âm; Khí Thiên tập mông.
Hình Khôn là Đất: Thiên Địa là gò tròn; Nhật Địa là cung tròn; Nguyệt Địa nghiêng cong; Sơn Địa là đường hiểm; Xuyên Địa rộng phẳng; Vân Địa là rừng cao; Khí Địa thấp ẩm.
Hình Dương là mặt trời: trời là sự sáng tỏ của mặt trời, đất là cảnh sắc theo mặt trời, trăng theo mặt trời từ ngày sóc, núi chìm về tây theo mặt trời, sông chảy ánh sáng, mây che mặt trời, khí ngày ngày kết bọc.
Hình Âm là mặt trăng: trời là sự quá độ của trăng, đất là ánh sáng ẩn của trăng, nhật nguyệt thay nhau chiếu sáng, trăng trên núi vút lên, trăng trên sông nổi về đông, mây giấu cung trăng, khí là âm u tối.
Hình Thổ là núi: trời là núi non, đất là đá bàn của núi, núi là đỉnh hiểm, trăng là đỉnh xiên của núi, sông là đảo của núi, mây là hang núi, khí là đá núi.
Hình Thủy là sông: trời là Ngân Hà, đất là sông, mặt trời là hồ của sông, mặt trăng là ao cong của sông, núi là khe suối của sông, mây là suối của sông, khí là nguồn của sông.
Hình Vũ là Vân: Thiên Vân là tường; Địa Vân là tuyết vàng; Nhật Vân là mây đỏ; Nguyệt Vân là mây văn trắng; Sơn Vân là núi chồng; Xuyên Vân chảy; 1; Khí Vân tản sắc.
Hình Phong là Khí: Thiên Khí rủ khí mờ; Địa Khí bốc hơi; Nhật Khí vây ban ngày; Nguyệt Khí tròn ban đêm; Sơn Khí phủ khói; Xuyên Khí nổi ánh sáng; Vân Khí chảy thành văn [chữ nguyên có bộ vũ ở trên, chữ chương ở dưới].
Chính điển của Địa Hoàng Hiên Viên thị
Hoàng đế nói: “Than ôi, Thiên sư, tướng, Ngũ chính, trăm quan, sĩ tử, nông phu, thương nhân, thợ thủ công kỹ nghệ, tất cả hãy thuận theo lời ta.”Điển chế nói: Nước không có tà giáo, chợ không có hàng dâm loạn, đất không có ruộng hoang, quan không có kẻ sĩ lạm quyền, ấp không có dân du thủ, núi không trọc, đầm không cạn; như vậy chính đạo đã đạt đến tột cùng. Chính đạo đạt đến tột cùng thì quan có chức thường, dân có nghề thường, cha con không phụ ân, vợ chồng không phụ tình, anh em không bỏ nghĩa, cầm thú không mất kẻ đứng đầu, cỏ cây không mất sự sống. Điển chế nói: Vuông tròn góc thẳng, cong xiên lõm lồi, ắt đều có hình. Xa gần cao thấp, dài ngắn nhanh chậm, ắt đều có chế. Lạnh nóng khô ẩm, gió mưa nghịch thuận, ắt đều có thời. Kim Mộc Thủy Hỏa, đất đá lông vũ, ắt đều có chỗ dùng.Vải vóc, dâu gai, gân sừng, răng da, ắt đều có công dụng. Khí cụ đồ dùng của trăm nghề, ắt đều có chế độ. Thánh nhân trị thiên hạ: quyền dùng để tụ tài, tài dùng để thi trí, trí dùng để nuôi người hiền, hiền dùng để phụ trợ Đạo, Đạo dùng để thống nhất kẻ dưới, không dùng để phụng sự người trên; người trên dùng để thi nhân, nhân dùng để giữ ngôi, ngôi dùng để chế nghĩa, nghĩa dùng để··lễ, lễ dùng để chế tình, tình dùng để làm dày lòng tin, tin dùng để nhất thống đức, đức dùng để làm sáng hạnh, hạnh dùng để tôn giáo, giáo dùng để quy về chính, chính dùng để tôn hóa, hóa dùng để thuận tính, tính dùng để giữ mệnh, mệnh dùng để bảo sinh, sinh dùng để trọn tuổi thọ. Hoàng đế phán: “Thiên sư Kỳ Bá, ngươi cai quản nhật nguyệt tinh thần, âm dương và lịch số.”Ngươi hãy chính trực trong việc sửa mình và sửa cha, chớ có sai lệch hay dung túng. Kẻ đi trước thời điểm thì giết, kẻ không kịp thời cũng giết; ngươi phải răn dè. Hoàng đế phán rằng: Hậu Thổ, hãy trung chính. Ngươi hiểu núi sông, cỏ cây, côn trùng, cá, chim và thú. Hãy nắm giữ chức trách và xét soi, chớ làm rối loạn chế độ ruộng đất mà gây ra kiện tụng về ruộng. Ngươi phải ghi nhớ. Hoàng đế phán rằng: Rồng phương Đông, hãy chính trực. Ngươi hãy phân chia tước lộc cho người hiền và người trí. Hãy tham vấn và hành xử đúng đắn; chớ che giấu bậc đại hiền vì tham của cải, chớ che chở kẻ có đức hạnh xấu vì tư lợi riêng. Hoàng đế phán rằng: Dung phương Nam, hãy chính trực. Ngươi hãy điều hòa lễ phục và việc tế tự. Ngươi chỉ cần chính trực; chớ làm loạn chế độ quốc gia để lấn át bề trên, chớ phế bỏ việc tế tự vì giản lược lòng cung kính. Ngươi phải ghi nhớ. Hoàng đế nói: “Thái Phong, Tây Chính, khanh phân chia can qua, hình pháp; hãy nắm giữ và xét xử công bằng.” Hoàng đế nói: “Thái Thường, Bắc Chính, khanh cai quản chế độ ruộng đất và việc dân; hãy giáo huấn và làm cho bình quân. Trăm nghề phải tốt, núi sông hãy để khanh vẽ bản đồ. Khanh hãy siêng năng cung kính.” Hoàng đế nói: “Thiên sư, phụ tướng, Ngũ chính, trăm quan, sĩ tử, nông phu, thương nhân, thợ thủ công kỹ nghệ, tất cả hãy thuận theo lời ta, trọn đời hưởng yên vui.”
Hậu tự sau phần kết Cổ Tam Phần
(Ẩn sĩ cuối đời Đường)
“Truyện” nói: “Hà Đồ” ẩn vào đầu đời Chu, “Tam Phần” mất vào thời U, Lệ, “Lạc Thư” bị thiêu khi Tần mất; đạo trị thế không thể thấy lại. Từ giữa niên hiệu Thiên Phục, ta ẩn cư phía tây Thanh Thành. Nhân gió mưa, đá nứt ra, bên trong có một hộp đá, được ba thiên cổ văn. Bìa rách, thẻ tre rời rụng, đều là chữ triện, chính là sách của Tam Hoàng thời thượng cổ.
Bản “Hán Ngụy Tùng Thư”